Vẫn biết yêu nhiều, chuốc khổ đau
Mà không cố tránh để rơi vào
Trăm năm hẹn ước... chia lìa vội
Một kiếp thề nguyền... cách biệt mau
Trở lại vườn xưa ôm gió tuyết
Quay về bến cũ hái trăng sao
Chôn đi mảnh vụn tro tàn ấy
Sót lại gì đây? kỷ niệm nhàu
Tôi không thi sĩ trên đời
Không say men đắm đón mời thế gian
Trái tim tôi trót vương mang
Vần thơ êm ái vào trang mộng tình
Tôi say trời lúc bình minh
Tôi mê đắm ngắm trăng in đáy hồ
Ngơ ngẩn chẳng biết nơi mô
Mà sao thương nhớ lững lờ mây bay
Gởi hồn vào mộng gì đây?
Những khi buồn,nhớ thơ say thẫn thờ
Ai bảo tôi hay mộng mơ
Nên nhiều thương cảm dại khờ thế thôi
Mặc tình chê trách hay cười
Hồn tôi đã trót một đời yêu thơ
Trong tôi ngọn sóng tràn bờ
Với thơ tôi chẳng bơ vơ lạc loài
Dòng thơ là một tình say
Ý thơ là cả mộng đầy hương xuân!
Không biết các cụ con trời ngày xưa có thâm ý gì không mà khi sắp thứ tự cho mấy con vật được dùng để tiêu biểu cho mười hai con giáp của phép tính niên lịch thì đã để cho con dê đi sau con ngựa, nhưng khi nghiệm lại cái ngụ ý tượng trưng của những con vật được dùng để chỉ cá tính của con người thì đúng là con dê cà tửng theo con ngựa thật. Ðiều này chắc chắn ai trong chúng ta cũng thừa biết vì cái thủa còn là học trò thì ai mà chẳng từng sống với cảnh mấy con ngựa nhí nhảnh tan trường về và phía đàng sau là mấy anh chàng dê non theo kề rề. Cái hình ảnh này thế mà cũng dễ thương đến nỗi có nhà thơ đã cảm hứng để làm thành thơ rồi sau đó lại được một ông nhạc sĩ xúc động theo để đem phổ thành nhạc và nhờ thế mà thiên hạ từ đó mới có một chút gì để cho mình gợi nhớ mỗi khi thấy buồn bâng quơ:
Em tan trường về
Anh theo rề rề...
Tuy nhiên, cái hoạt cảnh này không phải chỉ có thế mà còn nhiều màn vui ra phết là vì dê chỉ biết có mỗi món võ húc cho nên mỗi khi muốn tấn công mục tiêu là chỉ biết có mỗi một việc húc đầu vào mà thôi. Còn ngựa thì lại chỉ rành có ngón đá hậu. Chính vì thế mà khi dê buồn tình theo kề rề ngựa rồi húc đầu vào mông ngựa mà ngựa không hài lòng là thế nào cũng bị ngựa đá giò lái để cho dê chỉ còn nước ôm đầu máu tháo chạy. Có lẽ vì nhớ những hình ảnh vui vui này mà nay lại là lúc năm Ngọ lụi hụi qua và năm Mùi lục tục đến, thiên hạ lại lôi con dê ra làm đề tài kháo chuyện, tôi thấy mình bỗng nhiên cũng hăng tiết nhảy vào góp dăm ba câu chuyện lẩm cẩm về dê cho hội hè ngày xuân thêm rậm đám.
Cứ theo tử vi mà luận đoán thì tuy ngày sinh tháng đẻ của tôi chả có tí gì dính dáng tới con dê cả nhưng có lẽ vì tôi sinh vào năm con bò, nhằm giờ chó sủa, do đó hễ gặp sao vàng chiếu mệnh thì sớm muộn gì cũng phải thành ra cầm tinh bị gậy, cho nên thủa nhỏ có được cha mẹ cho đua đòi chữ nghĩa, nhưng mới lên mười thì mất mẹ, rồi vài năm sau đó cha lại được Công An Liên khu mời về cơ quan để "hội ý" rồi không bao giờ còn trở lại nhà nên tôi vừa mới tấp tểnh lên năm đầu của bậc trung học thì được bà con xóm làng thương, đặc miễn cho cái chương trình bậc phổ thông dài dòng mất thì giờ để chuyển thẳng vào đại học Du mục Tô Vũ tại địa phương mà không cần phải qua kỳ thi tuyển nào cả. Thế là ngày ngày tôi được lùa dê lên đồi thả cho đi ăn tự do rồi sau đó thì thong thả đi săn rắn mối, moi trộm khoai mì nướng ăn chờ giờ lùa dê về.
Cái lý do tại sao tôi không được chăn trâu hay chăn bò mà lại chăn dê cũng dễ hiểu thôi vì cái xóm đạo vùng ven biển mà sau ngày mẹ tôi mất rồi cha tôi dẫn mấy anh em tôi cùng về tá túc, vốn không có ruộng, chỉ toàn là đất cát nên chỉ có thể trồng dừa với lại khoai mì nên chẳng ai nuôi trâu bò cả. Tuy nhiên vì sau xóm có một ngọn đồi có nhiều loại cây nhỏ lúp xúp có nhiều lá cho dê ăn nên một số gia đình ở đây mới nảy sinh ra thêm cái nghề nuôi dê này.
Còn cái Ðại học Du mục Tô Vũ thật ra chỉ là cái tên của tôi đặt ra sau này, để gợi nhớ những ngày phải đi chăn dê mà cứ tưởng như mình là Tô Vũ ngày xưa. Ông quan này được Hán Võ Ðế sai đi sứ sang Hung Nô để thương thuyết hòa bình thì bị chúa Hung Nô dụ về đầu nhưng Tô Vũ không chịu. Chúa Hung Nô nổi giận bắt Tô Vũ bỏ vô hang ba ngày không cho ăn uống để cho chết nhưng Tô Vũ lại không chết nên mới bị đày ra đất Bắc chăn dê, và dạy rằng chừng nào dê đực đẻ mới cho về. Nhưng dê đực thì làm sao mà đẻ, cho nên Tô Vũ đành an tâm mà chăn dê mãi cho đến gần hai mươi năm sau, chúa Hung Nô giảng hòa với nhà Hán, Tô Vũ mới được tha.
Tuy gọi là đại học du mục nhưng trong đội ngũ nhà trường chưa có ai được liệt vào hàng giáo sư để giảng dạy về mấy môn như động vật học, khảo cổ học, nên tôi chả biết tí gì về những chuyện như con dê thuộc họ hàng nào của loài động vật, thủy tổ phát xuất ở đâu, vào thời kỳ nào, và sau đó được chia thành bao nhiêu chi tộc, rồi cơ duyên nào xui khiến cho dê bắt đầu kết nghĩa với người để về sống chung làm gia súc cho người uống sữa, ăn thịt, còn da thì được lột ra rồi đem thuộc để may áo, chế thành vật dụng cho người dùng, nhưng nhờ gần gũi với bầy dê hằng ngày mà tôi cũng có được vài kiến thức sơ đẳng về con vật thường được người ta dùng để ám chỉ mấy anh chàng có máu mê gái và thường hay sung độ.
Dê không ăn cỏ như trâu bò mà chỉ ăn toàn lá cây cho nên phân dê có hình dáng tròn tròn khô ráo giống như mấy viên thuốc tể của người Tàu chứ không choèn nhoẹt như phân bò và hôi thúi như phân heo cho nên chăn dê không đến nỗi bị chê là ngu như chăn bò và cũng không dơ bẩn như chăn heo, huống hồ xét trong lý lịch của hàng ngũ chăn dê trên thế giới thì trong sử sách ghi lại còn có cả một vị từng là quan chánh sứ của nhà Ðại Hán Trung Quốc. Có điều dê nhỏ con nên chăn dê không được hưởng cái thú cỡi lên mình nó mà nghêu ngao như chăn trâu chăn bò, trái lại khi lùa dê đi ăn mà có con nào ương ngạnh bỏ hàng ngũ nhảy vào vườn phá cây cối của người ta trồng thì mình phải chạy theo nó và dùng roi quất lia lịa để cho nó chừa cái tội thích tự do cá nhân, không chịu theo đúng đường lối chính sách đi ăn của nhà chăn dê đã đề ra.
