Thơ anh viết và đăng đầy trên mạng
Từ quét-sai, đến bờ-lóc, pho-rum
Thế giới ảo, nơi nơi đều thương mến
Chỉ riêng em, không thích, mắng anh "khùng"
Chắc có lẽ, anh là người mơ mộng?
Xem sự đời như những bóng phù du
Coi vật chất là tầm thường hơn cả
Và thế gian giống với cảnh ngục tù
Thói rãnh rỗi chui đầu vào chữ nghĩa
Học thanh cao, ruồng bỏ trách nhiệm mình
Và trốn chạy những lời em phán xét...
Để giờ đây, ai hiểu cảnh điêu linh?
PD
Đã mấy trăm năm qua, Thi Ẩm Trấn luôn đìu hiu tĩnh lặn, có đôi lúc ồn ả nhưng rồi nhanh chóng trả về vẻ yên tĩnh vốn có của nó.
Một ngày kia, có một vị Đại Tiện đi qua nơi này, nhìn thấy non nước hữu tình, cây cối tốt tươi, người người ai cũng toát lên Tiện khí mà vẫn không mất nét văn nhân, cho là nơi Địa Lu Nhân Tiện, bèn lấy làm chỗ dừng chân. Mở Lập Đê Tiện hội, chiêu binh mãi mã rầm rộ thống lãnh cả Quần lài…ai ai cũng biết. Y tự xưng là Ngạo Thế Cuồng Sinh, văn phong siêu thoát, thân thủ nhanh nhẹn, đê tiện hơn người.
Nhắc đến Ngạo thì phải nhắc đến hai chữ: Nhảm và Gió. Nhảm thì ai cũng biết là gì rồi, còn Gió?
Gió có nhiều loại: gió bấc, gió lào, gió đông nam…nhưng gió trong thơ của Ngạo là gió tai mới ác chứ. Thế nên, một chiến hữu của Ngạo Thế đã có thơ thế này khi nói về cái gió ( Có…d…) của anh:
Thưở trời đất nổi cơn đê tiện
Có một chàng thích luyện gió tai
Ngắn mà lại chém thành dài
Chính danh Ngạo Thế hiển oai một vùng
Vâng, nói như thế không ngoa, khi mà làn gió đê tiện tới đâu, cỏ cây không mọc được đến đó. Ví dụ như bốn câu thơ này trong quán tương tư:
Em về theo lá thu bay..
Mông mênh áo tím gió mây lìa ngàn..
Nặng nợ..liễu khóc quan san..
Sầu che mắt biếc..cung đàn tương tư..
(Quán Tương tư)
Chỉ bốn câu thơ thôi đã toát lên vẻ đê tiện hằn in trong mắt y, hãy tưởng tượng giữa khung cảnh hữu tình, gió thổi lá bay xào xạc, một em đi về mặt cái áo tím hơi rộng “mông mênh”, mà rộng như thế, trong ngọn gió…tai ác như thế thì sự cố lộ hàng không thể tránh khỏi, và y , con người đê tiện của y lập tức cảm hứng, cái đê tiện như cái thơ của nó phun trào ra đến độ “Khóc quan san..”,hay nói trắng ra là khóc ngoài quan ải, mà khóc rồi thì làm gì được nữa, nên y chỉ đành để sầu che mắt biếc, cũng đành tương tư mà thôi.
Phải nói rằng thơ Ngạo là gió, gió gắn liền với thơ Ngạo, nên ta có thể nhìn thấy hình ảnh gió xuyên suốt từ đầu đến cuối những bài thơ của y: Đường xưa lá rơi vàng..
Bến cũ vấn hồn hoang..
Cánh én chao trong gió..
Dường như sắc hạ tàn..
(nghịch ngợm sắc màu)
Một đặc điểm của thơ ngạo thường hay bắt đầu với khung cảnh, khung cảnh nên thơ, cảnh con đường với lá vàng bay, rồi y lại nhớ bài lai, nhớ ngày cánh én, cụ thể là 1 loài chim nào đó (đang nhớ bài lai mà) chao trong gió, sau khi chao mỏi rồi, thì “sắc hạ tàn”. Sắc ở đây mà màu sắc, hạ là nâng lên hạ xuống, tàn là đoản, tức là ngắn lại. Có thể hiểu đoạn thơ trên, trong khung cảnh đó, sau khi chú chim chao với gió…tai mệt mỏi thì dường như yếu dần đi, sắc màu xỉn lại và hạ xuống, ngắn dần lại….
