Nguyễn Bính - Thi sĩ giang hồ
Chương 1: CHÚ BÉ SI TÌNH NGUYỄN BÍNH
Trần Đình Thu
Nguyễn Bính thuở nhỏ tên thật là Nguyễn Trọng Bính. Khi bước chân vào làng văn làng báo, ông lấy tên mình bỏ đi chữ lót thành ra bút danh Nguyễn Bính. Ông tuổi Mậu Ngọ, sinh năm 1918. Quê nội và cũng là nơi sinh của ông là xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội, nay là xã Cộng Hòa, huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định. Lên ba tháng tuổi, ông mồ côi mẹ. Sau đó cha ông đi thêm bước nữa. Vì thế về sau khi gia cảnh rơi vào khó khăn thì ba anh em ông được bên ngoại ở thôn Vân Tập cùng xã Đồng Đội với quê nội đón về nuôi.
Nguyễn Bính ở với người cậu ruột là ông Bùi Trình Khiêm, một nhà nho có tiếng, từng tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, là thầy dạy học chữ Nho của ông Trần Huy Liệu. Nhờ người cậu giỏi chữ Nho này mà ông có điều kiện tiếp xúc sớm với chữ nghĩa và nghệ thuật thơ phú.
Năm mười ba tuổi, Nguyễn Bính làm mọi người kinh ngạc về tài thơ của mình. Năm đó, vào dịp tháng ba âm lịch, hội Phủ Giầy tỉnh Nam Định quê ông có tổ chức một cuộc thi thơ. Đề thi là tả cảnh chọi gà trong ngày hội. Trong lúc mọi người đang loay hoay làm bài, thời gian cũng chỉ mới hết một nửa, người ta đã thấy một cậu bé con bước vào chỗ ban giám khảo đang ngồi để nộp bài. Đó chính là Nguyễn Bính. Bài thi của cậu bé là một bài thơ dài hơn ba trang giấy học trò. Sau khi xem xét cân nhắc, ban giám khảo quyết định chấm ngay giải nhất cho bài thơ. Và khi ban tổ chức dùng loa để đọc to bài thơ lên giữa sân đình cho mọi người cùng thưởng thức thì hàng ngàn người đang dự hội thơ vỗ tay không ngớt.
Có một điểm đặc biệt liên quan đến sự hình thành phong cách thơ Nguyễn Bính về sau trong câu chuyện thú vị này. Trong bài thơ tả cảnh chọi gà đó, ngoài sự độc đáo về mặt nghệ thuật, thì chỗ làm tất cả mọi người, từ ban giám khảo đến người tham dự phải tâm phục khẩu phục, là hai câu kết. Tác giả đã lấy hai câu ca dao “Khôn ngoan đá đáp người ngoài/Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau” để đưa vào bài thơ tả cảnh chọi gà một cách thật thú vị và đầy ý nghĩa.
Tiếng đồn về một chú bé con thần đồng thơ có lẽ từ đó đã lan nhanh. Và những lời thêu dệt huyền hoặc cũng phát sinh theo khiến nảy sinh nhiều chuyện bất ngờ. Ban đầu là một số người tìm đến để nhờ Nguyễn Bính gà thơ cho người hát trong những cuộc thi hát đối đáp. Nguyễn Bính vốn có tài ứng tác tức thì nên thường bên nào được ông giúp sức thì y như rằng bên đó sẽ thắng cuộc. Vì thế dần dần lòng ngưỡng mộ của mọi người lên đến tột đỉnh. Và Nguyễn Bính trở thành một người “cõi trên”. Một số người mê tín tin rằng thơ của Nguyễn Bính làm ra là thơ tiên, được giáng vào cho một cậu bé con chứ không phải là thơ của người bình thường. Vì thế nhiều người tìm đến Nguyễn Bính để xin thơ. Những đám dựng vợ gả chồng, trắc trở tình duyên hay làm ăn xui xẻo…đều đến nhờ “cậu” cho thơ tiên. Và tùy theo hoàn cảnh mà Nguyễn Bính cho thơ.
Lần nọ, một gia đình nông dân nghèo có cô con gái vừa được đám nhà giàu đến dạm hỏi. Ngặt nỗi, cô gái trước đó cũng đã có người thương ở làng. Gia đình phân vân không biết quyết định thế nào, bàn nhau tìm đến cậu. Nghe trình bày xong, Nguyễn Bính liền cho ngay một quẻ thơ có đoạn như sau:
Của dẫu nhiều nhưng vẫn chẳng nên
Phù vân, giả dối chẳng lâu bền
Tình em đâu phải trao thiên hạ
Dành để trai làng mới đẹp duyên
Lời thơ tiên đã truyền dạy như vậy, gia đình đành phải chối đám nhà giàu xứ khác để chọn anh trai làng cho con gái. Họ đâu có biết rằng, chẳng có tiên thánh nào phán truyền cả mà do nhà thơ của chúng ta ghét thói ham mê vật chất của người đời nên cho thơ như vậy mà thôi.
Độc đáo nhất là có một anh chàng hành nghề đạo chích cũng tìm đến xin thơ tiên và được Nguyễn Bính “giáng” cho mấy câu như sau:
Từ nay anh chớ có đi đêm
Dù thấy đi đêm được lắm tiền
Nhưng có phen rồi mang lấy vạ
Ở tù khổ vợ, khổ con thêm
Sau khi xin được quẻ thơ này, anh chàng đạo chích bỏ nghề luôn từ đó.
Một người quen của Nguyễn Bính có kể lại câu chuyện thú vị sau đây nữa. Đó là câu chuyện si tình của Nguyễn Bính năm ông mười bốn tuổi. Người kể quả quyết đây chính là tâm sự thật của Nguyễn Bính trong một lần trà dư tửu hậu.
Chuyện kể rằng, tháng ba năm ấy, Nguyễn Bính lại đi dự hội Phủ Giầy. Đó là lễ hội mà ông mê từ thuở bé. Một buổi đang ngồi xem hầu bóng, ông thoáng thấy một cô gái trạc tuổi mình đi ngang qua. Cô bé người cao dong dỏng mặc áo cánh sen thắt lưng hoa lý. Cô đi cùng với một người dáng chừng là mẹ. Nguyễn Bính có cảm giác lạ lùng như là cô bé vừa thoát ra từ bức tranh Tố Nữ. Ông vội vàng chạy theo. Khi nhìn được khuôn mặt cô bé, ông ngơ ngẩn như người mất hồn. Cả buổi hôm ấy, ông cứ đi theo hai mẹ con họ, lạy cùng lạy, khấn cùng khấn.
Rồi trong nhiều ngày sau nữa, ông luôn luôn đi theo bên họ. Đến ngày thứ tư, ông lén giúi được vào tay cô bé mảnh giấy có mấy câu thơ như sau:
Em ở cõi trần hay cõi tiên?
Phủ đền nhang khói nức hương em
Xin đi chầm chậm cho theo với
Lộc Thánh dâng người một trái tim
Cô gái nhanh nhẹn cầm lấy mảnh giấy nhưng ngó lơ đi nơi khác. Tuy nhiên chỉ cần vậy là ông đã tràn ngập sung sướng trong lòng mình rồi.
Chiều ngày thứ năm của lễ hội, nhân lúc bà mẹ đang say sưa với một phiên hầu bóng thì cô bé lẻn bước ra ngoài. Nguyễn Bính sung sướng bén gót theo liền ra cửa Phủ. Cô gái dừng lại nói trỏng: “Mai về Mỹ Trọng rồi”. Mỹ Trọng là một địa danh cách đó hàng chục cây số. Nguyễn Bính thấy mình như đang bay trên mây. Chợt ông sực tỉnh, vội vàng đưa tay ra nắm lấy tay cô bé. Nhưng cô bé rụt tay lại ngay và quay nhanh vào bên trong. Hôm sau, Nguyễn Bính bám theo cô bé về tận Mỹ Trọng và biết được chỗ ở của gia đình cô. Sau đó tìm cách gặp gỡ cô bé mấy lần. Rồi về nhà cắm cúi làm thơ đến nỗi xao nhãng việc học. Thế nhưng có lẽ mối tình đầu chỉ đẩy đưa tới đó. Bởi chừng ba tháng sau thì gia đình cô có việc gì đó phải đột ngột bán nhà chuyển đi nơi khác, thế là người tiên biến mất.
Hình ảnh cô bé trẩy hội Phủ Giầy đầu chít khăn nhung thả tóc đuôi gà từ đó luôn lẩn quất trong tâm hồn ông. Những lúc thoang thoảng mùi khói nhang là ông lại bần thần nhớ về những ngày xưa tươi đẹp, thuở còn ngây thơ và vụng dại nhưng lòng đã rạo rực niềm yêu ấy.
Cách trị khẩn cấp tai biến mạch máu não
Cách trị khẩn cấp tai biến mạch máu não
Irene Liu
Khi có người bị đột quỵ, hãy hết sức bình tĩnh. Cho dù bệnh nhân đang ở đâu, cũng không được di chuyển. Vì nếu bị di chuyển, các mạch máu não sẽ vỡ ra. Hãy giúp bệnh nhân ngồi tại chổ và giữ không cho bệnh nhân bị ngã, rồi bắt đầu chích cho máu chảy ra. Nếu bạn có sẵn một cây kim tiêm ở nhà thì tốt nhất, nếu không có kim tiêm, bạn có thể dùng kim may hoặc một cây kim thẳng.(Nhớ là phải rữa tay bạn thật sạch trước khi thực hiện các việc sau đây.)
1. Hơ kim trên lữa để khử trùng rồi dùng nó để chích mười đầu ngón tay.
2. Không có các huyệt cụ thể, chỉ cần chích cách các móng tay 1mm.
3. Chích đến khi nào máu chảy ra.
4. Nếu máu không chảy ra được, hãy dùng ngón tay của bạn để nặn ra.
5. Khi tất cả mười đầu ngón tay đều đã có máu chảy ra, hãy chờ vài phút, nạn nhân sẽ hồi tỉnh.
6. Nếu nạn nhân bị méo miệng, hãy kéo hai tai nạn nhân cho đến khi cả hai tai đều đỏ lên.
7. Sau đó, chích vào dái tai cho đến khi mỗi dái tai có chảy ra hai giọt máu. Sau vài phút nạn nhân sẽ hồi tĩnh.
Chờ cho đến khi nạn nhân trở lại trạng thái bình thường không có một triệu chứng bất thường nào nữa thì mới chở nạn nhân vào bệnh viện vì nếu nạn nhân bị vội vàng chở đi ngay đến bệnh viện bằng xe cấp cứu, xe chạy bị xóc sẽ làm cho các mạch máu não của bệnh nhân vỡ tung ra. Nếu nạn nhân có được cứu sống, ráng lắm mới đi lại được thì cũng do phước đức ông bà để lại mà thôi.
" Tôi học được phương pháp cứu người bằng cách chích cho máu chảy ra từ Bác sĩ Ha Bu-Ting ở Sun-Juke. Hơn nữa tôi cũng đã từng có kinh nghiệm thực tế. Vì vậy tôi có thể nói phương pháp này hiệu quả đến 100%. Năm In1979, tôi đang dạy tại trường Ðại Học Fung-Gaap ở Tai-Chung. Một ngày nọ tôi đang dạy ở trong lớp thì có một giáo viên khác chạy đến lớp tôi và nói trong hơi thở hổn hển: "Cô Liu ơi, mau lên, xếp bị đột quị rồi!"