Thường thì người ta chỉ nuôi dê cái, còn dê đực thì cả bầy chỉ có một con thôi, vì con người thấy rằng một bầy dê chỉ cần một anh dê xồm là đủ mang lại niềm vui và hạnh phúc cho tất cả các nàng dê cái, cho nên những dê con mới sinh ra nếu là giống cái thì cứ an tâm mà hưởng cái tuổi thọ trời cho mình, còn như là đực thì khi mà anh chàng dê con vừa lớn tới độ thấy cuộc đời là đáng yêu thì cũng là lúc anh dê này phải tức tưởi từ giã nó vì người ta không muốn để cho mấy anh dê non lớn lên nữa thì chỉ thêm loạn. Hơn nữa, khi dê còn nhỏ thì thịt còn thơm chứ một khi đã trở thành dê xồm rồi thì cái mùi hôi dê có tẩm một tấn ngũ vị hương vào cũng không át nổi.
Vì dê không được người ta nuôi nhiều cho nên khi một anh dê bị làm thịt thì cái món gì của dê cũng qúy cả. Thịt dê được mấy ngài sành ăn nhậu khen ngon và lành đã đành, huyết dê thì được đánh tiết canh hay còn được dùng để pha vào rượu cho qúy ông uống mà lên tinh thần và tăng cường sinh lực, còn dái dê thì lại càng được quí còn hơn thuốc bổ thận cho nên chỉ ông nào có diễm phúc lắm mới được dùng đến nó.
Nhờ chăn dê mà tôi mới để ý cái điều là dê cũng có sừng và có râu. Về cái sừng thì dê cũng giống như bò, lúc mới ra đời sừng chưa có mà phải đợi khi đã bắt đầu lớn thì sừng mới nhú ra, nên tôi không lấy gì làm lạ. Duy có một điều là bộ râu của dê thì không vểnh ra như râu mèo hay râu cọp mà lại quặp vào khiến tôi đâm ra thắc mắc là vì tôi thấy mấy chú bác vui tính thường hay chọc đùa mấy cụ ông xưa nay vốn nổi tiếng biết nể vợ nhiều hơn sợ trời:
Vuốt râu ra ta không sợ vợ
Quặp râu vào ta sợ vợ ta
Không phải chỉ thế thôi mà ngay trong ca dao cũng có câu:
Xưa kia có thế này đâu
Bởi vì sợ vợ nên râu quặp vào.
Ðiểm thắc mắc của tôi là không hiểu tại sao người ta lại bảo mấy người râu quặp thì sợ vợ trong khi tôi nhận thấy thì anh chàng dê đực cũng râu quặp nhưng lại tới hàng tá vợ dê cái mà vẫn ngang nhiên ban phát niềm vui cho mọi nàng dê chứ có qụy lụy một mụ dê nào đâu. Thấy đây cũng là một vấn đề khá lý thú nên tôi tính để dành làm đề tài sau này soạn luận án lấy bằng Phó Tiến sĩ khi ra trường. Rất tiếc là tôi không được tiếp tục theo học đại học Tô Vũ này cho đến lúc thành tài mà chỉ vài năm sau đó do thời thế đổi thay nên tôi bị đuổi khỏi trường đại học du mục này để về thành phố làm một tên học sinh bắt đầu học lại bậc trung học. Thế là tôi mất luôn cái cơ hội để tìm hiểu xem dê đực có sợ dê cái giống như người hay không.
Trở lại làm học sinh, tuy không còn trông thấy dê nhưng nhờ được học những môn văn chương chữ nghĩa như cổ văn mà tôi được thầy giảng cho nghe nhiều điển tích liên quan về dê như cái chuyện ông Tô Vũ mà tôi đã mạn phép dùng tên để vinh danh cho cái trường đại học du mục tôi đã từng theo học trước đây. Rồi khi học Cung Oán ngâm khúc, đọc những câu như: "Dấu dương xa lối cũ quanh co", nếu không được thầy giảng cho nghe thì làm sao mà biết dương xa là cái gì lại đi vào lối cũ quanh co.
Thì ra dương xa là xe do dê kéo. Chả là mấy vị vua chúa ngày xưa thì ông nào cũng có vô số vợ. Riêng ông vua Võ đế nhà Tấn thì ngoài cái việc có rất nhiều cung phi mỹ nữ, lại còn thêm cái sở thích đêm đêm dùng xe do dê kéo để đi thăm các bà cung phi. Nhiều hôm nhà vua không biết mình nên đến với bà nào đành cứ việc lên xe ngồi mặc cho dê tự ý muốn kéo mình đi đâu tùy thích, và hễ xe dê ngừng ở nơi nào thì nhà vua sẽ nghỉ đêm tại đó. Do đó mà bà cung phi nào nhớ thương vua nhiều thường hay kiếm mấy cành lá dâu cắm ở ngoài cửa phòng mình để cho dê thấy lá dâu thì thèm ăn mà kéo xe vua đến với mình.
Thấy học văn chương điển tích đã nhiều mà chẳng có cái điển tích nào giúp tôi giải tỏa được cái thắc mắc tại sao mấy người sợ vợ thì lại bị người ta gọi là râu quặp. Vừa lúc đó thì tôi được học đến truyện Kiều, thế là bỗng nhiên tôi như tìm ra chân lý.
Truyện này kể rằng lúc Kiều đã phải vào lầu xanh thì gặp được Thúc Sinh. Cái anh chàng này vì có máu dê trong người cho nên mặc dù đã có vợ là sư tử Hoạn Thư nhưng cũng lén sư tử để đi dê nàng Kiều, rồi lại còn làm ra vẻ hào hiệp cưu mang cho nàng Kiều thoát khỏi chốn lầu xanh để cùng nhau xây dựng một cái động dê riêng cho nhau. Lúc sư tử Hoạn Thư khám phá ra mình bị cắm sừng thì nổi tam bành sai đám khuyển mã tới phá nát cái động dê và bắt luôn cả em dê Kiều đem về cho mình trị tội. Anh chàng dê Thúc Sinh về nhà thì thấy em dê Kiều của mình đã bị sư tử tha về đây từ hồi nào nhưng vì bản chất dê thì nhút nhát nên anh chàng dê Thúc Sinh mới không dám nhận họ hàng mà chỉ đau khổ ngồi nhìn nàng sư tử Hoạn Thư vờn em dê Kiều của mình đến tả tơi chứ không hề dám thở than. Rất tiếc là Nguyễn Du khi mô tả anh chàng Thúc Sinh này lại quên không đề cập đến anh chàng này có râu hay không, nhưng nếu có râu thì chắc chắn phải là râu quặp vì ngồi run rẩy nhìn sư tử vờn dê mà vuốt râu thì chỉ có thể vuốt vào cho nó quặp thôi chứ không tài nào vuốt ra cho nó vểnh lên được.
Vì con dê được người ta dùng làm biểu tượng cho sư dâm đãng nên người có tính dâm đãng còn được người ta gọi là người có máu dê, có khi còn gọi là máu 35. Lần đầu tiên nghe người ta nói đến loại máu này tôi cứ nghĩ là kiến thức về khoa học của mình quá kém vì đọc trong sách vở thì chỉ thấy máu người theo sự phân loại của y học chỉ có bốn loại được đặt tên bằng các mẫu tự A B và O chứ đâu còn loại nào khác nữa và được đặt tên bằng số đâu. Thì ra chẳng qua cũng chỉ tại mấy ông con trời bày ra lắm môn cờ bạc cho dân ta ham vui rồi móc túi nộp tiền cho mấy tay xì thẩu nên trong môn đánh đề các ông con trời cũng dùng những con vật tượng trưng cho các con số để giúp cho dân ghiền đánh đề dễ nhớ, và con số 35 được tượng trưng bằng con dê xồm. Thế cho nên anh nào thuộc loại máu 35 thì cũng đồng nghĩa với máu dê nhưng có lẽ còn pha thêm tí cờ bạc nữa thì phải.