Gió trong thơ Ngạo đôi khi là những tiếng nỉ non, năn nỉ. Một cách chạy làng bay bướm. Như trong bài : Về đi
Về đi..
Con gió hững hờ..
Bờ lau..
Bãi sậy..
Vần vơ rũ sầu..
Thinh không..
Vọng tiếng kinh cầu..
Hong đời ..
Trãi nắng..
Bể dâu vận thời..
Sau cơn gió dập mưa dồn ở bờ lau bãi sậy, cơn gió giờ đã hờ hững. Y bèn quay qua tụng kiểu tụng kinh năng nỉ người tình về đi, đời nó đầy bể dâu đấy em ơi. Và như để tăng thêm độ rên y viết: Về đi..
Bạt gió trùng khơi..
Buồm dong biển nhớ..
Thả lời nỉ non..
Và có lẽ cô gái vẫn chưa chịu về, y tiếp: Về đi ..
Hồn gió xa bay..
Đuối trên bờ ngực..
Căng đầy..
Tầm hoang.
Ý nói giờ y đã đuối rồi, hồn gió đã xa bay rồi, chả làm ăn gì được nữa đâu.
Và cuối cùng, khi cô gái vẫn kiên quyết không về, y hăm dọa : Về đi..
Tim gió vô thường..
Khẩn cầu một nén..
trầm hương..
Nguyện thề..
Tang bồng vũ khúc ..
Đê mê..
Diễm tuyệt tình Cỏ ..
Gió.. về..
Vô Ngôn..
Giờ thì ta đã thấy bộ mặt đê tiện của y, một đại tiện lừng danh trên chốn giang hồ. y bảo y vô thường lắm, man man lắm, không về thì coi như y thấp nhang y lạy luôn, rồi thì từ đây chẳng còn gì để nói với nhau nữa, “gió về…vô ngôn” luôn.
Chẳng biết sự việc giải quyết đến đâu, y sẽ đối phó thế nào với cô gái Chúng ta tiếp tục với đề tài Gió….Cái đê tiện của y là trong gió luôn có hình ảnh hoặc là khai cuộc, trung cuộc hay tàn cuộc của một cuộc mây mưa. Như trong bài này, y tả về một thế khai mào trong thuyền ân ái:
Gió xuân dặt dìu ..mặt hồ trong..
Mây soi bóng nước ..một ráng hồng..
Lan hài toả ngát sương móc đọng..
Tiêu Cầm hoạ khúc vọng thinh không.
(Tình Gió)
Ngay cái câu đầu, y đã dạo mào rất khéo léo bằng cách thổi một hơi vào “mặt hồ trong”, rồi tìm thấy trong cái “mặt hồ trong” đó, có “một chúm hồng“, rồi khi mà hồ nó “tỏa sương” thì y “móc đọng”. Và rồi thì y mới dùng tới khúc tiêu của mình để tấu lên khúc í e..vang động cả thinh không. Phải nói nếu các sách vở trên lauxanh.us có diễn tả chi tiết hơn thì cũng đến thế là cùng. Đây là kỹ thuật tối thượng của đê tiện hội mà không phải ai cũng ngộ được.
Cái khỉ “Gió” trong thơ Ngạo thế, ấy vậy mà đôi khi phóng túng không thể tả Ôi Nguyệt Hương.. Nguyệt Hương..
Reo rắc mầm yêu thương..
Để vu vơ hồn Gió ..
Đắm trong cõi vô thường..
(Những vần thơ bất chợt)
Chỉ mấy câu thôi, mà y đã cho thấy sự đê tiện, hết nàng ở bờ lau bãi sậy, tới nàng Cỏ trong tình gió, giờ thì tới Nguyệt Hương, chẳng biết quen nhau bao lâu mà y đã “Reo rắc mầm yêu thương” để rồi “vu hồn gió” mà vào cõi vô thường. Nếu ai biết lái thì biết y làm gì lúc ấy với “vu hồn gió” rồi. Quả là đê tiện quá thể. Và chả biết cô kia có bị dính ..khi mà y “reo rắc mầm yêu thương” bừa bãi thế không!