Tôi chạy ngay lên tầng 3. Khi tôi nhìn thấy xếp tôi, ông ChenFu-Tien, thì ông ta da đã nhợt nhạt, nói ngọng nghiụ, miệng méo- tất cả các hiện tượng của chứng độ quỵ. Tôi liền nhờ một học sinh đến một tiệm thuốc bên ngoài trường học mua một cây kim và dùng nó chich mười đầu ngón tay ông Chen Khi tất cả mười dầu ngón tay của ông ta đã chảy máu (mỗi ngón tay đều chảy một giọt máu bằng hạt đậu), sau vài phút, khuôn mặt của ông Chen hồng hào trở lại và đôi mắt cũng đã có thần trở lại. Nhưng miệng ông ta vẫn còn méo. Thế là tôi kéo tai ông ta cho máu chảy đến tai. Khi tai ông ta đã đỏ, tôi liền chích dái tai phải của ông hai lần để nạn ra hai giọt máu. Khi cả hai tai đều đã được nặn máu, mỗi bên hai giọt, thì một điều kỳ diệu đã xãy ra. Trong vòng 3-5 phút, miệng ông ta đã trở lại hình dáng bình thường và giọng nói trở nên rõ ràng. Tôi để cho xếp tôi nghỉ ngơi một lát và uống một tách trà nóng, rồi tôi giúp ông đi xuống cầu thang và chở ông đến bệnh viện.. Ông nghỉ tại bệnh viện một đêm và hôm sau đựoc xuất viện để trở về trường dạy học.
Mọi việc xảy ra bình thường. Không hề có một tác động nào xấu để lại. Mặt khác, nạn nân đột quỵ thường phải chịu tình trạng mạch máu não bị vỡ khó tránh khỏi trên đường đi đến bệnh viện. Kết quả là các nạn nhân này sẽ không bao giờ phục hồi được (Irene Liu)
Vì vậy đột quỵ là nguyên nhân thứ hai của tử vong. Nhưng người may man có thể sẽ sống sót nhưng phải chịu bị liệt suốt đời. điều này thật là khủng khiếp. Nếu như tất cả chúng ta có thể nhớ phương pháp chích cho máu chảy ra và bắt đầu quá trình cứu người ngay tức khắc, chỉ trong một thời gian rất ngắn, nạn nhân đã có thể hồi sinh và trở lại bình thường 100% .
Chúng tôi hi vọng rằng các bạn sẽ bày cho người khác phương pháp sơ cứu này. Bằng cách làm như vậy, đột quỵ sẽ bị chuyển khỏi danh sách các nguyên nhân chính gây tử vong.
Xin hãy chuyển tiếp cho người khác sau khi bạn đọc xong bài này. Ðây là một việc làm rất tốt (vanchinh.net).
Khúc hát sông Tô.
Khúc hát sông Tô
Nhạc: Nguyễn trọng Tạo
Lời: Lãnh
Trình bày: Sir Tee
Qua nửa đời lái gió, anh lại về cúi chặt vào sông Tô
Ơi! Con sông nghe tù và anh thổi
Thổi cho em lên đỉnh xuống trầm
Từ dạo ngã ba trôi qua, rồi ngã bảy
Tù và anh ca em đứng em ngồi
Ơi! Con sông Tô, con sông Tô
Ơi! Con sông Tô, con sông Tô
Sông có nhớ chăng ta ngồi ngóng vợ
Vời vợi kêu lên hai tiếng đau lòng
Ơi! Con sông Tô, con sông Tô
Ơi! Con sông Tô, con sông Tô
Nước ở dưới sông, tù và trên cạn
Thổi suốt một đời chỉ để em thương
Gác tù và lên ta câu làn nước chảy
Khòm khòm cái lưng như trẻ nghịch khờ
Một dòng nước tuôn trông rất đục ngầu.
Chân Dung Các Nhà Văn
Tác giả: Xuân Sách
1. Hồ Phương
Trên biển lớn mênh mông sóng nước
Ngó trông về xóm mới khuất xa
Cỏ non nay chắc đã già
Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem.
2. Nguyễn Đình Thi
Xung kích tràn lên nước vỡ bờ
Đã vào lửa đỏ hãy còn mơ
Bay chi mặt trận trên cao ấy
Quên chú nai đen vẫn đứng chờ.
3. Tô Hoài
Dế mèn lưu lạc mười năm
Để O Chuột phải ôm cầm thuyền ai
Miền tây sen đã tàn phai
Trăng thề một mảnh lạnh ngoài đảo hoang.
4. Nguyên Hồng
Bỉ vỏ một thời oanh liệt nhỉ
Sóng gầm sông Lấp mấy ai hay
Cơn bão đến động rừng Yên thế
Con hổ già uống rượu giả vờ say
5. Nguyễn Công Hoan
Bác Kép Tư Bền rõ đến vui
Bởi còn tranh tối bác nhầm thôi
Bới tung đống rác nên trời phạt
Trời phạt chửa xong bác đã cười.
6. Nguyễn Tuân
Vang bóng một thời đâu dễ quên
Sông Đà cũng muốn đẩy thuyền lên
Chén rượu tình rừng cay đắng lắm
Tờ hoa lại trót lỡ ưu phiền.
7. Huy Cận
Các vị La hán chùa Tây phương
Các vị gày quá tôi thì béo
Năm xưa tôi hát vũ trụ ca
Bây giờ tôi hát đất nở hoa
Tôi hát chiến tranh như trẩy hội
Không nên xấu hổ khi nói dối
Việc gì mặt ủ với mày chau
Trời mỗi ngày lại sáng có sao đâu!
8. Xuân Diệu
Hai đợt sóng dâng một khối hồng
Không làm trôi được chút phấn thông
Chao ơi ngói mới nhà không mới
Riêng còn chẳng có, có gì chung.
9. Tế Hanh
Quá tuổi hoa niên đã bạc đầu
Tình còn dang dở tận Hàng Châu
Khúc ca mới hát sao buồn thế
Hai nửa yêu thương một nửa sầu.
10. Chế Lan Viên
Điêu tàn ư? Đâu chỉ có điêu tàn
Ta nghĩ tới vàng son từ thuở ấy
Chim báo bão, lựa chiều cơn gió dậy
Lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi
sắc phù sa
Thay đổi cả cơn mơ,
ai dám bảo con tầu không mộng tưởng
Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng
Lòng ta cũng như tầu, ta cũng uống
Mặt anh em trong suối cạn
Hội nhà văn
11. Nguyễn Thi
Trăng sáng soi riêng một mặt người
Chia ly đôi bến cách phương trời
Ước mơ của đất anh về đất
Im lặng mà không cứu nổi đời.
12. Kim Lân
Nên danh nên gía ở làng
Chết về ông lão bên hàng xóm kia
Làm thân con chó xá gì
Phận đành xấu xí cũng vì miếng ăn.
13. Tú Mỡ
Một nắm xương khô cũng gọi mỡ
Quanh năm múa bút để mua cười
Tưởng cụ vẫn bơi dòng nước ngược
Nào ngờ trở gió lại trôi xuôi.
14. Bùi Huy Phồn (Đồ Phồn)
Phất rồi ông mới ăn khao
Thơ ngang chạy dọc bán rao một thời
Ông đồ phấn, ông đồ vôi
Bao giờ xé xác để tôi ăn mừng.
15. Hoài Thanh
Vị nghệ thuật nửa cuộc đời
Nửa đời sau lại vị người ngồi trên
Thi nhân còn một chút duyên
Lại vò cho nát lại lèn cho đau
Bình thơ tới thuở bạc đầu
Vẫn chưa thể tất nổi câu nhân tình
Giật mình mình lại thương mình
Tàn canh tỉnh rượu bóng hình cũng tan
16. Vũ Tú Nam
Vốn cùng nhân dân tiến lên
Mùa đông năm ấy bỏ quên cờ đào
Con về nấp bóng ca dao
Giật mình nghe một tiếng chào:
Văn Ngan
17. Hữu Mai
Hỏng đôi mắt phải đâu là mất hết
Trong cặp còn hồ sơ điệp viên
Ông cố vấn chẳng sợ gì cái chết
Cao điểm cuối cùng quyết chí xông lên.
18. Đỗ Chu
Đám cháy ở sau lưng
Đám cháy ở trước mặt
Than ôi mày chạy đâu
Dưới vòm trời quen thuộc
Đốt bao nhiêu cỏ mật
Không bay mùi thơm tho
Càng hun càng đỏ mắt
Quay về thung lũng cò
19. Xuân Quỳnh
Mải hái hoa dọc chiến hào
Bỏ quên chòi biếc lúc nào không hay
Thói quen cũng lạ lùng thay
Trồng cây táo lại mọc cây bạch đàn
20. Phạm Tiến Duật
Trường sơn đông em đi hái măng
Trường sơn tây anh làm thơ cho lính
Đời có lúc bay lên vầng trăng
Lại rơi xuống chiếc xe không kính
Thế đấy! giữa chiến trường
Nghe tiếng bom cũng mạnh!
21. Nguyễn Thành Long
Thao thức năm canh nghĩ chẳng ra
Trò chơi nguy hiểm đấy thôi mà
Lặng lẽ giữa khoảng trong xanh ấy
Để mối đùn lên đến lúc già.
22. Đào Vũ
Trời thí cho ông vụ lúa chiêm
Ông xây sân gạch với xây thềm
Con đường mòn ấy ông đi mãi
Lưu lạc đâu rồi mất cả tên
23. Nguyễn Bính
Hai lần lỡ bước sang ngang
Thương con bướm đậu trên giàn mồng tơi
Trăm hoa thân rã cành rời
Thôi đành lấy đáy giếng thơi làm mồ.
24. Nguyễn Văn Bổng
Nhọc nhằn theo bước con trâu
Hỡi người áo trắng nông sâu đã từng
Mỗi bước đi một bước dừng
Mà sao vẫn lạc giữa rừng U minh.
25. Nguyên Ngọc
Mấy lần đất nước đứng lên
Đứng lâu cũng mỏi cho nên phải nằm
Hại thay một mạch nước ngầm
Cuốn trôi đất Quảng lẫn rừng Xà nu
26. Vũ Thị Thường
Từ trong hom giỏ chui ra
Đã toan gánh vác sơn hà chị ơi
Định đem cái lạt buộc người
Khổ thay ông lão vịt trời phải chăn
27. Quang Dũng
“Sông Mã xa rồi tây tiến ơi”
Về làm xiếc khỉ với đời thôi
Nhà đồi một nóc chênh vênh lắm
Sống tạm cho qua một kiếp người
Áo sờn thay chiếu anh về đất
Mây đầu ô trắng, Ba vì xanh
Gửi hồn theo mộng về tây tiến
“Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
28. Mai Ngữ
Tưởng chuyện như đùa hoá ra thật
Biết ông sòng phẳng tự bao giờ
Cái con thò lò quay sáu mặt
Vồ hụt mấy lần ông vẫn trơ
29. Nguyễn Khải
Cha và con và... họ hàng và...
Hết bay mùa thóc lẫn mùa lạc
Cho nên chiến sĩ thiếu lương ăn
Họ sống chiến đấu càng khó khăn
Tháng Ba ở Tây nguyên đỏ lửa
Tháng tư lại đi xa hơn nữa
Đường đi ra đảo đường trong mây
Những người trở về mấy ai hay
Xung đột mỗi ngày thêm gay gắt
Muốn làm cách mạng nhưng lại dát1
30. Hoàng Trung Thông
Đường chúng ta đi trong gió lửa
Còn mơ chi tới những cánh buồm
Từ thuở tóc xanh đi vỡ đất
Đến bạc đầu sỏi đá chửa thành cơm
31. Chính Hữu
Tấm áo hào hoa bạc gió mưa
Anh thành đồng chí tự bao giờ
Trăng còn một mảnh treo đầu súng
Cái ghế quan trường giết chết thơ.