Ngoài ra vì dê không biết rống như bò hay gầm như cọp mà chỉ biết kêu be he nghe rất dễ ghét nên mấy anh chàng hay bắt chước dê đi ghẹo gái theo kiểu be he thì thế nào cũng bị các bà các cô mắng "Ðồ băm lăm", còn mấy ông già mà cũng be he thì bị mắng là "Ðồ già dê..." Tuy là mắng thế đấy nhưng giả dụ nếu như tất cả đàn ông con trai trên thế gian này mà không một ai biết be he tí nào cả thì chắc có lẽ hàng tỉ con cháu E-và trên trái đất này chỉ có nước buồn vì khô héo mà chết mất thôi.
Kể ra thì dê bị con người kết cho cái tội dâm đãng nhưng thật ra bản chất dê rất hiền lành nhút nhát cho nên thành ngữ mới có câu Dương chất hổ bì nghĩa là cốt là dê mà là da cọp, dùng để chỉ mấy người chỉ quen mượn oai hùm để loè thiên hạ chứ mình thì chả ra cái thớ gì cả. Câu này cũng giống như câu truyện ngụ ngôn Dê đội lốt cọp. Một anh chàng dê xồm nọ sau khi "chào buổi sáng" tất cả các chị dê trong bầy xong thì hết chuyện làm sinh buồn tình bèn đi kiếm đâu được bộ da cọp khoác lên mình rồi quay về hù mấy chị dê cái nhà mình cho vui. Cả bầy dê nhác trông tưởng là cọp thật cong đuôi chạy làm anh chàng dê xồm khoái trá cười be he. Cọp thật nghe tiếng dê be he liền nhảy tới nhưng không thấy dê mà thấy có một anh cọp khác nên còn phân vân dò xét thì anh chàng dê xồm khoác bộ da cọp quay lại thấy cọp thật bèn hồn vía lên mây, phóng chạy như bay làm văng luôn cả bộ da cọp.
Nói chuyện dê thì chắc còn nhiều lắm nhất là những chuyện dê bên Tây bên Mỹ nhưng vì tôi không thông tiếng nước ngoài nên không đủ khả năng tìm hiểu. Tuy nhiên quay về với cội nguồn dân tộc thì thấy còn một chuyện tuy có liên quan đến dê mà không phải là dê, đó là hai câu sấm của cụ Trạng Trình:
Mã đề Dương cước anh hùng tận,
Thân Dậu niên lai kiến thái bình
Cứ theo như nghĩa trơn của hai câu sấm trên mà giảng thì cuối năm ngựa đầu năm dê là anh hùng nào rồi cũng đi đoong và kế tiếp là qua năm khỉ năm gà là dân chúng sẽ nhìn thấy cảnh thái bình.
Kể từ khi Việt Nam bị Pháp chiếm làm thuộc địa rồi sau đó thì cứ chiến tranh triền miên, đói khổ liên tục khiến nhân dân lúc nào cũng mong ngóng cảnh thái bình. Chính vì thế mà cứ mỗi lần cảm thấy ngán ngẫm với thời cuộc, nhiều người lại hay đem hai câu sấm này ra luận giải để mong tìm ra một chút hy vọng. Bao nhiêu năm qua, cứ mỗi lần cái chu kỳ mười hai con giáp tiến đến giai đoạn Ngọ Mùi Thân Dậu tiếp nối nhau là thiên hạ lại hồi hộp chờ đợi một sự biến chuyển nào đó sẽ mang lại sự tươi sáng cho muôn dân.
Nay lại cũng là lúc ngựa đá chân dê, không biết các bậc quang minh cao kiến có vị nào tìm thấy một lời giải đáp nào khác cho cái tiền đề này chưa hay cũng chỉ tiếp tục luận đoán?
Ngày tôi còn trẻ, có một ông bạn thấy tôi chỉ biết đứng cạnh gốc cây si bến đò nhìn mấy nụ hồng xách gói sang sông rồi ngẩn tò te, liền bảo tôi: "Bạn cứ việc yên chí mà cưới vợ đi, vì lỡ nếu bạn không hạnh phúc thì bạn cũng sẽ trở thành một triết gia". Ông bạn còn bảo đây là lời khuyên của một triết gia chính hiệu nên tôi đã tin theo. Sau đó thì tôi bắt đầu thấy là tôi rất muốn tìm cho ra cái ông triết gia đã đưa ra cái ý tưởng này để học hỏi thêm, nhưng tìm mãi mà không gặp, đành chỉ biết ngồi tự mình suy gẫm lẩm cẩm về chuyện mấy ông triết gia và vấn đề hạnh phúc vậy.
Theo Sáng Thế ký trong Sấm Truyền cũ của người Do Thái thì vũ trụ này là do Thượng đế sáng tạo nên và sau khi Thượng đế tạo dựng ra quả đất này với đầy đủ núi sông cây cỏ cầm thú cho tới giun dế, Thượng đế bỗng thấy công trình của mình chưa trọn vẹn nên mới lấy bùn nặn ra một hình tượng giống mình và hà hơi vào để ban cho cái hình tượng ấy sự sống, rồi gọi đó là con người và đặt tên cho là A-dong để thay mình cai quản quả đất này.
Thấy A-dong trơ vơ có một mình thì không biết là mình đang hạnh phúc nên Thượng đế mới làm cho A-dong ngủ say rồi rút bớt của A-dong một mẩu xương sườn và dùng nó để nắn thành một người nữ mà Thượng đế đặt tên cho là E-và. Khi A-dong thức dậy thì cảm thấy mình bỗng như thiếu thốn đi một cái gì đó. Bấy giờ Thượng đế mới hiện ra dẫn theo E-và và bảo với A-dong rằng Thượng đế đã tạm mượn của A-dong một mẩu xương sườn để nặn thành cái hình hài này, bây giờ Thượng đế đem trả lại cho A-dong để cho ông ta được trở lại toàn vẹn như trước hầu thấy được hạnh phúc. Thế là A-dong ôm lấy E-và như là một phần bản thân của chính mình, nhưng vì không được Thượng đế chỉ cách làm cho E-và trở thành mẩu xương sườn trong người như cũ nên chỉ biết để cho E-và đeo theo bên cạnh mình từ đó.
Vì muốn cho A-dong và E-và lúc nào cũng hạnh phúc, Thượng đế đã cho hai người được sống tại một nơi đầy đủ mọi thứ cho nhu cầu của con người mà Thượng đế gọi là vườn Ðịa đàng. A-dong và E-và suốt ngày chỉ việc rong chơi và ăn uống tùy thích, duy có một cái cây ngay giữa vườn sum sê đầy trái đẹp đẽ mà Thượng đế gọi là cây "hiểu biết" thì Thượng đế lại cấm A-dong và E-và không được ăn. Chính vì bị cấm ăn trái cây ấy nên mặc dù A-dong và E-và sống trong hạnh phúc nhưng lại chẳng hiểu biết là mình đang hạnh phúc.
Bấy giờ Lu-xi-phe là tên cầm đầu đám thiên thần phản bội Thượng đế trước đây nên bị Thượng đế phạt sa xuống Hỏa ngục, nay thấy Thượng đế dựng nên quả đất này cho loài người, lại còn ban hồng ân riêng cho con người được hưởng thì ganh tức bèn một hôm hiện hình thành con rắn quấn trên cây "hiểu biết" chờ E-và đi qua thì đưa lời cám dỗ.
Nghe rắn nói ăn quả cấm này thì con người cũng sẽ hiểu biết và trở thành ngang hàng với Thượng đế nên E-và không ngần ngại hái một quả ăn thử, lại còn đưa cho A-dong cắn một miếng. A-dong vừa nuốt chưa trôi khỏi cổ thì sực nhớ lời Thượng đế dặn nên ngưng lại. Phiền một nỗi là miếng trái cấm ấy bây giờ cứ nằm nghẹn trong cổ, khạc chẳng ra cho mà nuốt cũng chẳng vào, tuy nhiên cái chất của trái cây ấy thì cứ từ từ mà ngấm vào bao tử ruột gan để biến A-dong cũng dần dần hiểu biết lờ mờ rằng nếu mình không dại dột nghe lời E-và ăn trái cấm thì đâu có mắc nghẹn như thế này, nhưng chuyện đã lỡ rồi không làm sao cứu vãn được nữa.