Có đôi khi Gió trong thơ Ngạo thổi bùng lên ngọn lửa xúi bậy một cách đê tiện:
Em về đốt gió tương tư..
Đốt luôn sắc trắng vô tư thuở nào ..
Đốt buồn cháy sém nụ đào ..
Đốt luôn tình tự ..lời trao gió chiều ..
Ta về đổ bóng tịch liêu..
Chỉ còn bóng Gió loan chiều hoàng hôn ..
(Đốt gió)
Có thể y đã xúi cô nào đó về đốt hết đi,đốt cháy cả cái tương tư, đốt cái sắc trắng…mà sắc trắng vô tư mới ác chứ, đó là sự hồn nhiên để biến một cô gái ngây thơ thành con mẹ đanh đá, vậy mà y xúi cho đốt đi, đốt cho “cháy xém nụ đào”, cho cái nụ đào nó xám đen lại. Chài..đê tiện quá thể. Rồi y phi tang bằng cách xúi: “ đốt luôn tình tự lời trao gió chiều”. Và sau khi xúi xong thì y có thể phủi tay: “ Chỉ còn bóng Gió (là y) loan chiều hoàng hôn.
Gió trong Ngạo lúc nào cũng đê tiện, nhưng không phải cứ đê tiện là có gió. Đôi khi chỉ tương tư , nghĩ tới gió thôi, y cũng đủ đê tiện rồi: Sóng nước triều dâng sóng cuộn trào..
Cánh bèo trôi dạt,dạt phương nao..
Ngư ông thả lưới buông cần lỏng..
Nguyệt mãn tương tư suối lệ chao
(Rượu quán)
Có thể thấy hình ảnh của rất tội nghiệp. Trong những lúc hứng tình, “Nước dâng, sóng cuộn trào” rạo rực, y nghĩ tới những cánh hồng qua đời mình, giờ chẳng biết như bèo trôi nơi nào. Buồn tình, y làm ngư ông, khẽ buông cần, tưởng tượng mấy nàng một lúc…và “suối lệ trào”. Ta có thể thấy trình độ tự sướng của y đã đạt đến tầm thi ca, có gió mà như không có gió. Đó chỉ là những cơn bão lòng cho sóng cuộn thế thôi!
Từ đầu bài viết, ai cũng biết cái tài đê tiện của Ngạo qua lời gió. Nhưng đó chỉ là những cơn gió thải nhè nhẹ so với cơn Đại Phong trong bài Nhất Thất Lệnh – Phong này:
Phong
Vô định.Bất tòng
Cuộn hình hổ.Tung dáng rồng
Bỏng rát Hạ chí.Thu phân ấm nồng
Thốc từng cơn chao đảo.Lùa tha thướt bên song
Buồn rầu lật tung cội rễ.Giận dữ xé nát thinh không
Lãng Du cùng mây hoà sương trắng.Miên man với nắng vương má hồng
(Nhất thất lệnh-Phong)
Có thể thấy đó là đỉnh cao của sự đê tiện. Của đề tài Gió- Đê Tiện và thi ca. Cả trong thể loại cổ thi khó nhắn này mà Ngạo Đại Tiện đã lồng tính chất triết lý sâu xa vào đó:
Phong, ai cũng biết phong là gió, vũ là mưa. Nhưng một một nghĩa nữa, Phong còn có nghĩa là Phong độ. Mà câu sau càng thể hiện rõ :
« Vô định, bất tòng » . chứng tỏ Ngạo giờ phong độ không còn ổn định nữa, không phải lúc nào « muốn là có thể » và cũng vì cái tính vô định đó, mà y lắm khi « cuộn hình hổ » nói hổ cho oai chứ thật ra thì phong của y nó co ro như con mèo thôi. Đôi lúc nó phựt lên như đèn dầu sắp cạn lóe cái ánh sáng cuối cùng mà « tung dáng rồng »
Như đã nói, đây là đỉnh cao của sự nghiệp đê tiện, nên khi rồng lộn dáng lên, thì y làm cho « bỏng rát hạ chí » , chí ở đây là đỉnh, ví như đông chí, tức là ngày lạnh nhất mùa đông, Hạ ở đây không phải là mùa Hạ, mà là chỗ thấp nhất. « Bỏng rát hạ chí » tức là y làm chỗ thấp nhất bỏng rát. Mà tại sao bỏng rát, tại vì con rồng của y không tung như tự nhiên, mà tung vào chỗ « Thu phân ». Chài, đê tiện thật ! Vậy mà trong khi bỏng rát, y lại tìm thấy cái ấm nồng từ phân Thu mới ghê chứ ! Cái cách hành văn của y tượng hình không thể tả, y « thốc từng cơn » rời lại lùa tha thước. Quả là nâng đê tiện lên tầm nghệ thuật. và ở câu gần chót, ta có thể thấy cái « phong » của y nó trở trời và bạo da^m tới thế nào khi mà y buồn thì bứt « cội rễ » giận thì xé thinh không !