32. Thanh Tịnh
Bao năm ngậm ngải tìm trầm
Giã từ quê mẹ xa dòng Hương giang
Bạc đầu mới biết lạc đường
Tay không nay lại vẫn hoàn tay không
Mộng làm giọt nước ôm sông
Ôm sông chẳng được, tơ lòng gió bay.
33. Chu Văn
Một con trâu bạc già nua
Nhờ cơn bão biển thổi lùa lên mây
Trâu ơi ta bảo trâu này
Quay về đất mới kéo cày cho xong.
34. Ngô Tất Tố
Tài ba thằng mõ cỡ chuyên viên
Chia xôi chia thịt lại chia quyền
Việc làng việc nước là như vậy
Lộn xộn cho nên phải tắt đèn.
35. Nam Cao
Anh còn đôi mắt ngây thơ
Sống mòn sao vẫn đợi chờ tương lai
Thương cho Thị Nở ngày nay
Kiếm không đủ rượu làm say Chí Phèo.
36. Xuân Thủy
Xoắn mãi dây tình thơ bật ra
Paris thì thích hơn ở nhà
Đông y ắt hẳn hơn tây dược
Xe tải không bằng xe Vonga
Trên đời kim cương là quý nhất
Thứ đến tình thương dân nghèo ta
Em chớ chê anh già lẩm cẩm
Còn hơn thằng trẻ lượn Honđa.
37. Lưu Trọng Lư
Em không nghe mùa thu
Mùa thu chỉ có lá
Em không nghe rừng thu
Rừng mưa to gió cả
Em thích nghe mùa xuân
Con nai vờ ngơ ngác
Nó ca bài cải lương.
38. Nguyễn Khoa Điềm
Một mặt đường khát vọng
Cuộc chiến tranh đi qua
Rồi trở lại ngôi nhà
Cất lên ngọn lửa ấm
Ngủ ngon a Kai ơi
Ngủ ngon a Kai à...
39. Nguyễn Kiên
Anh Keng cưới vợ tháng mười
Những đứa con lại ra đời tháng năm
Trong làng kháo chuyện rì rầm
Vụ mùa chưa gặt thóc đã nằm đày kho.
40. Anh Thơ
Ấy bức tranh quê đẹp một thời
Má hồng đến quá nửa pha phôi
Bên sông vải chín mùa tu hú
Khắc khoải kêu chi suốt một đời.
41. Xuân Thiều
“Đôi vai” thì gánh lập trường
Đôi tay sờ soạng con đường cuối thôn
Nghe anh kể chuyện đầu nguồn
Về nhà thấy mất cái hồn của em.
42. Nguyễn Thị Như Trang
Nhá nhem khoảng sáng trong rừng
Để cho cuộc thế xoay vần hơn thua
Xác xơ mầu tím hoa mua
Lửa chân sóng báo mây mưa suốt ngày.
43. Bùi Đức Ái (Anh Đức)
Chị Tư Hậu đẻ ra anh
Ví như hòn đất nặn thành đứa con
Biển xa gió dập sóng dồn
Đất tan thành đất chỉ còn giấc mơ.
44. Nguyễn Thế Phương
Đi bước nữa rồi đi bước nữa
Phấn son mưa nắng đã tàn phai
Cái kiếp đào chèo là vậy đó
Đêm tàn bến cũ chẳng còn ai.
45. Vũ Trọng Phụng
Đã qua đi một thời giông tố
Qua một thời cơm thầy cơm cô
Còn để lại những thằng Xuân tóc đỏ
Vẫn nghênh ngang cho đến tận bây giờ.
46. Xuân Thiêm
Thơ ông tang tính tang tình
Cây đa bến nước mái đình vườn dâu
Thân ông mấy lượt lấm đầu
Miếng mồi danh lợi mắc câu vẫn thèm.
47. Đào Hồng Cẩm
Bắt đầu từ lão nghị hụt
Cầm dao giết mạng người
Chị Nhàn phải đi bước nữa
Lấy đại đội trưởng của tôi
Cuộc đời mấy phen nổi gió
Phải đem tổ quốc thề bồi
Lần này ông ra ứng cử
Chắc hẳn là trúng nghị viên thôi.
48. Nguyễn Quang Sáng
Ông Năm Hạng trở về đất lửa
Với chiếc lược ngà vượt Trường sơn
Bỗng mùa gió chướng vừa nổi dậy
Ông biến thành thằng nộm hình rơm.
49. Hoàng Văn Bổn
Có những lớp người đi vỡ đất
Mùa mưa không trồng lúa trồng ngô
Lại gieo hạt bông hường bông cúc
Trên mảng đất này hoa héo khô.
50. Phù Thăng
Chuyện kể cho người mẹ nghe
Biển lửa bốc cháy bốn bề tan hoang
Đứa con nuôi của trung đoàn
Phá vây xong lại chết mòn trong vây.
51. Nguyễn Thị Ngọc Tú
Đất làng vừa một tấc
Bao nhiêu người đến cày
Thóc giống còn mấy hạt
Đợi mùa sau sẽ hay
52. Vũ Cao
Sớm nay nhấp một chén trà
Bâng khuâng tự hỏi đâu là núi đôi
Những người cùng làng với tôi
Muốn sang đèo trúc muộn rồi đừng sang
53. Phan Tứ
Bên kia biên giới anh sang
Trước giờ nổ súng về làng làm chi
Mẫn và tôi tính chi li
Gia đình má Bảy lấy gì nuôi anh.
54. Nguyễn Huy Tưởng
Anh chẳng còn sống mãi
Với thủ đô luỹ hoa
Để những người ở lại
Bốn năm sau khóc oà.
55. Thu Bồn
Chim Chơ rao cất cánh ngang trời
Tình như chớp trắng cháy liên hồi
Đám mây cánh vạc tan thành nước
Mà đất ba dan vẫn khát hoài.
56. Bùi Hiển
Sinh ra trong gió cát
Đất Nghệ an khô cằn
Bao nhiêu năm “nằm vạ”
Trước cửa hội nhà văn.
57. Võ Huy Tâm
Đem than từ vùng mỏ
Về bán tại thủ đô
Bị đập chiếc cán búa
Hoá ra thằng ngẩn ngơ.
58. Nông Quốc Chấn
Tưởng anh dọn về làng xưa
Ngờ đâu về tận thủ đô nhận nhà
Sướng cái bụng lắm lắm à
Đêm là đèo gió, ngày là hồ Tây.
59. Thế Lữ
Với tiếng sáo thiên thai dìu dặt
Mở ra dòng thơ mới cho đời
Bỏ rừng già về vườn bách thú
Con hổ buồn lặng lẽ trút tàn hơi.
(còn tiếp)
CHỦ TỊCH HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM VIẾT SAI VĂN PHẠM VÀ DÙNG TỪ TỐI NGHĨA
CHỦ TỊCH HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM VIẾT SAI VĂN PHẠM VÀ DÙNG TỪ TỐI NGHĨA
Trần Đình Thu
Tôi đọc bài phát biểu của nhà thơ Hữu Thỉnh tại Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ 8, nhận thấy nhiều chỗ nhà thơ viết sai văn phạm và dùng từ tối nghĩa, xin chép ra đây để bạn yêu văn chương cùng xem xét bình phẩm.
I. Đoạn văn:
“Chọn Tuyên Quang làm địa chỉ gặp gỡ đáng nhớ này, chúng tôi muốn diễn đàn Hội nghị là nơi bày tỏ tình cảm và trách nhiệm của các cây bút trẻ tiếp tục một cách xứng đáng truyền thống lịch sử vẻ vang của cách mạng và kháng chiến”.
Trong đoạn văn này có một số bất ổn như sau:
1. “Chọn Tuyên Quang làm địa chỉ gặp gỡ đáng nhớ này,...”
Từ điển tiếng Việt Wiktionary giải thích từ “địa chỉ”:
Địa chỉ là nơi ở ghi trên giấy tờ. Thí dụ A nói với B:
A: Anh cho tôi địa chỉ của anh đi.
B: Địa chỉ của tôi là Ba Đình, Hà Nội.
Sau khi tra từ “địa chỉ”, tôi tra từ “địa điểm” trong từ điển này, được kết quả như sau:
Địa điểm: Nơi chốn cụ thể xảy ra một sự việc nào đó.
Có mặt tại địa điểm quy định.
Tìm một địa điểm thích hợp.
Một địa điểm chiến lược quan trọng.
Rõ ràng câu văn trên dùng từ sai. Nó phải được viết thế này mới đúng:
“Chọn Tuyên Quang làm địa điểm gặp gỡ…”
Như vậy nếu thay “địa chỉ” bằng “địa điểm” thì đoạn văn trên đúng một phần (từ đầu đến gặp gỡ). Tuy nhiên sau “gặp gỡ”, cụm từ “đáng nhớ này” lại làm câu văn tiếp tục bị sai văn phạm. Ta hãy đọc lại:
“Chọn Tuyên Quang làm địa điểm gặp gỡ đáng nhớ này.”
Cụm từ “đáng nhớ này” hoàn toàn không bổ nghĩa được cho bất kỳ thành phần nào của câu trước đó. Nó bị thừa. Lẽ ra chỉ nên viết:
“Chọn Tuyên Quang làm địa điểm gặp gỡ, …”
2. “diễn đàn Hội nghị là nơi bày tỏ tình cảm và trách nhiệm của các cây bút trẻ tiếp tục một cách xứng đáng truyền thống lịch sử vẻ vang của cách mạng và kháng chiến”.
Đoạn văn trên có gì đó không ổn khi sau cụm từ “cây bút trẻ”, tác giả dùng động từ “tiếp tục”. Ở đây đã có động từ “bày tỏ” rồi, sao lại dùng thêm động từ “tiếp tục”? Hai động từ dùng xen kẽ ở chỗ này là không ổn. Đoạn này phải viết là:
“diễn đàn Hội nghị là nơi bày tỏ tình cảm và trách nhiệm của các cây bút trẻ đối với truyền thống lịch sử vẻ vang của cách mạng và kháng chiến” (thay cụm từ “tiếp tục một cách xứng đáng” bằng “đối với”).
Tóm lại tôi đề nghị biên tập lại đoạn văn trên như sau:
“Chọn Tuyên Quang làm địa điểm gặp gỡ, chúng tôi muốn diễn đàn Hội nghị là nơi bày tỏ tình cảm và trách nhiệm của các cây bút trẻ đối với truyền thống lịch sử vẻ vang của cách mạng và kháng chiến”.
II. Đoạn văn:
“Nếu như các Hội nghị lần trước, phần đông đại biểu mới có một chùm thơ, một vài truyện ngắn in trên các báo thì, rất đáng mừng của Hội nghị lần này một phần ba số đại biểu đã có những tập sách riêng, nhiều bạn đã có tới 2, 3 đầu sách”.
Đoạn văn trên có chỗ bất ổn như sau:
I. “thì rất đáng mừng của Hội nghị lần này…”
Ở đây tác giả viết câu thiếu. Cái gì rất đáng mừng của hội nghị lần này? Có lẽ tác giả làm rơi mất chữ “điều” nên thành ra câu cụt.