Thượng đế thấy A-dong và E-và không tuân lời dạy của mình nên hiện ra và giận dữ phán rằng từ nay A-dong phải lao động "đổ mồ hôi sôi nước mắt" thì mới có cái mà ăn, còn E-và thì phải sinh con đẻ cái để cho giòng giống người được sinh sôi nẩy nở ra cho đầy mặt đất này như ý Thượng đế muốn, nhưng E-và phải chịu cảnh "mang nặng đẻ đau" để trả giá cho cái hạnh phúc mà con người muốn có. Sau đó Thượng đế đuổi cả hai ra khỏi vườn Ðịa đàng. Thế là kể từ khi con người nhờ ăn trái "hiểu biết" nên có được một bộ óc biết suy nghĩ thì cái điều đầu tiên mà con người nhận thức ra được chính là con người cần hạnh phúc.
Sau khi A-dong và E-và dắt díu nhau đi ra khỏi vườn Ðịa đàng để làm lại cuộc đời với hai bàn tay trắng và một bộ óc có sự hiểu biết nhưng hạnh phúc thì đã bị Thượng đế giữ lại, rồi con cái cháu chắt của A-dong và E-và thi đua nối đuôi nhau mà ra đời theo đúng lời nguyền của Thượng đế cho đông "như sao trên trời như cát dưới biển", nhưng quả đất thì lại không nở thêm ra mà chỉ cằn cỗi đi, cho nên cuộc sống càng ngày càng vất vả hơn khiến cho ngôn ngữ của con người cũng càng ngày càng trở nên phong phú để diễn đạt cái nỗi khốn khó đó. Rồi cũng do những suy nghĩ về những cái vụn vặt đó mà triết gia bắt đầu xuất hiện. Nhưng triết gia là người như thế nào? Thật ra tôi cũng không biết triết gia là người như thế nào nhưng theo như sự suy nghĩ nông cạn của tôi thì để cho tiện, chúng ta cứ coi triết gia như là người ao ước sự hạnh phúc và chỉ cho người khác con đường đi tìm hạnh phúc.
Thông thường thì con người tìm kiếm hạnh phúc trong sự làm sao thoả mãn được các nhu cầu của mình. Mà nhu cầu của con người thì chẳng qua cũng chỉ xoay quanh cái khoản ăn để sống và tòm tem để bảo tồn chủng loại. Nhưng nếu chỉ biết có ăn no rồi tòm tem khi cần theo bản năng thì cũng chẳng khác gì loài vật. Do đó mà con người vì biết suy nghĩ nên mới chế ra không biết bao nhiêu cái rắc rối xoay quanh mấy việc rất đơn giản này để cho rằng mình cao cả hơn các loài sinh vật khác.
Về cái mục ăn thì thay vì kiếm được cái ăn là ăn ngay, ăn thẳng, ăn sạch, ăn không cần suy nghĩ, con người lại bày đặt tìm cách chế biến cái ăn, cũng như ấn định ra những cung cách ăn thế nào để cho mình có được cái cảm giác là ăn ngon hơn và thấy đó là hạnh phúc. Riêng về cái mục tòm tem để bảo tồn chủng loại thì con người vì biết suy nghĩ nên cũng đã tạo ra cho mình không biết bao nhiêu là chuyện gò bó nhiêu khê phiền toái đối với một cái công việc cũng rất bình thường này để tỏ ra loài người có khác hơn loài vật, vì loài người có văn hóa.
Vào cái thời mà Tây, Tàu, Nhật lố nhố còn đua nhau làm mưa làm gió ở giải đất hình chữ S thì có mấy ông triết gia nghiệp dư của dân ta bỗng nảy ra cái sáng kiến đề ra một cái tiêu chuẩn hạnh phúc hợp lưu hổ lốn như sau: "Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật, đưa đám Việt Nam". Chả là các vị ấy cho rằng ăn cơm Tàu thì vừa béo vừa bổ, ở nhà Tây thì vừa rộng vừa mát, lấy vợ Nhật thì khỏi sợ bị vợ ăn hiếp, và đưa đám Việt Nam thì vừa rình rang vừa được thiên hạ khóc thương nhỏ nước mắt cá sấu ngập lai láng cả biển Ðông.
Ở đây tôi xin tạm gác bỏ cái hạnh phúc trong các mục ăn, ở và chết vì nó cao siêu quá, và nó lại là những vấn đề lớn của những triết gia tên tuổi có bộ óc vĩ đại và tư tưởng kinh bang tế thế nên tôi không dám đụng đến mà chỉ nói tới cái mục hạnh phúc trong phạm vi làng nhàng thôi, vì cái này ai cũng bàn được và nhất là ai cũng có thể là triết gia loại này được.
Mặc dù vào thời xa xưa các cụ nhà ta chưa được ánh sáng Phúc Âm rọi đến nhưng cứ theo Sáng Thế ký thì tất cả các dân tộc trên quả đất này cho dù có là da trắng, da vàng, da đỏ, da đen, người nước này hay là người nước khác thì họ cũng có chung một nguồn gốc tổ tiên là ông A-dong và bà E-và. Chính vì thế mà ngay trước khi mấy ông cố đạo đem tin mừng đến rao giảng cho dân da vàng thì các cụ nhà ta cũng đã được Thượng Ðế mặc khải cho biết là chỉ có người nam mới thực là người có nhân vị, còn người nữ chỉ là khúc xương sườn của người nam thôi. Ðiều này đã được các cụ nhà Nho nói ra thành câu: "nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô". Trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ của ta cũng có những câu đại loại nói lên cái nhận định đó:
Con gái là con người ta
Con dâu mới thực mẹ cha rước về
Dâu là con, rể là khách, v. v... và v. v...
Riêng về cái mục tìm hạnh phúc trong sự kết hợp cái mẩu xương sườn thất lạc của mình thì vào đời A-dong là do Thượng đế ban cho E-và được nắn ra từ chính mẩu xương sườn của mình cho nên dù có bị E-và dụ cho ăn trái cấm mà bị Chúa phạt, A-dong cũng chỉ đành đấm ngực mà than "lỗi tại tôi mọi đàng", bởi vì dù sao thì E-và vẫn đích thực là phân nửa bản thân mình. Tuy nhiên kể từ đời con cháu A-dong trở đi thì vấn đề không còn đơn giản nữa, vì sau khi hoàn thành hai tác phẩm A-dong và E-và thì Thượng đế không còn hứng thú nắn hình tượng nữa mà ủy thác công việc này cho đám Mụ bà đảm nhận với chỉ thị mỗi khi nắn ra một hình tượng con trai nào đó trong bụng một bà mẹ thì phải rút bớt ra một mẩu xương sườn để sau đó sẽ nắn thành một đứa con gái trong bụng một bà mẹ khác.
Chính vì thế mà con cháu của A-dong về sau một khi qua khỏi giấc ngủ ngu muội của tuổi thơ ngây để thức dậy thành người lớn thì đều thấy mình như có một cái gì trống vắng trong tâm hồn. Ðối với con trai thì đây chính là sự biểu hiện của trạng thái ý thức về sự thiếu mất cái đốt xương sườn nên cần phải đi tìm lại cho mình cái mẩu xương sườn thất lạc ấy để cho mình thấy hạnh phúc. Còn con gái thì một khi môi bắt đầu hồng và má thắm lên là cũng bắt đầu rạo rực mong ngóng sao cho cố chủ sớm biết đường tìm đến rước về để không đến nỗi thấy mình có ngày trở thành một mẩu xương sườn mốc thếch bị bỏ quên trên thế gian này.