Và cuối cùng khi xong chuyện, y đã vương sương trắng lên má hồng…cái cảnh này y hệt như trong các phim 3x mà em từng thưởng lãm. Phải nói mức độ đê tiện của bài cổ thi này vượt qua tầm của một bài thơ đê tiện bình thường, nó vừa nói lên cơn gió hừng hực và vừa nói lên thú tính của y trong hành sự ! Một bài thơ không nói quá có thể xếp đầu trong những bài thơ đê tiện nổi tiếng nhất mọi thời đại !
Gió, lại là gió, gió tai, gió đại, gió vù qua ngõ, và gió đã mơn man trên Thi Ẩm lâu, mang về sinh khí cho nơi này. Một luồng Tiện khí kèm theo đó miên miên bất tuyệt. chúng ta nghiêng mình trước một Tiện Thi Hào, anh Ngạo Thế Cuồng Sinh. Người đã sinh ra dòng thơ mới, Thơ Đê Tiện ! Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng sự nghiệp đê tiện do anh xây nên sẽ trường tồn mãi mãi!. ./.
Nhà thơ Bùi Giáng (1926-1998).
Có lẽ những người yêu thơ Việt Nam vẫn còn nhớ ngày này cách đây 5 năm (7/10/1998), thi sĩ Bùi Giáng của chúng ta đã trút hơi thở cuối cùng ở Sài Gòn. Bùi Giáng, không chỉ là nhà thơ, mà đi xa hơn, ông chính là hiện thân của một "đạo thơ", một "thi sĩ sinh ra giữa cỏ cây và sẽ chết đi giữa cỏ cây ly kỳ gây cấn"...
Sự nghiệp của Bùi Giáng tỏa rộng qua nhiều lĩnh vực, từ thơ, nghiên cứu phê bình, bình giảng, làm báo và dịch thuật. Nhưng có thể khẳng định thơ đã "can thiệp", xuyên suốt và xuyên thấu qua hết mọi địa hạt của ông. Nói cách khác, cái lõi của vấn đề Bùi Giáng là "lõi thơ". Không những Bùi Giáng dịch hay như làm thơ (tiêu biểu là các cuốn Ngộ nhận, Hòa âm của điền dã, Hoàng tử bé)... mà ông viết nghiên cứu cũng dào dạt mê cuồng như làm thơ (Tư tưởng hiện đại)... Ông lấy "thi tưởng" để "quán" hết mọi lẽ trong hành động. Vì thế mới có những nhận định về Bùi Giáng theo kiểu như của nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, đó là "ngủ ra thơ, thở ra thơ, đi ra thơ, đứng ra thơ".
Điều tôi quan tâm ở thơ Bùi Giáng cũng là thái độ về lẽ biến hóa, vô thường đó. Ông là người kết hợp được những lý lẽ uyên áo, trầm mặc của tinh thần phương Đông với triết lý thực nghiệm, thực dụng của phương Tây nên càng về cuối đời, thơ Bùi Giáng càng có những cuộc đảo lộn dữ dội về ngôn ngữ, lật nhào cả những hệ thống quan điểm thơ mà gần như cả một đời ông xây dựng. Từ cái thuở tinh khôi và căn nguyên như trong Mưa nguồn:
"Em về mấy thế kỷ sau
Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không?
Ta đi còn gởi đôi dòng
Lá rơi có dội ở trong sương mù."
cho đến khi xóa sổ, tung hê hết:
"Sài Gòn chợ Lớn rong chơi
Đi lên đi xuống đã đời du côn."