Đoạn này phải viết lại như sau mới đúng:
“Nếu như các Hội nghị lần trước, phần đông đại biểu mới có một chùm thơ, một vài truyện ngắn in trên các báo thì, điều rất đáng mừng của Hội nghị lần này là một phần ba số đại biểu đã có những tập sách riêng, nhiều bạn đã có tới 2, 3 đầu sách.”
III. Đoạn văn:
“Nếu hôm qua, bạn chỉ cần năng khiếu thôi là đủ, thì trên chặng đường mới này, năng khiếu phải trở thành tài năng.”
Đây là câu văn thuộc dạng kết cấu “nếu – thì”. Loại câu này yêu cầu 2 mệnh đề phải chỉ cùng một trạng thái. Nếu mệnh đề trước chỉ thời gian thì mệnh đề sau cũng phải chỉ thời gian. Do đó ta phải viết: “Nếu hôm qua, bạn chỉ cần năng khiếu thôi là đủ, thì hôm nay, năng khiếu phải trở thành tài năng” thì mới đúng.
IV. Đoạn văn:
“Văn chương là cái biển chứa tài năng không biết thế nào cho đủ.”
Câu này là một câu thừa. Thừa làm cho câu văn tối nghĩa.
Lẽ ra câu văn này chỉ được phép viết: “Văn chương là cái biển chứa tài năng.”. Cụm từ “không biết thế nào cho đủ” là cụm từ thừa, đã không đóng vai trò gì trong câu rồi, còn làm cho câu tối nghĩa.
Có thể tác giả không muốn dừng lại ở “cái biển chứa tài năng” mà muốn viết thêm để nhấn mạnh sự vô tận của nó nên mới viết câu như thế. Nhưng nếu muốn như thế, tác giả nên thay cụm từ “không biết thế nào cho đủ” bằng cụm từ “vô tận”. Khi đó có thể viết: “Văn chương là cái biển chứa tài năng vô tận”.
V. Đoạn văn:
“Hiểu rồi, các bạn muốn nói đến một nền văn học hiện đại, giao diện với toàn thế giới.”
Từ điển tiếng Việt Wiktionary giải thích từ “giao diện”:
Giao diện: Mặt tiếp xúc của một đối tượng, sự vật với thế giới bên ngoài.
Như vậy “giao diện” là danh từ chứ không phải là động từ. Vì vậy tác giả đã nhầm lẫn khi dùng một danh từ thay thế cho một động từ.
VI. Đoạn văn:
“Vậy lý do nào đưa đến của hội tụ tài năng hôm nay?”
Không biết có phải “lỗi người đánh máy” không mà câu này có sai sót khá bất ngờ, khi từ “của” nhảy vào chiếm chỗ từ “cuộc” một cách quá thô bạo?
Xin tạm dừng việc phân tích ở đây vì bài phát biểu khá ngắn mà tôi lại phân tích quá dài.
Sau đây là toàn văn bài phát biểu của tác giả Hữu Thỉnh.
Văn học phải được phóng lên từ bệ phóng dân tộc
Nhà thơ HỮU THỈNH
Kính thưa các vị khách quý,
Thưa Hội nghị.
Thế là, sau một thời gian chuẩn bị với không ít bận rộn và hào hứng, hôm nay Hội nghị Viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VIII chính thức khai mạc. Chọn Tuyên Quang làm địa chỉ gặp gỡ đáng nhớ này, chúng tôi muốn diễn đàn Hội nghị là nơi bày tỏ tình cảm và trách nhiệm của các cây bút trẻ tiếp tục một cách xứng đáng truyền thống lịch sử vẻ vang của cách mạng và kháng chiến. Thay mặt Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, tôi nồng nhiệt chào mừng đại biểu các cây bút trẻ từ các vùng miền trong cả nước và gồm nhiều dân tộc anh em đã về dự Hội nghị. Xin trân trọng chào mừng và cám ơn các vị khách quý, các nhà văn lớp trước đem tin yêu và quý trọng đến với các tài năng văn học trẻ của đất nước.
Qua hơn nửa thế kỷ hoạt động, mỗi kỳ Hội nghị Viết văn trẻ do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức lại trở thành một cuộc hò hẹn thú vị, ghi dấu một lớp nhà văn mới lại đến với văn học. Trong lần gặp gỡ này, tôi muốn mở đầu câu chuyện của chúng ta bằng một vài câu hỏi làm quen. Câu thứ nhất:
- Những người viết văn trẻ, bạn từ đâu đến?
- Chúng tôi đến từ miền của tài năng.
- Đúng quá, xin chào các sứ giả đến từ miền của tài năng.
Nếu như các Hội nghị lần trước, phần đông đại biểu mới có một chùm thơ, một vài truyện ngắn in trên các báo thì, rất đáng mừng của Hội nghị lần này một phần ba số đại biểu đã có những tập sách riêng, nhiều bạn đã có tới 2, 3 đầu sách. Và hơn nữa, số giải thưởng văn học mà các bạn đem về Hội nghị này nhiều hơn bất cứ hội nghị nào trước đó. Như vậy có thể nói các bạn đã bước qua giai đoạn xuất hiện. Kế tiếp sau đây là giai đoạn định hình. Miêu tả chặng đường vừa qua, có thể diễn đạt qua ba nhận xét sau đây về tác phẩm của các bạn.
- Nhiều đầy tràn nhưng còn ít sâu lắng.
- Dàn đồng ca khá mạnh nhưng còn ít những giọng lĩnh xướng vang xa.
- Thêu thùa cho cá nhân thì khéo, may cắt cho thiên hạ còn ít dụng công.
Đó là những đặc điểm thường thấy trong giai đoạn xuất phát. Giờ đây, các bạn đã từ giã giai đoạn xuất phát để bước hẳn lên cuộc hành trình mới mà nhiệm vụ quan trọng nhất là định hình, là khẳng định. Nếu hôm qua, bạn chỉ cần năng khiếu thôi là đủ, thì trên chặng đường mới này, năng khiếu phải trở thành tài năng. Nếu hôm qua bạn chỉ cần đam mê là đủ, thì hôm nay đam mê phải trở thành bản lĩnh. Nếu hôm qua bạn chỉ cần bản năng thôi là đủ, thì hôm nay viết văn là công việc tự giác hoàn toàn. Nếu hôm qua bạn bảo viết văn cũng thường thôi thì hôm nay bạn sẽ cảm thấy, càng ngày càng cảm thấy viết văn là vô cùng khó. Về chuyện này, tôi muốn mời bạn tham khảo lời bàn sau đây của Lưu Hiệp, một nhà phê bình văn học uyên bác của Trung Hoa cách chúng ta 1626 năm về trước. Lưu Hiệp nói: Làm thơ nếu thấy là khó thì cái dễ sẽ tới, còn xem là dễ thì cái khó đến ngay (Văn tâm điêu long, thiên minh thư).
Xem thế đủ biết, để đi được dài, được lâu bền trên cuộc độc hành vất vả này, bạn phải chăm lo cho sức khoẻ tài năng của bạn ghê lắm. Sức khoẻ của tài năng còn có một tên gọi khác, đó là vốn sống, một tổng thể hiểu biết, trải nghiệm, dấn thân và dâng hiến tận cùng mà nguồn bổ dưỡng vô tận chính là đời sống. Thoát ly đời sống thì ngay cả thiên tài cũng có nguy thơ thui chột.
Văn chương là cái biển chứa tài năng không biết thế nào cho đủ. Mà cái quy luật hưởng thụ văn chương mới thật ngược đời. Mỗi khi có một tài năng xuất hiện thì nó lại kích thích người ta đi tìm một tài năng kiểu khác. Đó là bản chất của quy luật bổ sung. Vì thế nên bao nhiêu sắc thái, bao nhiêu cung bậc tài năng đều tìm thấy chỗ đứng của mình. Một nền văn học trưởng thành là một nền văn học cộng sinh những tài năng khác nhau: Đó là lý do, là mục đích của Hội nghị này. Chúng tôi biết có một số bạn băn khoăn là có những nhà văn lớp trước còn dè dặt trước lối viết của lớp trẻ, chưa đánh giá đúng mức công hiến của họ, thậm chí có bạn lo ngại có người muốn áp đặt, gò gẫm lớp trẻ phải viết theo khuôn thước của lớp trước hay không. Nếu quả có lo lắng như vậy thì hôm nay, tại đây, chúng tôi muốn nói rằng, đó là những lo lắng không có căn cứ, vì Hội Nhà văn Việt Nam không bao giờ chủ trương như vậy. Một nền văn học được làm giàu bởi tài năng của các thế hệ, đó là sự đòi hỏi của cuộc sống và nhu cầu nội sinh của văn học. Từ một cách nhìn như thế, mọi sự đố kỵ, ganh ghét là sự buồn cười thảm hại. Vấn đề là mỗi người phải trở thành một chủ thể, độc đáo, duy nhất, một lĩnh xướng tài hoa của dấu ấn cá nhân. Chỉ như thế, bạn mới có thể sớm tách khỏi dàn đồng ca vui vẻ. Đây là một câu chuyện nghiêm túc và vô cùng cấp bách nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp của văn học ta.
Vậy lý do nào đưa đến của hội tụ tài năng hôm nay? Trả lời câu hỏi này, không có gì xác đáng hơn là trích một câu trong Nghị quyết 23 của Bộ chính trị khoá X. Nghị quyết viết: “Tài năng là vốn quý của dân tộc. Chăm sóc và giúp đỡ tài năng phát triển là trách nhiệm của toàn xã hội“. Như vậy có thể thấy cuộc sống đang mở đường và bảo trợ cho tài năng phát triển. Tuy vậy, về phần mình, cứ cho là tư tưởng trên được thấu triệt và thực thi tuyệt vời đến đâu chăng nữa thì vẫn không thể thay thế cho nỗ lực chủ quan của mỗi cá nhân. Tài năng là trời cho nên cũng có thể lấy đi bất cứ lúc nào. Bảo hiểm cho tài năng chính là thái độ sống đung đắn, một tình yêu rộng lớn không bao giờ mỏi mệt.
Thưa các bạn, câu chuyện của chúng ta xin tiếp tục bằng câu hỏi thứ 2:
- Các bạn viết văn trẻ, các bạn từ đâu đến?
- Chúng tôi đến từ tương lai.
- Đúng quá, các bạn là đại diện cho nền văn học tương lai. Nhưng trước khi tiến thẳng lên tương lai, xin các bạn hãy dành thời gian trò chuyện một chút với hiện tại. Mà cái hiện tại này mới cụ thể làm sao, có thể cảm thấy bằng làn da, bằng hơi thở, từng ngày từng giờ, một hiện tại vừa nhẵn nhụi vừa xù xì, vừa xa vừa gần, quấn quýt, bấu bện đến không thể gỡ ra được. Mà xem chừng bạn cũng đang còn quyến luyến với cái hiện tại này lắm. Nó làm nên yêu ghét, khổ đau, phấn khích, bồng bột, đắm say khiến bạn không biết khâu cất vào cái túi tám gang mười gang nào cho yên nên quyết định cầm bút. Và vì cầm bút mà các bạn cho người ta thấy các bạn đang lo âu, thao thức đang ra sao trước biết bao thuận cảnh và nghịch cảnh. Trong lúc đắm say, các bạn quên là các bạn đang làm công việc tự bộc lộ, tự vẽ chân dung của mình. Và lúc này đây bức chân dung đó mang dáng vẻ một người đang sốt ruột. Các bạn muốn cuộc đời phải nhanh lên, phẳng phiu, phải ngăn nắp đâu vào đấy, nghĩa là nó phải hiện ra đúng với hình dung và mong muốn của bạn. Nhưng cuộc đời nó cứ vận hành theo cái quy luật riêng của nó, nó tỏ ra đủng đỉnh trước sự sốt ruột của bạn, và chỉ chịu nhích lên phía trước khi tất cả chúng ta đều đấu tay vào cùng đẩy cỗ xe cuộc sống. Lý do đơn giản, nếu không đấu tay vào thì không tìm được ai là người lái con tàu đưa bạn đến tương lai. Thưa các bạn, tôi đã chọn câu chuyện dài dòng để nói đến một vấn đề mà các bạn đã tâm đắc từ lâu: Nâng cao tính tích cực xã hội của nhà văn.