Vì đám Mụ bà vốn phải làm cái công việc này từ thời chưa có phương pháp khoa học nên khi nắn xong một hình tượng nam thì chỉ biết rút ra một mẩu xương sườn rồi bỏ bừa ra đó chứ không hề đánh dấu mẩu xương sườn nào là của đứa con trai nào, nên sau này khi thành người, đám con trai không biết đứa con gái nào là từ mẩu xương sườn của mình, cũng như bọn con gái cũng không biết mình là mẩu xương sườn của ai. Chính vì thế mà khi bắt đầu biết đi tìm đến với nhau thì con trai hay con gái cũng chỉ còn có mỗi một cách là lựa xem ả nào vừa mắt hay anh chàng nào vừa ý là cho rằng của mình thế thôi, như trong ca dao:
Trai khôn tìm vợ chợ đông
Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân
Vào thời xa xưa, khi mà trình độ văn minh còn thấp kém thì ở xứ nào người ta cũng chỉ đi tìm cái mẩu xương sườn thất lạc này tại chỗ mình sinh ra và lớn lên. Bên ta cũng thế. Khi mà dân ta chỉ biết quanh quẩn với cái lũy tre xanh, cây đa đầu làng, thì mấy mẩu xương sườn thất lạc thường cũng được coi như nằm bên nhà hàng xóm hoặc loanh quanh đâu đó đầu làng cuối ngõ, cùng lắm là lạc qua làng bên cạnh, cách một con sông phải qua một chuyến đò ngang là cùng. Dần dần nhờ phương tiện giao thông tiến bộ mà những mẩu xương sườn thất lạc này được coi như có thể vương vãi ra xa hơn, có thể là khác miền, khác xứ, có khi xa cách cả đại dương. Ngoài ra do phong thổ của nơi mảnh xương sườn này lạc vào mà khiến cho màu sắc của mẩu xương sườn cũng có khi biến đổi như trắng thêm ra hoặc đen hơn lên chẳng hạn, đôi khi trông chẳng còn chút gì là đồng nhất với kẻ được coi như là cố chủ của nó nữa.
Thông thường thì những mẩu xương sườn nào trông tươi mát dĩ nhiên là sẽ được lắm kẻ ngắm nghía cho nên mới xảy ra hiện tượng tranh giành nhau giữa đám mày râu. Cái sự tranh giành này có khi chỉ là nhẹ nhàng vì bên thua tự nguyện bỏ đi, nhưng cũng có lúc gay cấn dữ dội nếu không bên nào chịu nhường bên nào, đi đến chỗ bạo động, đấu dao đấu súng hoặc có khi còn xảy ra chiến tranh đổ máu, gây hệ lụy cho dân cả nước. Huyền thoại của ta chẳng đã có câu truyện Sơn Tinh và Thủy Tinh chỉ vì tranh nhau mẩu xương sườn Mị nương bên nhà vua Hùng, nhưng vì Sơn Tinh nhanh chân chiếm được Mị nương đem về núi mà Thủy Tinh tức giận đem lâu la gây chiến với Sơn Tinh rồi hai ông thần cứ thế mà đánh phá nhau chí choé gây lụt lội, sông bồi núi lở, hết năm này qua năm khác, gây đau khổ cho muôn dân.
Ðôi khi lại có trường hợp không tìm mà gặp như anh chàng Chử Ðồng tử. Huyền thoại này kể rằng anh chàng Chử Ðồng tử nghèo đến nỗi không có được lấy cái khố thì làm sao dám mơ tưởng đi tìm kiếm mẩu xương sườn thất lạc của mình. Ấy thế mà lại có một mẩu xương sườn của ai không rõ nhưng được nắn làm công chúa con vua Hùng, một hôm tự nhiên nổi hứng ra sông tắm đúng lúc anh chàng Chử Ðồng tử đang xúc tép ở đó. Thấy công chúa, Chử Ðồng tử sợ quá bèn chui dưới cát trốn không ngờ công chúa đạp phải bèn dựng anh chàng dậy. Sau đó công chúa khăng khăng cho rằng mình chính là mẩu xương sườn của anh ta. Còn anh chàng Chử Ðồng tử thì bỗng dưng khỏi phải nhọc công tìm kiếm gì cả mà cũng được.
Tuy vậy cũng có những trường hợp oái oăm như trong huyền thoại Trương Chi Mị nương. Nàng công chúa này từ nơi lầu cao gác tía nghe tiếng hát của anh lái đò Trương Chi ở dưới bến sông vẳng lên sao mà tha thiết quá nên cứ ngỡ như mình là mẩu xương sườn của anh ta bèn nằng nặc đòi vua cha phải cho "châu về Hợp phố". Thế nhưng đến lúc vua cha cho đòi anh chàng Trương Chi bằng xương bằng thịt đến trình diện thì Mị nương lại không thể nào tin được mình lại được nắn ra từ mẩu xương sườn của cái anh chàng xấu xí dị hợm này bèn tuyên bố xù luôn. Báo hại anh chàng Trương Chi đành phải ôm mối hận tình mà chết.
Bình thường thì trong việc đi tìm mẩu xương sườn thất lạc này người ta cũng chỉ tìm lựa các mẩu xương sườn đã đến thời kỳ xuân tươi khoe sắc phơi phới đang nhởn nhơ trên mọi nẻo đường, thế nhưng cũng có người cẩn thận hơn, nhắm nhía nó ngay từ khi chưa thành hình:
Sao rua chín cái nằm ngang
Thương em từ thủa mẹ mang trong lòng
Sao rua chín cái nằm chồng
Thương em từ thủa mẹ bồng mát tay
Sao rua chín cái nằm ngay
Thương em từ thủa cho vay nụ cười
Ấy thế đấy mà rồi nhiều khi còn chưa nắm chắc được cái mẩu xương sườn ấy là của mình chỉ vì mẩu xương sườn này lại thấy mình là một phần của một chàng trai nào khác kia:
Sao rua chín cái nằm kề
Thương em từ thủa mẹ về với cha
Sao rua chín cái nằm xa
Vắng em từ thủa kẻ ra người vào
Bây giờ trời lặng hết sao
Nhớ em anh biết nơi nào tìm em...
Ngoài ra, căn cứ vào luận lý học mà nhận định thì con gái là được mụ bà nắn ra từ một mẩu xương sườn của một người con trai nào đó nghĩa là người con trai phải được nặn ra trước, sau đó mới có chất liệu để mụ bà nặn ra người con gái cho nên trong vấn đề châu về Hợp phố, bao giờ mẩu xương sườn cũng phải non tuổi hơn chủ của nó thì mới hợp lý. Thế nhưng đôi khi cũng xảy ra vài trường hợp lầm lẫn hay sao đó mà có người lại rước về một mẩu xương sườn già hơn mình nên mới bị thiên hạ bình phẩm:
Chồng già vợ trẻ là tiên
Vợ già chồng trẻ là duyên con bò.
Dĩ nhiên là cái anh chàng này vì lý do nào đó mà phải khư khư ôm lấy mẩu xương sườn già này chỉ còn cách triết lý vụn để chống chế miệng lưỡi thế gian còn cái chuyện hạnh phúc hay không hạnh phúc thì chỉ có anh ta mới biết chứ người ngoài ai mà kiểm chứng được:
Có phúc lấy được vợ già
Vừa sạch cửa nhà lại ngọt cơm canh
Vô phúc lấy phải trẻ ranh
Nó ăn nó phá tan tành nó đi
Vì con người càng ngày càng tràn lan ra khắp mặt đất thành thử cái mẩu xương sườn thất lạc của mỗi người cũng càng văng xa thêm và lẫn lộn tùm lum khó mà tìm kiếm cho ra cái nào đúng là của mình. Ðiều này đã khiến cho cha mẹ, họ hàng, anh chị em, người quen đều phải ra tay tìm kiếm giúp, rồi lại còn thêm cả hàng tá người chuyên làm nghề đi tìm kiếm này mà người ta gọi là ông mai bà mối cũng xen vào để cho mình được hưởng cái đầu heo. Tuy đội ngũ săn lùng hùng hậu như thế mà rồi cho dù mỗi lần nhắm nhía được một mẩu nào đó cũng có ai dám bảo đảm là mình đã tìm ra đúng mẩu xương sườn thất lạc của chàng trai đó đâu, cho nên thế gian mới có câu:
Cưới vợ thì cưới liền tay
Chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha
Ngày xưa thì bậc làm cha mẹ vẫn tự cho mình là giàu kinh nghiệm hơn nên thường giành lấy cho mình cái trách nhiệm quyết định sự lựa chọn này và con cái chỉ việc "cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy". Ðiều này đã tạo ra không biết bao nhiêu vụ rắc rối giữa cha mẹ và con cái hoặc có khi còn đưa đến những thảm cảnh cho con cái chỉ vì sự lựa chọn của bậc làm cha mẹ và con cái nhiều khi không giống nhau hay nghịch lại nhau. Nhưng dù sao thì nhờ thế mà không biết bao nhiêu thi văn nhạc sĩ có đề tài để cảm hứng mà sáng tác thành những tác phẩm bất hủ làm cho nền văn học nghệ thuật của loài người đâm ra phong phú.