Triết lý trong cuộc chơi và kiếm tìm ngôn từ của Bùi tiên sinh cuối cùng chỉ còn lại mấy chữ "vui thôi mà!" cứ ngỡ rằng ai hiểu thế nào cũng được. Nhưng theo ý tôi, "vui thôi mà" đó chính là khát vọng và bi kịch của một thi sĩ đã "tuẫn nạn trên lộ trình của chữ". Dường như mỗi thi sĩ đích thực không thể lý giải hết khát vọng và sự có mặt của mình. Bùi Giáng viết:
"Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau".
Nhiều bài viết của các học giả cho rằng, ở văn học miền Nam một giai đoạn, nếu Phạm Công Thiện là đỉnh cao của trí tuệ thì Bùi Giáng chính là tinh hoa của trời đất.
Vì thế Bùi Giáng là kẻ hát rong giữa chợ đời hay kẻ vì yêu đời quá mà hóa điên, trở thành một gã cuồng khấu vô vọng? Không ai hiểu hết những con đường nào mà thi sĩ đã đi. Đường trần, đường thơ, đường định mệnh. Khi tôi biết Bùi Giáng và đến chơi với ông thì ông không còn đi rong nữa. Có lẽ ông đã thuộc lòng mỗi con đường, mỗi ngõ phố Sài Gòn. Ông dường như chỉ còn ngồi một chỗ trong căn nhà của một người cháu tên là Hoài trên đường Lưu Quang Định, quận Gò Vấp. Trên trán ông, lớp băng trắng vẫn còn thấm máu bởi những vết thương đời do những kẻ ít hiểu thi sĩ gây ra. Chỉ riêng hai con mắt vẫn sáng bừng như muốn nhìn thấu, muốn ôm trọn hết mọi cõi. Đến lúc ấy tôi mới hiểu hai câu thơ: "Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con".
Tất nhiên, ý thơ này là của Bùi Giáng chứ không phải của Trịnh Công Sơn. Cũng cần phải nói thêm, Trịnh Công Sơn đã từng sử dụng rất nhiều ý tưởng của Bùi Giáng cho nhạc của mình nhưng ít khi ông chính danh về điều đó. Ví như ý câu thơ "Từ khi trăng là nguyệt" vậy. Nhưng Bùi Giáng, theo chỗ tôi biết, chưa một lần có phản ứng về điều này. Đến khi Bùi Giáng mất, Trịnh Công Sơn là người đã khóc trên báo Thanh Niên số tưởng niệm Bùi Giáng. Trịnh Công Sơn viết đại ý, ngày còn sống Bùi tiên sinh đã có thơ tặng ông. Thơ viết rằng:
"Công Sơn trịnh trọng phiêu bồng
Thưa rằng thơ nhạc có ngần ấy thôi!".
Tôi có nhiều lần được tiếp xúc và gặp gỡ với Bùi Giáng nhưng không có một buổi trò chuyện nào ông chịu hết mình với tôi. Bùi Giáng rất hay nổi điên khi có một người nào truy bức ông đến cùng. Cho dù đó là thi ca hay học thuật. Tôi cho rằng ông tránh các cuộc va chạm nảy lửa và tàn khốc ấy với hai lý do: Một, cuộc đời ông quá đủ đầy như một minh chứng; và hai, ông không muốn tái lặp lại bất cứ một đặt đề, một định đề nào cho Nghệ thuật. Đi vào nó thì giống như đi vào "Sa mạc phát tiến". Ước mơ của ông là tung hê hết chữ nghĩa để nhảy múa và hát ca. Mang tinh thần Lão tử, hòng diễn giữa chợ đời hiện đại. Vì thế ở một góc chợ Bà Chiểu, hay giữa cầu Trương Minh Giảng, người ta đã từng thấy thi sĩ múa may quay cuồng hay "nhập đồng" phóng ào từ trên xích lô xuống diễn kịch, múa gậy vây giữa đám đông hồ hởi và cuồng nhiệt. Những hình ảnh thơ như thế sẽ không bao giờ còn nữa. Ông chính là "người thơ" cuối cùng của một thế kỷ và đã ra đi giữa một thời đại đang ngày càng xa vắng những tâm hồn và những tâm tình thơ.