Và sau đây, là câu hỏi thứ ba:
- Các bạn viết văn trẻ, các bạn từ đâu tới.
- Chúng tôi đến từ nền văn học trên mười đầu ngón tay.
- Ôi, nền văn học gì mà phải đấu cả mười đầu ngón tay vào như thế.
- Máy tính, vật tuỳ thân của những người viết trẻ.
- Hiểu rồi, các bạn muốn nói đến một nền văn học hiện đại, giao diện với toàn thế giới. Thế thì quý hoá quá, chúng ta khao khát được đồng hành với nhân loại từ lâu. Nhưng tò mò muốn hỏi các bạn sẽ gửi thông điệp gì cho nhân loại từ địa chỉ Việt Nam? Và trong khi trò chuyện với nhân loại, các bạn có bỏ quên số phận của một bộ phận nhân loại đang đau đáu gửi đá và gửi máu ra biển đảo, hay không? Các bạn có nói đến những ác mộng, những cơn mê sảng, đau đớn tột cùng cả thể xác và tinh thần của các nạn nhân chất độc da cam hay không? Và các bạn có nói cho cư dân mạng biết có những cô giáo nhỡ nhàng duyên phận sau nhiều năm dạy học đơn chiếc ở vùng cao hay không? Tất cả những câu chuyện bằng xương bằng thịt ấy có làm tổn hại đến tính sang trọng của văn học mười đầu ngón tay hay không? Nhân câu chuyện này, tôi muốn nhắc bạn là nơi ta họp đây rất gần với ngôi nhà cũ của Lan Khai và mỏ than Tràng Định, nơi ông lấy chất liệu để viết cuốn tiểu thuyết Lầm than nổi tiếng. Năm 1935, theo dõi ý kiến của nhà văn Pháp rất nổi tiếng lúc bấy giờ là André Ghide phát biểu trong một Hội nghị quốc tế rằng “Ngày nay vấn đề cốt yếu là tạo ra một nhân loại mới”, Lan Khai đáp lại như sau: “Tôi muốn nói khác. Ngày nay vấn đề cốt yếu của chúng ta là tạo ra cuộc đời tương lai cho một lớp người Việt Nam mới, bằng những khả năng của dân tộc.” Thay vì nói nhân loại chung chung, Lan Khai nói con người Việt Nam cụ thể, và nói đến con người, trước hết phải tạo ra cuộc sống cho con người. Một quan niệm như vậy về mối quan hệ giữa dân tộc và nhân loại đáng để chúng ta cùng suy nghĩ.
Chúng tôi biết vừa qua các bạn rất quan tâm đến hiện đại hoá nền văn học của chúng ta, đi đứng, nói năng, lập ý lập ngôn nhất nhất đều muốn chứng tỏ danh tính của công dân thế kỷ 21. Đúng quá, các bạn mà không quan tâm đến yêu cầu hiện đại hoá thì đổ trách nhiệm đó cho ai? Nhưng thế nào là hiện đại? Xin các bạn tham khảo lời di huấn sau đây của Tagor:
- Bất cứ tính hiện đại nào cũng không tuỳ thuộc vào thời gian mà tuỳ thuộc vào khí chất.
Khí chất, đó là tinh hoa. Thời gian có thể vượt qua tất cả, kể cả chính nó, trừ tinh hoa. Xem thế thì không phải bất cứ cái gì đến trước đều bị gán ghép oan uổng là lạc hậu, cũ kỹ; ngược lại cũng không phải bất cứ cái gì đến sau đều được phỉnh nịnh là hiện đại. Do đó, quá trình hiện đại hoá văn học phải gắn liền với quá trình nhân đạo hoá đời sống và văn hoá hoá tâm hồn. Như thế trong chiếc vi tính xách tay kia, ngoài phần cứng, phần mềm còn cần có một bộ phận mềm hơn, đó là một tâm hồn. Mà hình như chiếc máy tính của nhân loại lúc này cũng đang lắm vấn đề mà người ta đang tìm cách chữa, đó là bệnh vô cảm, bệnh sao chép, mô phỏng giản đơn. Và nói đến hiện đại thì thói quen thường thấy là liếc mắt sang Phương Tây. Tiếp thu Phương Tây là rất cần thiết, nhưng cần đọc kỹ Hướng dẫn sử dụng trước khi dùng. Là bởi vì đã có nhiều thứ của Phương Tây trở nên quá đát từ lâu. Và cũng đừng quên rằng, Phương Tây cũng khổ sở vì quá nhiều sự quái gở do nó tạo ra và họ đi tìm thuốc chữa từ Phương Đông. Để cho những cố gắng hiện đại hoá nền văn học không trở thành công việc gánh bùn sang ao, các bạn đừng chỉ lo sự phán xét của tương lai mà bỏ quên những câu thần chú của quá khứ, một quá khứ không bao giờ đứng yên mà luôn luôn sống động, không ngừng tiếp sức cho hiện tại và tương lai. Một trong những câu thần chú của quá khứ mà tôi muốn nhắc lại ở đây hôm nay đó là lối sống tình nghĩa của người Việt Nam. Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến đã bình luận rất hay về lối sống tình nghĩa như sau: Một khi bị rỗng ruột tình nghĩa thì… mọi học thuyết khoa học xã hội, nhân văn, dù hệ thống lý luận có kiên cố nguy nga đến đâu đi nữa cũng chỉ là những cái vỏ màu mè, hão huyền, những bong bóng có thể vỡ tan bất cứ lúc nào!! ” Lối sống tình nghĩa là đạo lý, là căn cước dân tộc, căn cước văn hoá quan trọng nhất trong hệ thống giá trị của Việt Nam. Hoá ra, mọi khát vọng hiện đại hoá văn học chỉ thực sự có nghĩa khi nó được phóng lên từ bệ phóng dân tộc.
Nhìn lại chặng đường vừa qua, thấy có một cách hành xử sai lầm, cho rằng và đã tốn bao mồ hôi để tỏ rằng, hiện đại hoá văn học là hiện đại hoá về hình thức.
Tách rời hình thức, tuyệt đối hoá hình thức ra khỏi chỉnh thể văn học chẳng khác nào đập vỡ chiếc cốc pha lê, biến nó thành những mảnh vụn mà tác dụng duy nhất chỉ có thể là sát thương văn hoá và nhiễm trùng văn học.
Lại cũng đã thấy có một cách hành xử khác, cho rằng viết khó hiểu mới sang trọng, dẫn đến tình trạng văn học đang mất dần công chúng. Tìm lời giải sáng sủa vấn đề này, xin các bạn lắng nghe câu thần chú của quá khứ đến từ Tagore. Tagore nói:
- Trò chơi chỉ là trò chơi khi có người chơi nó.
Vậy thì viết văn mà không có người hiểu văn nữa, làm thơ mà không còn người hiểu thơ nữa, thì văn thơ lập tức biến mất, trở thành con vật tàng hình đang kêu khóc thảm thiết ở đâu đó.
Hướng tới công chúng, sao cho mỗi tác phẩm là một thông điệp nồng nàn với đời sống, thắm thiết niềm tin yêu con người, đó là lẽ phải thông thường của văn học và cũng là khát vọng cầm bút của chúng ta.
Thưa các bạn.
Bằng tác phẩm của mình, các bạn đã chính thức bước lên những bậc thềm đầu tiên của ngôi đền văn học. Điều đó nói rằng, tài năng của các bạn không còn là của riêng các bạn nữa, nó đã thuộc về một cái gì rộng lớn hơn, cao vọng hơn. Cuộc sống, sự nghiệp, công chúng đang chờ đợi các bạn. Tất cả đang ở trước tầm tay. Chúc các bạn thành công.
Hà Nội 7.9.2011
Nguồn: http://binhchonthohay.com/News/Details.aspx?id=11091102
Chia tay nàng rượu violet
Offline nhà Hớ hôm nào, Violet đã để lại tàn dư
![[Hình: IMG_20120527_180651.jpg]](https://lh5.googleusercontent.com/-zH5qdpt-f3Y/T8N5qRgvxrI/AAAAAAAAEws/fuTeIZD36vY/s526/IMG_20120527_180651.jpg)
Thiết Hoa méc với Thi Thánh phu nhơn và công nương viagra
![[Hình: IMG_20120529_205522.jpg]](https://lh6.googleusercontent.com/-_KPI2zXzBbY/T8TgFfsYrKI/AAAAAAAAE1U/1ApfYOyCf-A/s701/IMG_20120529_205522.jpg)
![[Hình: IMG_20120529_183720.jpg]](https://lh5.googleusercontent.com/-YohKIwNv088/T8TcubKlT3I/AAAAAAAAEz0/U3ssXUtXKvg/s701/IMG_20120529_183720.jpg)
Nó lúc còn nguyên vẹn
![[Hình: IMG_20120529_183921.jpg]](https://lh4.googleusercontent.com/-0PWsgMYlpSU/T8Tc9RyuxoI/AAAAAAAAEz8/9VVdrH4hLNA/s701/IMG_20120529_183921.jpg)
![[Hình: IMG_20120529_183941.jpg]](https://lh4.googleusercontent.com/-rdXjFU9iEBk/T8TdLrq2-fI/AAAAAAAAE0E/eRQcDxLe5mk/s500/IMG_20120529_183941.jpg)
Chân kiềng
![[Hình: IMG_20120529_183957.jpg]](https://lh4.googleusercontent.com/-zVCRZL1irs0/T8Tda8rzTCI/AAAAAAAAE0M/MOQVlcO63uw/s526/IMG_20120529_183957.jpg)
Chân ghiền
![[Hình: IMG_20120529_183921.jpg]](https://lh4.googleusercontent.com/-0PWsgMYlpSU/T8Tc9RyuxoI/AAAAAAAAEz8/9VVdrH4hLNA/s701/IMG_20120529_183921.jpg)
Công cụ
![[Hình: IMG_20120529_203955.jpg]](https://lh5.googleusercontent.com/-Q2y7xozU-JY/T8TeOcIfRKI/AAAAAAAAE0c/MLNuGMPw-4M/s701/IMG_20120529_203955.jpg)
Tàn cuộc
Hội chứng mê thơ cuồng nhiệt và phong trào bốc thơm lẫn nhau
Hội chứng mê thơ cuồng nhiệt và phong trào bốc thơm lẫn nhau
VŨ QUẦN PHƯƠNG
Không biết từ bao giờ lưu hành cái nhận định rất tự hào rằng dân tộc ta là dân tộc yêu thơ (Đúng ra là yêu cách nói giàu vần, giàu nhịp điệu) rồi bà con ta cứ thể nô nức rủ nhau đi làm thơ. Từ khi việc in sách dễ dàng thì thể loại thơ được in ra tràn ngập chứ chất thơ trong tư duy, trong cảm xúc trong các cuốn gọi là thơ hiện nay thì quả thật chưa dám đảm bảo. Loại có vần thì ưu điểm là có vần, loại không có vần thì ưu điểm là rất giống văn xuôi mà không ra văn xuôi, nghĩa là không biết nó nói gì. Sự bội thu của các loại thơ ấy dẫn đến nghịch lý:
- Thơ in nhiều khiến hiệu sách không muốn bán thơ nữa.