Thời nay nhờ khoa học kỹ thuật tiến bộ tạo điều kiện cho đám con cái còn trẻ trung sung sức mới có khả năng xử dụng các phương tiện hiện đại để chạy đua nhanh hơn và xông xáo lục lọi trước, trong khi cha mẹ còn lớ ngớ lọt tọt đằng sau, do đó nhiều khi con cái đã tự mình chọn xong và sắp xếp đâu vào đó cả rồi mới quay lại rước đôi bên cha mẹ cùng tới nhà hàng ngồi cho con dâu con rể làm lễ tấn phong lên chức cha mẹ chồng hay cha mẹ vợ, có khi còn đặc cách lên luôn cấp ông bà nội, ngoại luôn tại trận.
Có một điều gây thắc mắc không ít là nếu đúng theo nguyên tắc Thượng đế lập ra từ thủa mới tạo ra loài người thì chỉ có một mẩu xương sườn được rút ra để tạo thành một người nữ cho nên khi kết hợp lại là chỉ một nam một nữ thôi. Nguyên tắc này về sau được luật pháp các xã hội văn minh tôn trọng và bảo vệ. Thế nhưng không hiểu sao bên mấy xứ Ðông phương như ta và Tàu trước đây thường có trường hợp một chàng trai lại rước về cho mình tới mấy mẩu xương sườn thất lạc chứ không phải chỉ có một mà thôi. Ðiều này không biết có phải vì đám mụ Bà bên Ðông phương ngày xưa vụng tay hay làm gãy rồi mỗi mảnh vỡ cũng được nắn riêng ra thành hình nên mới sinh ra nhiều đứa con gái từ một mẩu xương sườn gốc khiến cho mấy anh con trai phải đeo dăm ba cái luôn một lúc, có khi lên đến cả tá. Hiện tượng này đã khiến cho mấy mẩu xương sườn nhiều khi phải thi thố diễn xuất những màn gay cấn hay trổ tài rượt bắt rất hấp dẫn để chiếm cho bằng được cái độc quyền đấm bóp cho kẻ được coi là cố chủ của mình. Còn đối với hạng hiền lành nhẫn nhịn lắm thì cũng phải thốt lên:
Chém cha cái số lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Nhưng cũng có khi ngược lại chính chàng trai chủ nhân lại phải trả giá cho cái sự đèo bòng đó đến nỗi phải chịu cái cảnh cám treo heo nhịn đói như:
Một vợ thì nằm giường lèo
Hai vợ thì nằm chèo queo
Ba vợ thì ra chuồng heo mà nằm
Còn nhìn chung thì ở xứ nào cũng có trường hợp một số mẩu xương sườn quái đản tự coi như mình không hề có cố chủ nào cả nên ai muốn thử làm chủ tạm chốc lát đều được cả với điều kiện tiền trao cháo múc sòng phẳng. Ngoài ra tưởng cũng nên kể thêm là trước khi có mấy vị triết gia duy vật vô sản chuyên chính đứng ra hô hào giải phóng cho mấy mẩu xương sườn vùng lên phá bỏ gông cùm của chế độ tư hữu phong kiến và tư bản bóc lột để được tự do thao túng hạnh phúc thì thực tế xã hội ta cũng đã từng có những mẩu xương sườn thuộc loại lai giống ngựa trời đã từng chủ trương chính chuyên theo kiểu tự do dân chủ nguyên thủy rồi:
Chính chuyên lấy được chín chồng
Ðem bỏ vào lồng quang gánh đi chơi
Dọc đường quang đứt gánh rơi
Bò ra lổm ngổm chín nơi chín chồng.
Thông thường thì khi một anh chàng trai rước được cái mẩu xương sườn thất lạc của mình về thì đều nghĩ rằng mình là chủ tất nhiên sẽ "phu xướng phụ tùy", nhưng thực tế cho thấy là ngay từ hồi mới tạo thiên lập địa thì ông tổ A-dong cũng đã bị chính mảnh xương sườn E-và của mình xúi dại rồi, con cháu làm sao tránh khỏi vết xe đổ ấy.
Chính vì sự lựa chọn cho mình mẩu xương sườn thất lạc càng ngày càng khó khăn phức tạp khiến cho sự nhầm lẫn càng nhiều cho nên mới có hiện tượng dị ứng xảy ra. Hiện tượng này sẽ tùy theo tỉ lệ dị biệt về bản chất của mẩu xương sườn đối với thân chủ mang nó và hoàn cảnh xung quanh tác động theo chiều hướng tiêu cực hay tích cực mà xảy ra nhanh hay chậm với cường độ mạnh hay yếu khác nhau. Trường hợp thân chủ coi như sẵn sàng cúi đầu lãnh nhận tất cả thì cứ an vui với những thứ trời cho như:
Lỗ mũi em mười tám gánh lông
Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho
Ðêm nằm thì ngáy o o
Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà
Ði chợ thì hay ăn quà
Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm
Trên đầu những rác cùng rơm
Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu...
Thế nhưng gặp những thân chủ mà đức kiên nhẫn đã mòn tới độ tuột thắng hay những mẩu xương sườn có máu chằng tinh trong người thì hàng xóm tha hồ mà nghe:
Chồng gì anh, vợ gì tôi
Chẳng qua là cái nợ đời chi đây.
Và để cắt nghĩa cho cái nợ tréo cẳng ngỗng này người ta bèn đổ thừa là tại ông Tơ bà Nguyệt xe duyên lầm. Không biết ông Tơ bà Nguyệt ở đâu mà người ta cứ trút hết tội cho như thế, quả thật là rất tội nghiệp!
Ðể ngăn ngừa cái bệnh dị ứng này mà mấy nhà đạo đức, các nhà giáo dục, các vị lãnh đạo tôn giáo cũng như các nhà luật pháp đã chế ra không biết bao nhiêu là tín điều, giới răn, quy ước, tập tục, luật pháp, nghi lễ phiền toái để trói buộc hạnh phúc ở lại với những kẻ đã rước mẩu xương sườn thất lạc về với mình nhưng số người mắc bệnh dị ứng này không hề giảm tí nào mà còn càng ngày càng có vẻ gia tăng thêm là đàng khác. Tuy nhiên ngày xưa người ta còn biết sợ trời nên còn nhiều người chỉ biết cắn răng chịu đựng còn ngày nay con người tin khoa học hơn nên có khuynh hướng rứt bỏ hoặc thay thế bằng một cái khác cho khỏi phải dây dưa ôm lấy mãi mẩu xương sườn không thích hợp ấy để mà nhức nhối kinh niên.
Cũng vì thấy cái việc đi tìm hạnh phúc trong việc gắn lại mẩu xương sườn này thường dễ gây chứng dị ứng cho nên nhiều kẻ khôn ngoan mới khuyên bảo: "Tu là cõi phúc, tình là giây oan". Ðiều này đã được đức Phật chỉ cho nhân loại từ mấy ngàn năm nay rồi, và mặc dù ai cũng nghĩ lời dạy này là chí lý, nhưng cõi phúc thì ở tận mãi đâu đâu không nhìn thấy hay vói tới nên ít ai chịu theo còn cái giây oan thì cứ nhan nhản đầy đường đầy xá, bạ đâu cũng có thể bị quàng phải cho nên ai nấy đều bị vướng hoài hoài. Ngay cả nhiều chàng trai đã lánh xa phàm tục để trở thành sư thành cố mà nhiều khi cũng chưa chắc đã tránh thoát:
Ba cô đội gạo lên chùa
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
Sư về sư ốm tương tư
Ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu
Ai làm cho dạ sự sầu
Cho ruột sư héo như bầu đứt dây.