Có ai đối ẩm rượu cùng thơ
Để hết năm canh gõ nhịp chờ
Để rượu không lưng bình chờ bạn
Để nàng trăng dạo khúc mộng mơ
Nói xong không thấy ai tiếp lời nàng thất vọng:
- Thui đi ngủ!
lão hvn chọc:
-hvn: ngủ đi, cấm nghe lén, chúng ta bắt đầu nói xấu nữ thi sĩ mới nổi danh này nhé, 2..3... !
lão Điên chữa:
Có ai đối ẩm rượu cùng thơ
Để hết năm canh gõ nhịp chờ
Hothiethoa chêm vào:
ngủ đi mộng vẫn bình thường
nhưng đừng lăn quá...lọt giường nha em
Chương trình mới khơi mào thì lão Điên rủ rê: Này cô tên gọi Minh Thi
Ra đây ta lấy cái ly làm đề
Tiểu Chiêu khích thêm: Một, hai, ba chén mê mê
Coi chừng cô hết đường về với thơ
Lão Điên lái sang đá luôn lão hvn:
Hôm nay thấy lão VN
Mới từ ở dưới nhang đèn hiện ra
rồi que giò lái luôn Minh Thy cô nương:
Minh Thi đang ngó đó mà -
Ai thích thì kiếm con ma về hù
lão Cafe sữa góp vui
Đôi lần thơ rượu với tri âm
Khắc khoải canh khuya khúc hồ cầm
Ngật ngưỡng nghêu ngao lời man dại.
Thoảng tiếng xa gần : Mấy thằng hâm !
Minh Thy cô nương đang định ngủ, mắt nhắm mắt mở đáp lời: Vừa nghe vang vọng tiếng ai
Giật mình dây mạng rớt đầy trước sân
Lão Điên không tha: Minh thi mới rớt mạng ra
May mà lai có Thiết hoa hứng dùm
Minh Thy:
Lão Điên chọc tiếp: MinhThi đang toát mồ hôi -
Chắc là nàng ấy đang ngồi trên đống than
Minh Thy tỉnh ngủ hẳn, đáp trả: Hứng chữ để rớt tùm lum
diennhat nhặt được nên dùng làm thơ
Tiểu Chiêu bên vực:
người thơ vừa mới chào làng,
sao các bác nỡ lòng phan dép cà?
Lão điên sợ hai nàng song kiếm hợp bích nên gỡ: Minh Thi chớ nói lơ ngơ -
Điên ta xếp chứ chứ mần thơ khi nào
nhưng lúc này bác hvn tham chiến: nãy mình nhậu dứi ánh trăng -
thấy cô Thy rớt mạng văng ra ngoài
Minh Thy chống chế với hvn: Trăng cao còn sáng rõ ràng
Gió lùa kẽ lá vào choàng lên vai
Rồi quay ra Điên Nhất mà rằng: Canh đầu chữ chạy lao xao
điên kia nhặt được bỏ vào mâm thơ
lão Điên không tha: Minh Thi con cái nhà ai -
Mà sao lại để trần vai giữa trời
Minh thy quay qua hvn trách: vn thấy rớt mạng hoài
vậy mà không đỡ còn quay qua cười
Nhiều lần nàng thanh minh: “Em là người về bổng nhớ”. Ấy vậy mà mình vẫn cứ thích gọi là “bóng nhỏ” mặc dù bóng ấy giờ đã là bóng cây khơ-nia huyền thoại!
Thôi thì xuyên suốt bài viết này, Thiết Hoa xin gọi với tên “Bóng Nhỏ” thay cho muoimuoixauxi , nguoivebongnho hay chieuphai nhé!
Cái tên bóng nhỏ được độc giả nhớ bởi nét duyên của nàng thơ, cái dáng liêu xiêu của “lơ lơ lời mình”, cái bóng đã ngã sang bên kia cuộc đời giữa chốn đầy bọn đê tiện và hầm hố. Chợt thấy bóng mình nhỏ nhoi quá, đơn côi quá…
chiều buồn
rót gió qua tay
theo trăm bóng nắng vàng lay lưng trời
ngó quanh phía chỗ tôi ngồi
thấy truân chuyên một nét cười hồng nhan
chiều buồn
nắn nót phiếm đàn
cung thương lỡ nhịp tình tang ơi hời
xin cho sầu rụng tơi bời
cho tôi một chỗ lặng ngồi an nhiên.