- Người làm thơ đông nên người đọc thơ vắng...
Còn thứ thơ “cách tân” cao xa bí hiểm, chỉ những nhà cách tân đọc với nhau và bí tỉ khen nhau chứ độc giả thỉ không dám lai vãng.
Phải chăng vì thế mà mấy năm nay mỗi khi muốn thư giãn trên màn ảnh nhỏ, thì nhà thơ thường được nhà đài lôi ra như một thứ gàn dở, lập dị, ít tắm rửa và túng bấn.
Thơ có đáng tội như thế không?
Theo tôi, đám làm thơ ấy, nếu không có tài đi nữa, thì chỉ đáng thương và ngẫm nghĩ lại thấy họ đáng yêu. Đáng yêu ở chỗ ngây thơ. Còn đáng thương là họ tự làm khổ mình và làm khổ vợ con, vất vả thiếu thốn. Còn tội là tội mấy anh thày dùi, tên chữ là nhà phê bình, nhưng họ không bình mà cũng không phê. Họ cứ khen đại. Nhận định thơ mà như viết điếu văn, thấy toàn công to đức lớn. Những câu kỳ khu mà chính họ cũng chả hiểu thì họ khen là cách tân, độc đáo, không ai nói như thế mà anh dám nói. Là thơ đi trước thời đại. Là bản lĩnh cao cả, chỉ viết cho mình đọc, hướng nội, tâm linh u ẩn... Còn những câu đơn giản đại loại như: đói rồi ta đi ăn cơm thôi thì họ khen là chân thật, là không phấn son chữ nghĩa, không đẽo gọt kỳ khu, giản dị như lời nói thường, cạnh tranh được cả với văn xuôi. Nếu thơ đưa cả những tiếng tục tằn vào thì họ khen là táo bạo, là có công lập lại sự bình đẳng cho ngôn ngữ, tục thanh gì cũng được coi trọng như nhau. Người được khen, mới đầu hốt hoảng, nhưng nghe khen mãi có lúc chợt ngẫm nghĩ: không chừng mình được thiên phú tài năng thơ ca? có thể lắm chứ ! Sao không? Thế là bắt đầu tai họa.
Đối với người còn trẻ thì độ mươi năm, thì chứng mê thơ có thể thuyên giảm, may ra thì khỏi hẳn. Ấy là khi người ta có nghề nghiệp, kiếm ra đồng tiền, có trách nhiệm nuôi dạy con cái và ý nghĩ xã hội cũng nhiều thiết thực từng trải. Nhưng đối với người già, rất khó chữa, lòng yêu thơ ca giống như u xơ tiền liệt tuyến, ngày một phát triển. Các cụ cứ lục xục suốt đêm dạy đi tiểu và làm thơ Các câu lạc bộ thơ mọc khắp các thôn cùng xóm vắng. Học theo các tổ chức xã hội, ngành câu lạc bộ thơ cũng đại hội toàn quốc, đại hội cấp tỉnh, đại hội cơ sở. Cũng tự chế ra bằng khen, ra huy chương Vì sự nghiệp thơ ca VN , sang trọng như huân chương Nhà nước, tặng nhau tùy theo đóng góp thơ ca và tài chính.
Có điều muốn tìm một tập thơ, thì lại không biết mua ở đâu? Thơ ế, các hiệu sách nhất tề không nhận bán thơ nữa.
Các thi huynh thi hữu bèn nảy ra sáng kiến phát hành thơ bằng... mồm: cuộc họp nào bây giờ cũng có mục đọc thơ: từ họp người cao tuổi phổ biến tiêu chuẩn ưu tiên vào đài hóa thân hoàn vũ đến họp phổ biến lịch tiêm chủng cho chó mèo phòng dại và họp để công ty mỹ phẩm quảng cáo phấn son cho đến mít tinh ngày phụ nữ quốc tế... đều có mục đọc thơ. Trong đám cưới thơ cũng được vận dụng phong phú. Họ nhà trai, họ nhà gái, đại diện chính quyền phường, mặt trận, hội cựu chiến binh, đoàn thanh niên, phụ nữ... Cổ điển thì Đường luật. Dân gian thì lục bát. Nghe mà không hiểu gì thì là hậu hiện đại. Có đám tang giữa hai điệu kèn lâm khốc, phường bát âm cũng dừng lại đọc thơ kể công tích người quá cố hoặc ngâm vịnh ngợi ca cơ quan đang đến viếng. Lời lẽ châu ngọc và hài hước làm khách đến phân ưu lúng túng, mếu không ra mếu mà cười thì không dám.
Chơi thơ là việc tao nhã nhưng cái gì quá cũng không nên. Điều không nên nhất là đừng có xui (dại) người ta làm thơ. Đang yên đang lành đâm ra dở hơi dở hồn, tốn tiền tốn của, khổ vợ khổ con. Khen thơ theo kiểu viết điếu văn, lời lẽ huy hoàng choáng lộn, cũng e tổn thọ nền văn chương nước nhà lắm lắm!
Quyển tiểu thuyết sex táo bạo nhất trong thư tịch cổ Việt Nam ?
Quyển tiểu thuyết sex táo bạo nhất trong thư tịch cổ Việt Nam ?
NGUYỄN XUÂN DIỆN
Các chuyên gia về văn học cổ đều cho rằng Hoa viên kỳ ngộ là một tiểu thuyết sex táo bạo nhất trong cổ văn Việt Nam. Hiện Hoa viên kỳ ngộ tập chỉ có một bản chép tay duy nhất tại thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm mang ký hiệu A.2829, gồm 46 tờ (92 trang) khổ 27 x 15 cm. Tập sách được viết với nét bút rất bay bướm, lão luyện.
Cuộc gặp gỡ ở vườn hoa (Hoa viên kỳ ngộ tập) kể về cuộc tình duyên của Triệu Kiệu, con trai thứ hai của quan Tham chính họ Triệu, người đất Nam Xang thời Cảnh Hưng (1740-1786). Chàng thư sinh họ Triệu khôi ngô tuấn tú, học rộng tài cao. Một hôm dạo bước tới vườn hoa bên cầu Bích Câu, tình cờ gặp Lan Nương và Huệ Nương, con quan Ngự sử họ Kiều, đôi bên quen biết, tình tự rồi yêu nhau say đắm.
Triệu công tử được Kiều Công mến tài cho ở trong nhà để tiện thầy tiện bạn đèn sách. Chàng lân la đến khuê phòng của hai nàng, nhờ được Xuân Hoa và Thu Nguyệt là hai thị nữ của Lan Nương và Huệ Nương hết lòng giúp đỡ nên tự do đi lại. Vượt qua lễ giáo, họ đến với nhau, trai tài gái sắc, trao thân gửi phận, thỏa lòng mây mưa. Về sau Triệu Kiệu đi thi, đỗ Giải nguyên, được quan Ngự sử họ Kiều gả cả hai tiểu thư cho.
Các nhà nghiên cứu cho rằng đây là tác phẩm văn học cổ Việt Nam. Căn cứ vào địa danh huyện Nam Xang (tên huyện ứng với huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam ngày nay) và tên trấn Sơn Nam được đặt từ thời Lê, có thể tác phẩm này được viết vào khoảng cuối đời Lê.
Cuộc gặp gỡ ở vườn hoa xây dựng những tài tử giai nhân, sẵn sàng vượt qua lễ giáo. Cả hai chị em Lan và Huệ cùng yêu say đắm công tử họ Triệu, giúp nhau cơ hội tiếp xúc với chàng, thậm chí nhường nhau trong buổi giao hoan cùng chàng, rồi cuối cùng là cùng chung “tận hưởng cuộc hoan lạc trong cõi nhân gian, không còn biết Triệu là Triệu, Lan - Huệ là Lan - Huệ nữa”.
Ở một đoạn khác, tác giả còn để cho Triệu Công tử đề nghị hai tiểu thư Lan và Huệ kéo cả hai thị nữ Xuân Hoa và Thu Nguyệt vào cuộc và hai tiểu thư cũng đồng ý. Thế là một chàng công tử làn lượt giao hoan với hai tiểu thư, cô em trước, cô chị sau, rồi sau đó đến lượt hai cô thị nữ nữa.
Dưới đây, xin trích một vài đoạn từ bản dịch của GS. Nhà văn Phan Văn Các, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm:
“…Sinh (Triệu Kiệu) cả mừng, đưa tay vuốt ve Lan mà nói rằng:
Nàng hết lòng vì tôi như vậy, có thể gọi là con người hữu tâm đó.
Bèn kéo Lan vào lòng, một tay kéo đùi nàng, tay kia mân mê đôi vú, cười mà bảo rằng:
Tuyệt thật, vừa mềm vừa ấm, hệt như thịt đầu gà”.
“…Lúc này lòng dục của Sinh chợt nổi lên. Chàng bước tới ôm lấy mà nói:
Nàng đâu có giữ lời hứa như Quý Bố, tôi đã biết rồi. Phen này tôi quyết chẳng chịu ra về không nữa.
Nói xong cố sức đẩy Huệ xuống gối. Huệ cũng không chống cự.
Trong đệm phù dung hải đường máu nhuộm, dưới chăn phỉ thúy, đan quế hương bay. Mày ngài liên hồi chớp chớp mặc cho bướm lượn săn tìm, mắt phượng lim dim mơ màng, không cấm ong bay hút mật. Xiêm màu phấp phới khác nào mưa trút hoa sen, tóc mây rối bời, hệt như gió thổi cành dương. Thật là một khắc ngàn vàng, chỉ giận đêm vui quá ngắn”.
“…Hai nàng nhường nhau hồi lâu, Sinh cũng không thể tự chủ được nữa bèn một tay kéo lấy vài Lan, tay kia mân mê vú Huệ, mặc sức đùa cợt trong chăn phỉ thúy, tận hưởng cuộc hoan lạc trong cõi nhân gian, không biết Sinh là Sinh, Lan Huệ là Lan Huệ nữa”.
“…Một đêm ánh trăng trong trẻo, hai nàng bèn sai Hoa, Nguyệt đi mời Sinh. Sinh đến, Lan bảo:
- Đêm nay cảnh xuân dần đến, trăng sáng giữa trời, cho nên chị em thiếp thết tiệc mời chàng, gọi là Lan Đình thắng hội.
Sinh nói:
- Đối ẩm trước hoa, vào xuân dưới trăng có thể gọi là việc vui thú trên đời đó.Nhưng ta nay được cuộc gặp gỡ tốt lành này, thì cô Hoa cô Nguyệt quả là có công. Đêm nay hãy cùng các cô chung vui, hai nàng thấy thế nào?
Hai nàng đồng ý. Bèn cho trải đệm Phù Lưu, rót chén thuỷ tinh, ba người vào tiệc. Rượu đã ngà ngà, Sinh ôm Lan vào lòng, sai Hoa, Nguyệt chúc rượu. Huệ thì hát mời Sinh...
Ca vừa xong thì Sinh kéo Huệ đè xuống. Huệ nói:
- Trăng sáng giữa trời thế kia, sao có thể làm vậy?
Sinh nói:
- Bể biếc trời xanh cũng chiều lòng, Quảng Hàn muốn vậy mà không được, há lại ghen nhau sao?