Có lẽ vì hạnh phúc là một cái gì luôn trốn chạy cho nên khi người ta tưởng chừng như nắm bắt được hạnh phúc thì lại không còn thấy nó đâu nữa cả cho nên bất cứ câu chuyện tình éo le lâm li bi đát nhưng có hậu nào cũng thấy cuối cùng thì chàng và nàng biến thành tiên như trong huyền thoại, còn nếu như ở lại cõi trần thì cũng phải kết thúc bằng câu "và từ đó họ sống hạnh phúc bên nhau mãi mãi". Sở dĩ tác giả phải chấm dứt câu chuyện như thế vì nếu tác giả có viết tiếp thêm phần hạnh phúc sau đó thì chỉ làm cho độc giả nhiều khi lẫn lộn không biết là mình đang đọc tiếp câu truyện tình nói trên hay là đang đọc một bài nghiên cứu về sự phong phú của ngôn ngữ, hay là một bài tản mạn gì đó về những tư tưởng triết học cổ kim.
Mặc dù con người đã cố công suy nghĩ để tìm hạnh phúc nhưng hạnh phúc thì lại cứ luồn theo những kẽ hở của sự suy nghĩ của con người để mà mãi mãi cao chạy xa bay. Chính vì thế mà hạnh phúc cứ như là củ cà rốt treo trước mắt con lừa để cho con lừa cứ cong đuôi chạy đuổi suốt đời và không biết bao thế hệ triết gia cứ tiếp nối nhau ra đời.
Thủa còn cắp sách đến trường, mỗi khi nghe nhắc đến Khổng tử là tôi nghĩ ngay đến hình ảnh một vị "Vạn thế sư biểu". Dần dà nhờ tìm hiểu ngài rõ hơn, tôi thấy lúc đầu ngài cũng có vợ, nhưng có lẽ ngài không chịu "dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về" mà lại đợi tới "tam thập nhi lập" mới bắt đầu dạy vợ thì vợ không thèm nghe nữa cho nên phải tuyên bố một câu rất ư là chí lý: "phụ nhân nan hóa" rồi bỏ nhà ra đi. Không may cho ngài gặp lúc vua nước ngài cũng không biết trọng đãi người hiền nên ngài cứ phải chu du khắp trong thiên hạ để mà rao giảng cái đạo "tu thân tề gia trị quốc bình thiên hạ" mà ngài đã khám phá ra, nhưng chỉ để cho người đời sau biết mà răn mình
Nhìn qua xứ Hy Lạp thời xưa cũng thế. Trong khi bao nhiêu nhà thông thái của xã hội Hy Lạp chỉ thích ngụy biện về chân lý ở trên trời thì Socrate tối ngày suy nghĩ để tìm cho ra cái chân lý tầm thường trên quả đất này. Vợ Socrate cũng thuộc hạng nỏ mồm không kém gì mấy mụ o xứ Giao Chỉ, thấy Socrate tìm mãi không ra được đồng xu cắc bạc nào thì không chịu nổi bèn một hôm bưng nguyên cả chậu nước dơ đổ vào người ông ta. Tuy nhiên, nhờ có vợ vốn làm nghề đỡ đẻ mà Socrate tìm ra được một phương pháp lý luận mới mà ông đặt tên cho là "phương pháp hộ sản" để khai sinh cho chân lý vốn nằm sẵn trong mỗi người như là một phương pháp chống lại đám ngụy biện. Rồi cũng bằng vào phương pháp này mà ông khám phá ra được một điều rất lãng xẹt nhưng lại làm cho ông trở thành một triết gia lỗi lạc, đó là: "Tôi chỉ biết một điều là tôi chẳng biết gì cả."
Gần đây thôi, nhà bác học Einstein cũng chỉ vì lúc nuôi cái thân mình còn chưa xong đã vội ham vui đi rước mẩu xương sườn thất lạc về sống chung nên một hôm được bà ta cho ăn sáng chỉ có mỗi một quả trứng. Einstein đang đói nên than ít thì bà ta cằn nhằn cho rằng đó là quá nhiều so với cái khả năng kiếm tiền của ông ta. Thế là một ý nghĩ nảy nở trong đầu óc của Einstein: chỉ có một quả trứng nhưng ông thì thấy nó quá nhỏ vì đang cần ăn nhiều còn cái mẩu xương sườn của ông ta thì lại thấy nó quá lớn khi nghĩ đến cái ngân qũy eo hẹp của gia đình. Và thế là Einstein đã tình cờ khám phá ra cái điều mà ông khai triển ra thành Thuyết Tương đối khiến cho khoa học nhảy vọt một bước lên tận các vì sao và ông ta trở thành một nhà bác học lỗi lạc nhất thế kỷ.
Kể ra thì chuyện triết lý này biết nói đến bao giờ cho cùng. Vậy thì nếu bạn chưa đi tìm hạnh phúc thì cũng nên thử đi tìm xem sao, còn nếu bạn đã đi tìm hạnh phúc mà không gặp, lại không thành tiên thành thánh thì cũng đừng lấy đó làm buồn vì còn có được cái hy vọng trở thành một triết gia nổi tiếng hay một nhà bác học tài danh, mặc dù cái hy vọng này còn mong manh bấp bênh hơn cả cái hy vọng trúng số độc đắc.
Em khen vầng trăng đẹp
Soi tỏ lối chúng mình
Em – cũng vầng trăng đẹp
Cứ rằm mãi trong anh
(53)
Trong một ngày tình cờ, đón nhận tập thơ Từ Vầng Trăng Mười Sáu của Cao Xuyên với 81 bài tứ tuyệt đa số làm theo lối ngũ ngôn cứ man mác và trào dâng một thứ cảm xúc khác lạ của một thời quá khứ, một nỗi niềm…như là một thứ gì đó lặng lẽ, không ồn ào, bon chen giữa những tất bật đời thường.
Những bài thơ của anh không gọt dũa hay trau chuốt kỳ công. Thay vào đó là một cảm xúc nhẹ nhàng, hoài niệm…Cao Xuyên như dẫn dắt người đọc ôn lại từng chuỗi kỷ niệm và bùng cháy lại một thời huy hoàng của thập niên 70. Thời điểm mà xuất hiện những bài thơ ngũ ngôn nổi tiếng một thời nay chợt bỗng nhiên về lại. Gợi mở trong tâm thức người đọc một cõi mênh mang, hữu mộng. Một thế giới tâm linh được đan xen phảng phất qua từng câu chữ. Ở đó người đọc dường như cảm nhận được hai thế giới song hành với nhau, giữa Đời và Đạo lúc này chỉ còn là một cảm nhận chung rất gần gũi và hiện thực. Nó không còn là một thứ triết lý sâu xa, mơ hồ…Thay vào đó là sự gần gũi đến cùng cực. Bằng chất liệu nội tâm, bằng một thứ ngôn ngữ chân chất nhất Cao Xuyên đã bộc bạch và dàn trải ra trên bề mặt thi ca của mình như là một chiếc cầu nối gắn liền và liên kết đến từng góc cạnh, từng suy nghĩ rất đỗi bình thường mà thấm nhuần từng chất, vị thanh tao.
Trong thơ anh cái đầu tiên mà cảm nhận ngay đó chính là sự Buông, Xả trong tư tưởng nhà Phật. Nhưng lại gắn liền với một thứ mà nó ràng buộc con người, thứ mà nó đưa con người lên đến đỉnh vinh quang và cũng nhấn chìm con người xuống vực sâu u tối. Nó là cội nguồn của sự sống, của vĩnh hằng và cũng là cội nguồn của Hỉ, nộ, ái, ố…Nó chính là tình yêu. Một tình yêu với lối đơn giản là không viết hoa thuần khuyết được anh cảm nhận một cách rất tinh tế và chân phương.
Chuối sau vườn bói quả
Cúng dường lũ chim non
Đêm nay rằm em ạ
Cúng dường nhau trăng tròn
(4)
Có thể hiểu cúng dường là một hình thức tâm linh của Nhà Phật, ở đó con người có thể đến một cách tự nguyện, không ép buộc , gò bó. Nơi mà con người Buông mình ra, thả lõng mọi việc và cống hiến hay cỡi mở lòng mình để ban phát cho chúng sanh, vạn vật bằng tất cả lòng thành và kết quả là nhận được sự hoan hỉ và niềm vui, niềm hạnh phúc vô biên.