(xin cho một chỗ tôi ngồi )
Thơ nó buồn là thế, đời nó buồn là thế… vậy mà Bóng Nhỏ vẫn hồn nhiên bên đời. Đọc đi đọc lại đoạn thơ trên ta nhận ra hình ảnh một cô gái chiều xiêu bóng đổ, kiếm chỗ ngồi…làm việc gì đó.( Vụ này tế nhị nên xin không đề cập) Nên mới viết : “ Xin cho một chỗ tôi ngồi” .Nhưng giữa cái thời buổi cả nước chuyển mình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhà cửa như nấm, kiếm đâu ra một chỗ để mà ngồi kín đáo, đành phải ngồi ven đường mà vươn tay hình chữ V, cho gió nó “rót qua tay”, cho trăm con mắt nó nhìn vào lưng mình : “Theo trăm bóng nắng vàng lay lưng trời”. Thật xót xa vì hoàn cảnh trớ nhưng cũng đàng gượng cười với người xung quanh: “ ngó quanh phía chỗ tôi ngồi
Thấy truân chuyên một nét cười hồng nhan”
Thật lòng giữa chốn phồn hoa, nàng chỉ mong có một cái Restroom công cộng sạch sẽ, thoáng mát để có thể “nắn nót phím đàn” mà khỏi phải : “ cho một một chỗ lặng ngồi an nhiên”…
Quay lại với nét chiều trong thơ Bóng Nhỏ, những nét trầm lắng, hơi buồn liêu xiêu ( mà tế nhị). Một bài thơ của nàng mang đậm dáng chiều, dáng chiều buồn mà vẫn chảnh: CHIỀU NAY
chiều nay mây tím giăng giăng
chiều nay buồn lắm, miên man là buồn
ghép đôi vần lục chằng suông
mà vo thành mớ tròn vuông rất đều
(Chiều Nay )
Đó là tâm trang rối bời của Bóng nhỏ, rối mà vẫn chảnh.Bởi trong khung cảnh mây tím chiều buồn như thế mà thơ lục bát vẫn có thể ngồi xếp “ tròn vo rất đều”. Chứng tỏ nàng than vậy để nâng tầm khéo tay của mình lên một bật, thật chẳng khác nào nói: “ Nhà ngươi thật là đê tiện nhất thi ẩm này, chỉ thua mỗi ta”.
Không chỉ thế, khi chiều mà Bóng nhỏ nhà ta nhậu vào thì rất hay giận, thằng nào chọc là giận, cả thơ cũng bị nàng giận tuốt: ôi men rượu say ngà
kéo hồn anh tôi đi
buổi chiều sao buồn bã
dỗi hờn cả vần thi..
(Rượu quán )
Nhắc đến chiều với bóng nhỏ, ta thấy nàng thường hay ngủ vào buổi chiều: Ngủ đi em,
để chiều nay
Ta xin làm gió thổi bay ngậm ngùi.
(Ru em ngậm ngùi)
Hay phê hàng vào buổi chiều:
“ Chiều về trên bến không tên
thả hồn mây khói tìm quên thủa nào”
(Buồn không tên)
Trên đây chỉ là một mẩu rất nhỏ trong nét chiều của bóng nhỏ. Thơ của nàng còn phải tốn nhiều keyboard và ổ cứng mới có thể diễn tả hết được nét buồn nhưng sâu sắc (sấu). Cám ơn nàng vì những vần thơ đã mang đến cho Thi Ẩm, để cho nó thơ hơn. Đương nhiên không thể thiếu nét đê tiện đặc trưng vốn có!
}{ồ Điệp Khách là cây bút trẻ xuất sắc của Thi Ẩm Lầu. Anh đã đóng góp hàng ngàn bài thơ từ lục bát tới Thất Ngôn Bát Cú, đem lại cho Thi Ẩm Lầu (TAL) một luồng sinh khí hừng hực.
Nói như thế để thấy sở trường thơ của anh là không phải bàn cãi, nhưng ngoài ra, ta có thể thấy tiềm ẩn trong anh cả một nỗi lòng khắc khoải, bao gồm cả tiếc nuối, ,trằn trọc, suy tư, thèm khát và lo lắng. Bài viết “Ký Ức Không Tên” đã nói lên điều đó! Xuân đã muộn mất rồi...
xuân đã sang...
lộc non nẩy biếc ngủ trên giàn
bướm thôi đi hoang về miền nhớ
cùng hoa ấp ủ hương đại ngàn
em còn ở đó...
ngóng chờ ai...
hãy ngủ đi thôi mặc đêm dài
chút gió ngày xưa theo đông nhé
xuân đã sang rồi...
nắng sớm mai...