Rồi đẩy ngã vào trong đệm, phỉ sức mây mưa. Xong rồi Sinh lại kéo Lan, Lan cũng không chống lại. Bắt chước theo hình dáng chim âu chim vụ, phỏng học theo tư thái uyên ương, quả là niềm cực lạc trong cõi nhân gian. Sau đó đến Xuân Hoa. Lúc Xuân Hoa giao hợp với Sinh, lòng xuân rạo rực, mặc cho Sinh muốn làm gì, không hề mảy may khó khăn. Sau đó đến Nguyệt, Nguyệt không chịu. Sinh nói:
- Đất đai trong thiên hạ, mười phần ta đã có được tám chín, nay chỉ còn mảnh đất nhỏ bằng viên đạn, sao dám chống cự vương sư?
Rồi bế vào trong đệm, mặc sức mây mưa. Hoa binh nguyệt trận, nhung mã tung hoành. Giao hoan xong, Sinh lại cùng hai nàng đối ẩm. Uống mãi cho đến khi trăng lặn sau núi, bất giác say mèm. Các nàng vực chàng vào ngủ”
Qua một số đoạn trích trên thấy người xưa cũng sex táo bạo quá. Nhà Nho mà viết về sex như thế thì thật quá lắm. Ta lý giải làm sao, khi đặt Cuộc gặp gỡ ở vườn hoa vào trong văn chương cổ Việt Nam, đột khởi một cái mấu ghê gớm như vậy. Sách thì Viện Nghiên cứu Hán Nôm đang lưu trữ. Các nhà nghiên cứu xếp nó vào tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam. Nội dung sách có địa danh Nam Xang, Sơn Nam là những địa danh Việt Nam. Các chuyên gia về văn học cổ đều cho rằng đây là một tiểu thuyết sex táo bạo nhất trong cổ văn Việt Nam. Thế thì sex Việt cổ cũng đáng gờm lắm, chứ đâu phải đợi đến các cây viết trẻ hôm nay!
Tưởng thế! Mà hình như lại không phải thế! Mới rồi, Phạm Văn Ánh ở Viện Văn học đã nghiên cứu văn bản này, và tỏ ý ngờ rằng có thể các cụ ta “tiếp biến” từ vài cái tiểu thuyết của Tàu. Chưa biết thực hư như thế nào.
Nguồn: http://lethieunhon.com/read.php/2692.htm
Thơ Phổ Thơ
Đọc thơ Cô Phố hôm nay
Tức mình lấy bút họa ngay mấy vần
Em đà bàn là
Cột chặt với những suy tư
Giá đừng nắng cực làm hư một mình
Thì mồng... tơi... chẳng thể xanh
Mà đã thâm tím chình ình phòng the
Em tô môi thoáng ấp e
Buộc con đường phải không về lối cu (cũ)
Hẻm sâu ngang trái âm u
Đời người con gái mơ mù quáng đi
Em về nhặt x...a...y
Đánh thơ cho bóng yêu vì sắc xuân
Quý thời gian , ghét đàn ông
Cái đồ có lỗi ...cắt gân cho rồi
Em xếp vuông nhật méo mình
Vẽ ra y một bức hình vần trăng
Đời không định hướng ra răng
Chệch chên rớt đổ nhăng răng Cuội già
"Em và giống chim thiên nga"
Đều là sàn phẩm thằng cha ngọc hoàng
Vốn là cắp lại đường hoàn
Dầu anh có xoắn thanh gươm tận cùng
Chạm sao tới mịt mùng
Tình yêu giả tạo đi cùng chị em
Hãy yêu và bám môi em
Bằng lòng vị, bằng thèm cái tha
Nếu không anh sẽ ra ma
Sau này chiêm nghiệm đời ta rất nhiều
(Cắt gì đau bằng cắt người yêu)
Rõ là thật khổ trăm điều hỡi ơi
Chiều nay trống rỗng rã rời
Linh Hồn thể xác, than ôi- Đàn bà
Hớ 27-05-12
Em tự cột mình với suy nghĩ không thật
Giá như nắng đừng gắt một mình tháng sáu
Có lẽ mồng tơi không xanh nơi bờ dậu
Mà thâm tím đầu giường
Em tự đánh phấn, thoa môi hồng, nhạt cười trong gương
Bó buộc con đường phải dài và không bao giờ lặp lại
Hẻm sâu ngang trái
Đời người con gái hay mơ
Em tự nhặt những kí tự a , b, c, x, y, z để đánh bóng câu thơ
Mặc định yêu mùa xuân, quý thời gian và ghét người đàn ông có lỗi
Cắt gân tay viết vội
Bài thơ tanh máu đồng trinh
Em tự xếp những hình chữ nhật, vuông, méo họa bức hình
Không tròn y vầng trăng tưởng tượng
Đời không định hướng
Chệch chân, rớt đổ Cuội già
Em và giống chim thiên nga
Đều là sản phẩm của trò đánh cắp mà thượng đế thích đặc ân làm trắng án
Dầu anh có xoắn thanh gươm nóng giòn kia vào tận cùng em cũng chẳng thể nào chạm tới hạn
Tình yêu… và sự giả tạo đàn bà!
Hãy yêu và bám môi em bằng lòng vị tha
Nếu không anh sẽ chết
Sau những ngày ta chiêm nghiệm đời ta và vô số đời ko ta
.............................................................(TA CẮT ĐỂ MỖI TA ĐAU)- RÕ KHỔ.............
Chiều nay thấy trống rỗng cả linh hồn và thể xác. Đàn bà!! Link bài viết
http://blog.yahoo.com/_A77ATHPKCTVEBLIBC...2411/index
Những điều chưa biết về nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp
Người đời nhớ đến tên tuổi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp với bài thơ Chùa Hương nổi tiếng. Nhưng ít ai biết rằng người thi sĩ tài hoa ấy là con trai của nhà báo, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh và là một cây bút tài năng. Tiếc rằng cuộc đời đoản mệnh, ông vĩnh biệt cõi trần khi mới ở tuổi 24, để lại cho hậu thế một tập thơ mỏng mảnh duy nhất với nhan đề Ngày xưa...
Hôm qua đi chùa Hương/ Hoa cỏ mờ hơi sương/ Cùng thầy me em dậy/ Em vấn đầu soi gương...” - Mỗi khi đọc lại những câu thơ này tôi lại nhớ tới một kỷ niệm ở Paris, vào giữa những năm 90 của thế kỷ trước. Hôm đó, trong quầy bar ở tầng hầm ngôi nhà rất sang trọng tại ngoại ô thủ đô Pháp của TS Việt kiều Nguyễn Văn Tuyên (nay đã thành quá cố), diễn ra một buổi ca nhạc thính phòng của các nghệ sĩ Việt với những người bạn.
Có mặt hôm đó là cố NSND Lê Dung, NSND Quang Thọ, pianist Hà Ngọc Thoa từ Hà Nội tới; nhạc sĩ Phạm Duy từ Mỹ sang; nhạc sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc Trần Văn Khê cùng con trai và con dâu của ông là nhạc sĩ Trần Quang Hải và ca sĩ Bạch Yến, những người Việt cư trú tại Paris...
Đấy là khi nhạc sĩ Trần Văn Khê vừa mới từ bệnh viện về sau một ca phẫu thuật khá nặng nên trông sắc mặt ông còn xanh xao lắm. Ấy vậy mà trong tình bằng hữu, nhạc sĩ Trần Văn Khê đã đứng dậy, gạt đi mọi nỗi mỏi mệt, hát lại ca khúc do chính ông sáng tác từ hơn nửa thế kỷ trước, bài hát Chùa Hương phổ thơ của Nguyễn Nhược Pháp. Vốn quen nghe ca khúc rất được phổ biến rộng rãi do ca sĩ Trung Đức phổ nhạc và luôn cảm thấy cấn cá khi cô gái quê của Nguyễn Nhược Pháp được cho “đi đôi guốc cao cao” để leo lên chùa Hương, tôi vừa thích thú vừa kinh ngạc khi thấy thơ Nguyễn Nhược Pháp được nhạc sĩ Trần Văn Khê chuyển thành ca khúc chuẩn mực và dân gian đến thế: thơ không bị tầm thường đi bởi những câu chữ thêm vào, mà giai điệu bên trong của thơ được phát huy tới mức tối đa. Nhạc sĩ Trần Văn Khê đã biểu diễn ca khúc này rất tuyệt vời: khi hát tới những đoạn đò đi, ông đã làm động tác chèo đò thực ngoạn mục, khó mà có thể hình dung được trước đó không lâu ông đã gần như kiệt sức vì ca phẫu thuật. Dường như những câu thơ trẻ trung, nhí nhảnh mà thấm thía của Nguyễn Nhược Pháp đã thổi vào ông thêm sinh khí...
Thực tiếc là ở Việt Nam hôm nay, ít người được nghe bài hát đó của nhạc sĩ Trần Văn Khê! Và cũng thực tiếc là hôm nay ở Việt Nam, chúng ta cũng không biết được gì nhiều về thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp, một tài hoa yểu mệnh.
Giỏ nhà ai, quai nhà nấy
Nguyễn Nhược Pháp sinh ngày 12/12/1914 ở Hà Nội. Chàng là con trai của một trong những cây bút có lẽ là vạm vỡ vào loại hàng đầu nước ta trong thế kỷ XX, nhà văn, nhà báo, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936), người có quê là làng Phượng Dực, Thường Tín (nay là làng Phượng Vũ, xã Phượng Dục, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây). Ông Vĩnh là một nhân vật kỳ thú của làng viết nước ta, còn chưa được hậu thế nhận thức đầy đủ. Con một người nông dân nghèo, sinh ra vào thời nước mất nhà tan, chỉ bằng trí tự thiên phú và lao động đến kiệt sức của mình, ông Vĩnh đã tạo dựng nên được một gia tài chữ nghĩa vô cùng đồ sộ mà ngay cả những người đồng thời, dù không đã đồng quan điểm với ông, cũng phải nể vì.
Ông Vĩnh từng dịch nhiều tác giả Pháp cổ điển sang Việt văn, trong đó có thơ La Fontaine mà bài phổ cập nhất có lẽ là bài Con Ve và con Kiến... Ông dịch Truyện Kiều của Nguyễn Du sang tiếng Pháp, rồi dịch cả những tác phẩm tiếng Hán như Tiền Xích Bích, Hậu Xích Bích sang Pháp ngữ... Ông còn là một nhà báo vào hàng gạo cội của những thập niên đầu thế kỷ XX, người góp công gây dựng nên nền báo chí Việt Nam khi đó. Theo hồi ức của nhà thơ Nguyễn Vỹ, ông Vĩnh “rất trung thực, không nịnh ai mà cũng không ưa ai nịnh mình, không tùy thời, mà chỉ tùy mình...”.
Trong con mắt của nhiều người đương thời, ông Nguyễn Văn Vĩnh là tấm gương lao động nghề nghiệp đến quên mình. Nhà văn Vũ Bằng nhớ lại: “Ông Vĩnh làm việc như con trâu cày, không mấy khi muốn phiền người khác. Có một lần, tôi đã được mục kích một cảnh như sau: không biết giận gia đình gì đó, ông lên một căn gác nằm khèo, nhờ ông Tụng (bác sĩ, nhân viên đắc lực của Saigon Công thương, chuyên lo chạy tiền vay cho ông Vĩnh – TG) mua cho một mẹt bún chả ăn trừ cơm, rồi viết luôn một bài xã thuyết cho Annam Nouveau, thảo một thư cho toàn quyền Pháp đưa xuống dưới nhà đánh máy luôn, dịch miệng “Têlêmác phiêu lưu ký” cho Đông Lĩnh Dương Phượng Dực ngồi ám tả, trong khi chính ông lại quay sang nói chuyện với ông Tụng về chuyện thống sứ Pháp “có ý muốn giúp ông tiền bất cứ lúc nào, bao nhiêu cũng được”, miễn là ông tạm gác ý kiến đả kích Pháp và ngưng chống nhà vua... Cho mãi đến tận bây giờ, tôi vẫn chưa thấy có ai viết báo nhiều loại khác nhau một cách tài tình và nghĩa lý như ông Vĩnh. Ông viết tin, viết xã thuyết, làm thơ, khảo cứu, phóng sự (Volonté Indochinoise) và dịch tiểu thuyết thì quả không chê được....”.