Vâng, ngay từ đầu ta đã thấy tác giả đã thể hiện sự tiếc nuối của mình bằng cụm từ: “ muộn mất rồi” . Vì Xuân đã qua, xuân ở đây có thể là mùa xuân, có thể là tuổi xuân, cũng có thể là cái vụ xx mà người ta gọi là Xuân Tình. Với tư tưởng đê tiện như lão có khả năng là cái thứ 3. Tức là xuân Tình. Tác giả đã cảm thán muộn mất rồi như, tiếc rẻ sao lúc mình còn hùng tâm tráng khí, đạn dược đầy đủ đã không dùng, để giờ thôi thì đã sang hạ, muốn cũng không có thể nữa.
Người ta nói cảm thơ phải cảm cả hoàn cảnh sáng tác bài thơ. Được biết gần đây, vợ tác giả đang trong thời kỳ quá độ từ bà vợ chuyển sang bà mẹ, vì thế, lão Điệp than thở sao không nhân lúc còn “có thể” mà xx cho thỏa. Để bây giờ quá xuân lại phải thòm thèm.
Để diễn tả rõ hơn ý của mình, tác giả khẳng định thêm ở câu 2 bài thơ:“ Lộc non nẩy biếc ngủ trên giàn”. Lộc chưa phải là lá, chỉ là chồi mà thôi. Lộc đang nẩy thì có thể biết vợ lão đang bầu. Bà vợ bầu nằm trên giường, đoán chắc lão bị dọn ra salon nằm, đêm đêm than thở, tối tối may tay.
Nói có sách, mách có chứng, lão đề tiếp câu tiếp theo: “Bướm thôi đi hoang về miền nhớ!”. Cả cái hội đê tiện này ai cũng biết Bướm ám chỉ cho cái gì.
Bướm xưa thường thích đi hoang
Từ này bướm bỗng có con…thì đành.
Và từ dạo ấy, bướm thôi đi hoang, chim buồn mà: “ Cùng hoa ấp ủ hương đại ngàn”. Chỉ đọc qua thôi cũng biết tối nào lão cũng ra vườn hoa, nói đại ngàn cho sang chứ thật ra chỉ là vườn hoa sau nhà bé teo, lão ra đó mà “ấp ủ” một mình cho thỏa cơn dục vọng.
Bài thơ cũng đậm nét nhân văn, tác giả thương vợ bầu, bầu thì bầu, vẫn thòm thèm như ai, đó là sự thông cảm sâu sắc với vợ trong hoàng xuân đang lên ngoài đại ngàn.
em còn ở đó...
ngóng chờ ai...
hãy ngủ đi thôi mặc đêm dài.
Để thấy lúc này vợ lão cũng chưa quen với việc treo cám mình lên, cho lão heo kia nhịn thèm. Cả đêm trăn trở. chút gió ngày xưa theo đông nhé
xuân đã sang rồi...
nắng sớm mai...
Ở hai câu cuối bài, lão hy vọng, đợi tới mùa đông, khi đó lão lại thôi bị heo nhịn, lại thôi “ấp ủ hương đại ngàn”. Nhưng cũng thể hiện sự thê lương của lão. Khi mà ngày cám treo đã hết, nhưng “xuân đã sang rồi”, lão lúc đó thật tâm mong lắm nhưng mà đâu phải lúc nào muốn cũng có thể. Chỉ đành rủ vợ tắm nắng sớm mai cho qua thời bỉ cực mà thôi!
Tóm lại, chỉ tám câu ngắn ngủi, nhưng tác giả Hồ Điệp khách đã lột tả được tâm trạng khắc khoải của mình ở thì hiện tại, tiếc nuối ở thì quá khứ và mong mỏi ở thì tương lai. Sự đau khổ dằn vặt vì khi muốn lại không có thể. Khi có thể lại phải ra đại ngàn mà giải tỏa nỗi lòng. Và sự đau khổ, khắc khoải, mong chờ ấy được nâng lên tầm cao mới khi được tác giả khéo léo lồng vào thơ ca để lại cho đời những vần thơ Tuyệt Tắt. Thành Kính Phân Ưu cùng tác giả }{ồ điệp khách!