Là một người lao động sáng tạo như thế, lại ở thời nước ta còn theo tập tục phong kiến, dĩ nhiên ông Vĩnh là người đào hoa. Ông có tới ba vợ. Người vợ thứ hai chỉ sinh được một người con là Nguyễn Nhược Pháp. Năm thi sĩ của chúng ta mới lên hai tuổi, mẹ chàng vì đau đớn bởi chồng muốn cưới vợ ba nên đã tự vẫn. Thế là Nguyễn Nhược Pháp phải mồ côi mẹ từ đó...
Sống với một người cha tính tình có lẽ là phóng túng, cậu bé mồ côi mẹ Nguyễn Nhược Pháp mặc dù được chăm lo về vật chất nhưng chắc là trong thẳm sâu tâm hồn chàng luôn có một nỗi trống vắng nào đó. Chàng được cha cho ăn học đàng hoàng, đậu tú tài rồi vào Trường cao đẳng Luật khoa. Tuy nhiên, giống như cha, chàng không thích đi làm quan mà chỉ mê mải văn thơ báo chí. Ngoài thơ, Nguyễn Nhược Pháp còn viết truyện ngắn và kịch... Khác nhiều bạn cùng làng văn thuở đó, Nguyễn Nhược Pháp sống rất hồn nhiên và trong sáng: chàng không hề nghiện ả đào và thuốc phiện!
Hóm hỉnh nhìn đời
Ông Nguyễn Văn Vĩnh là một người cao lớn, bệ vệ, nhưng Nguyễn Nhược Pháp chỉ cao có 1,52 m thôi, giống như những người bạn mà chàng hay giao lưu như Nguyễn Vỹ, Phạm Huy Thông... Thế nhân biết chàng như một người lúc nào cũng hay mủm mỉm cười, cái miệng như móm. Chàng cũng là người hay nói, niềm nở, lịch thiệp với mọi người. Đặc biệt, ai cũng quý chàng vì khiếu khôi hài và giọng điệu “rủ rỉ như cô gái bẽn lẽn trên đường đi chùa Hương”.
Người làm sao, thơ làm vậy, tập Ngày xưa xuất bản năm 1935 của chàng thể hiện rất rõ một phong cách Nguyễn Nhược Pháp vô tiền và khoáng hậu trong thơ Việt Nam. Đây là tập thơ chỉ có trên dưới chục bài, toàn viết về những gì “vang bóng” từ lâu lắm rồi nhưng đã làm nên một kỳ tích mà Hoài Thanh và Hoài Chân đã nhận xét trong cuốn Thi nhân Việt Nam: “Thơ in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược Pháp”.
Bằng con mắt già trước tuổi của một người luôn giữ được cái nhìn non xanh vào cuộc sống, Nguyễn Nhược Pháp đã vẽ nên được diện mạo thời xưa đầy mơ mộng, hóm hỉnh và trìu mến... Bài Sơn Tinh, Thủy Tinh mà chàng viết tặng người anh cùng cha khác mẹ Nguyễn Giang là một thí dụ. Chàng đã kể lại tích cổ bằng những chi tiết thực lôi cuốn. Thí dụ như cách hành xử của Mỵ Châu khi chứng kiến cảnh Sơn Tinh và Thủy Tinh tỉ thí với nhau:
Mỵ Nương kinh hãi ngồi trong kiệu,
Bỗng chợt nàng kêu mắt lệ nhòa
(Giọng kiêu hay buồn không ai hiểu,
Nhưng thật dễ thương): “Ô! Vì ta!”.
Khổ kết bài thơ cũng đầy tinh tế và vui tính:
Thủy Tinh năm năm dưng nước bể
Giục núi hò reo đòi Mỵ Nương.
Trần gian đâu có người dai thế,
Cũng bởi thần yêu nên khác thường.
Điểm sáng nhất trong tập Ngày xưa có lẽ là bài Chùa Hương, thiên ký sự của một cô bé ngày xưa. Nhà thơ Nguyễn Vỹ kể lại: “Bài thơ Chùa Hương là bài khá nhất trong tập thơ Ngày xưa, có một lai lịch kỳ thú không ngờ. Chuyến đi Chùa Hương ấy, Nhược Pháp đi với tôi và hai cô gái nữa, đều là nữ sinh cả. Hai cô mang theo hai máy chụp hình, còn Nhược Pháp và tôi đều đi tay không. Trèo lên đến rừng mơ bỗng chúng tôi gặp một bà cụ vừa bước lên đèo, đường gồ ghề lởm chởm, vừa niệm: “Nam mô cứu khổ cứu nạn Quán Thế âm Bồ tát...”. Cô gái quê có lẽ là con của cụ, cũng đang niệm câu ấy nhưng nửa chừng trông thấy chúng tôi là hai chàng trai nhìn cô trân trân thì cô bẽn lẽn làm thinh không niệm Phật nữa. Cô đang đọc: “Nam mô cứu khổ cứu nạn...” rồi cô im. Đôi má cô đỏ bừng, cô cúi mặt xuống. Hai đứa tôi hỏi cô: “Tại sao trông thấy chúng tôi, cô không niệm Phật nữa? Cô gái quê có vẻ đẹp ngây thơ bỗng tỏ vẻ bối rối muốn khóc”.
Không ngờ hai cô bạn nữ sinh lên chụp được tấm hình hai đứa tôi đang hỏi chuyện cô gái quê, rồi có lẽ không bằng lòng chúng tôi nên hai cô lén đi trước, và đi lúc nào chúng tôi không hay biết, cũng chẳng nói năng gì với chúng tôi cả, bỏ chúng tôi ở lại với cô gái quê. Chúng tôi mê nói chuyện với cô này, một lúc sực nhớ lại hai cô bạn, chúng tôi vội vàng đi theo nhưng không kịp. Hai cô đã lên đến chùa Ngoài, rồi lên đến chùa Tiên Sơn, lẫn trong đám đông người, biến mất dạng. Đêm ngủ trong chùa Hương, sáng hôm sau ra về, chúng tôi mới gặp lại hai cô bạn đồng hành. Tôi phải xin lỗi mãi, nhưng Nhược Pháp cứ tủm tỉm cười không nói.
Về Hà Nội, hai hôm sau, Nhược Pháp đem đến tôi bài thơ Chùa Hương, mà trong bản chép ra đầu tiên Nhược Pháp đề là Cô gái Chùa Hương. Nhược Pháp lấy cuộc gặp gỡ lý thú của chúng tôi với có gái quê làm đề tài và tưởng tượng thêm ra, thành bài thơ đẹp, giọng ngây thơ, y như cô gái chùa Hương hôm ấy...
Trong tuần ấy, anh góp các bài thơ của mình, thành một quyển. Anh đưa tôi và hỏi:
- Có nên xuất bản không?
- Nên!
- Nhưng tiền đầu? - Nhược Pháp cười móm mém.
- Xin ông cụ.
- Thôi, tôi mà đưa ông cụ xem cái của nợ này, thì chắc chắn là ông cụ sẽ vứt nó vào sọt rác.
- Đưa bà cụ vậy.
- Ừ, phải đấy!
Một tháng sau, quyển thơ Ngày xưa ra đời. Sách in xong mà Nguyễn Nhược Pháp vẫn rụt rè, chưa dám đưa cụ Nguyễn Văn Vĩnh xem, chỉ sợ cụ vứt vào sọt rác”.
Nghe nói, sinh thời Nguyễn Nhược Pháp có yêu một thiếu nữ tên là Thanh nhưng cuộc gặp gỡ tình cờ ấy cũng đã không mang lại được một cái gì hiện hữu cho cuộc đời thật của chàng. Người thơ, yêu cũng như sương khói, chỉ có những suy tư, cảm xúc được biến thành vần điệu là ở lại lâu dài với hậu thế mà thôi. Nguyễn Nhược Pháp qua đời vào ngày 19/11/1938. Thi nhân đôi khi cũng như danh tướng và mỹ nữ, “bất hứa nhân gian kiến bạc đầu”
Theo Hoàng Nguyên (CAND)
| Chủ đề Mới nhất |
|
Hơn 3.000 bài thơ tìn...
-Chuyên đề: Thi Ẩm Lâu-Đăng bởi lần cuối: phambachieu-03-09-2026, 09:30 AM-
» Bài trả lời: 2,225-
» Lượt xem: 221,433
|
|
aydada thử
-Chuyên đề: Luyện võ trường-Đăng bởi lần cuối: hothiethoa-20-01-2026, 04:56 PM-
» Bài trả lời: 4-
» Lượt xem: 449
|
|
Truyện Thỏ Bông bị...
-Chuyên đề: Thi Ẩm Lâu-Đăng bởi lần cuối: hothiethoa-23-05-2025, 04:04 PM-
» Bài trả lời: 1-
» Lượt xem: 2,628
|
|
Thơ vui sưu tầm
-Chuyên đề: Tàng thi viện-Đăng bởi lần cuối: hothiethoa-15-02-2025, 09:36 AM-
» Bài trả lời: 0-
» Lượt xem: 76
|
|
Những vần thơ bất ...
-Chuyên đề: Thi Ẩm Lâu-Đăng bởi lần cuối: aydada-13-01-2025, 10:21 PM-
» Bài trả lời: 1,001-
» Lượt xem: 428,598
|
|
Gửi cho Áo tím
-Chuyên đề: Tàng thi viện-Đăng bởi lần cuối: hothiethoa-22-11-2024, 08:42 AM-
» Bài trả lời: 69-
» Lượt xem: 31,490
|
|
Riêng một góc trời....
-Chuyên đề: Thi Ẩm Lâu-Đăng bởi lần cuối: Long Giao Anh-25-10-2024, 08:18 PM-
» Bài trả lời: 51-
» Lượt xem: 24,503
|
|
TRANG THƠ JENNY HO
-Chuyên đề: Thi Ẩm Lâu-Đăng bởi lần cuối: phambachieu-17-10-2024, 07:53 AM-
» Bài trả lời: 495-
» Lượt xem: 45,441
|
|
Nhật ký Thi ẩm lâu ...
-Chuyên đề: Tác Văn Lâu-Đăng bởi lần cuối: hothiethoa-11-10-2024, 10:31 AM-
» Bài trả lời: 1,755-
» Lượt xem: 684,456
|
|
TRANG THƠ CHÂM BIẾM P...
-Chuyên đề: Thi Ẩm Lâu-Đăng bởi lần cuối: phambachieu-13-08-2024, 12:22 PM-
» Bài trả lời: 8-
» Lượt xem: 325
|
| Diễn đàn Thống kê |
|
» Thành viên: 1,151-
» Thành viên mới nhất: bongdalupl-
» Diễn đàn chủ đề: 1,949-
» Diễn đàn bài viết: 32,999
-Thống kê đầy đủ
|
| | | | | | | | | |