Bằng một lối suy nghĩ đời thường và dung dị nhưng gắn liền với triết lý sâu xa kia, anh đã bộc bạch một trạng thái khác để người đọc có thể cảm nhận dễ dàng hơn, gần gũi hơn. Nó có thể là như vầy: Nếu như lũ chim kia đón nhận niềm hạnh phúc kia như một lẽ tự nhiên, là quy luật vô thường của cuộc sống thì trong tình yêu giữa cái cho và nhận được đúc kết từ thành quả khác. Một sự viên mãn của hạnh phúc…Không gần, không ngắn. Không dài, không xa…thay vào đó là một sự tròn trĩnh như đúng hạn kỳ được tô điểm lên Từ Vầng Trăng Mười Sáu. Một sự tỏa sáng không có sự gầy khuyết hay tròn, méo, ốm, dẹp…rất vừa vặn đủ để tình yêu thăng hoa: Đêm nay rằm em ạ/ Cúng dường nhau trăng tròn. Như là một thành quả của bao ngày chắt chiu vun xới, ban phát nay được đền đáp tràn đầy. Và từ đây ta có thể hiểu “cúng dường” trong thơ anh nó hiện thực và đơn giản hơn, như là một sự “Cho và Nhận” giữa lẽ đời dâu bể như là:
Một thoáng thơm tình đầu
Ta cúng dường cho nhau
Ơi! Thoáng thơm thường tại
Giữa muôn vàn bể dâu.
(73)
Không dừng lại ở đó Cao Xuyên đã bức phá và có những ý tưởng nghe có vẻ rất đỗi mới lạ nhưng thật ra nó vẫn là một phần của đời sống thường ngày của chúng ta. Hãy nghe những câu này:
Em là con Thiên Chúa
Anh là con Phật Đà
Mình kết hôn đi nhé
Phật Chúa thành sui gia
(69)
Nghe như có vẻ lãng mạn đấy… Nhưng mà cũng đúng thôi! Cái lạ về cách nghĩ trong thi từ chứ với đời sống này, tình yêu này thì nó chẳng hề lạ chút nào. Trong tình yêu thì mọi chuyện đều có thể…Cho nên nó chẳng hề phi lý. Thực ra đó cũng là ước muốn của bao người, bao thế hệ. Từ khởi thủy sơ nguồn cho đến tận ngày nay. Khi phát hiện ra tình yêu, con người chúng ta luôn luôn dằn xé và đau đớn cho những mảnh tình oan khiên được xây dựng trên những giáo điều ngăn cách, không có sự hòa hợp, thông cảm, sẻ chia. Anh như hóa giải những điều kia với mong muốn xóa bỏ bức tường ngăn cách. Những định kiến, sắc tộc, tôn giáo, trường phái…tất cả đều bay hết đi, lật nhào hết đi trước tình yêu. Đó chính là cái ước muốn không riêng gì anh mong muốn và thể hiện trong thi ca , mà ngay trong cuộc sống này chúng ta vẫn ao ước như thế.
Những gì của tình yêu cứ mặc nhiên ban phát, mặc nhiên đón nhận. Đừng để mình phải như thế này:
Kẻ đến còn ngập ngừng
Người đi chừng tiếc hối
Tình chia ngã ba sông
Con đò nào chết đuối
(66)
Trong tình yêu đây chính là cội nguồn của khổ đau. Nó nhấn chìm chúng ta vào trong mê lộ bởi những phút yếu lòng. Để lại một kết cục đau thương. Em, Tôi hay ai trong chúng ta sẽ vùi sâu trong lối rẽ đó? Xin thưa rằng : Tất cả đều chết! Không một ai sống sót nếu như một khi đứng trước bờ vực số phận đó. Chẳng có vết thương nào hay sự đau khổ nó dày vò con người như tình yêu. Rất đau đớn và dằn vặt …Để rồi phải kêu lên:
Làm sao mà xóa được
Vết yêu thương một thời!
Cứ mỗi khi chiều xuống
Loang tím cả khung trời.
(50)
Hay như:
Hạt lệ thằng chăn trâu
Rớt xuống thành mùa ngâu
Giờ đã vào tháng bảy
Mưa đầy trời…Em đâu?
(35)
Ngoài những trăn trở về tình yêu thì trong anh vẫn đau đáu một hồn quê. Một miền thương cảm, một sự nao lòng của một quá khứ lịch sử trôi qua với biết bao thăng trầm biến đổi.
Từ:
Tây nguyên chiều nghĩa trang
Người về sâu đáy mộ
Cỏ may đâm áo quần
Hồn sao đau lỗ chỗ!
(39)
Cho đến:
Ngoài kia chiều đã tắt
Mẹ thắp hương bàn thờ
Đứa nón cối nón sắt
Thêm một ngày bơ vơ.
(65)
Để chúng ta thấy rằng đằng sau những mất mát đau thương từ cuộc chiến. Những người lính đã anh dũng hy sinh và cống hiến cho Tổ quốc trong vinh quang hay thầm lặng …thì nỗi đau vẫn còn đó. Vẫn dày xéo lên đồng đội, tua tủa đâm ngang khi đối thực tại hội ngộ với quá khứ . Nơi đó là nơi của những người bạn đồng đội một thời. Và hơn hết là còn có những người Mẹ đối diện với đau thương mất mát. Chiến tranh là một thứ mà luôn luôn gieo rắc tang thương xuống nhân loại, nó cuốn con người vào hai bờ sinh tử…Ở bờ bên kia số phận, người lính đã điểm tô lên cho một trang sử hào hùng thì bây giờ nơi bến bờ này những người bạn, người mẹ, người vợ đang đón nhận những mất mát kia một cách thầm lặng từng ngày trong thực tại
Khi đọc những đoạn thơ trên tôi bàng hoàng tự nhủ rằng: Liệu vầng trăng mười sáu có còn tròn trịa như tôi đã từng suy nghĩ không? Nhưng không! Vẫn còn đó - Nếu như tình yêu luôn là vĩnh cửu và chiến tranh luôn có sự mất mát đau thương. Thì Thơ là nguồn an ủi và hiến dâng vô tận. Vâng! Chính thơ ca đã cho chúng ta nhìn nhận ra vấn đề đó, để chua xót, để thương cảm, ngậm ngùi, hoan ca, khích lệ và để xích lại gần nhau hơn…
Sẵn bài ca - chim hót
Sẵn mùi hương – hoa ngát
Sẵn niềm yêu - tôi khóc
…Và thế giới đăng trình.
(31)
Từ vầng trăng mười sáu. Cho và Nhận đến như là một lẽ tự nhiên như là:
Từ tiếng khóc chào đời
Đến nấm mộ im hơi
Ba vạn sáu dâu biển
Thơ mãi là thơ thôi.
(74)
Vừa qua, Thi Thánh đã cho ra mắt tác phẩm "cựu mộng như yên", một tác phẩm theo đánh giá của tại hạ sẽ nhanh chóng đi vào sách giáo khoa lớp Đê Tiện Phổ Cập.
Cựu mộng như yên
Em còn có nụ cười thuở mười tám
Nụ trinh nguyên, e ấp đượm hương tình
Hay đã vỡ từ vầng trăng hai chín
Đêm nguyệt tàn chờ đợi ánh bình minh?
Từ cái thuở em từ tôi đi giã
Nụ cười ai im bặt chẳng nên lời
Lòng bối rối như ngã ba, ngã bảy
Mấy hướng đời mấy nhánh rẽ nhân duyên.
Tôi cứ mãi ngóng về phương vô vọng
Em xa mờ nỗi nhớ có mù tăm?
Chợt một tối thấy hồn lên quạnh quẽ
Em đi về từ muôn lối xa xăm.
Thi Thánh ngày 10 tháng 5 năm 2012
Và dưới đây là trao đổi của phóng viên với Thi Thánh về bài viết này: Phóng viên:
- Hay đã vỡ từ vầng trăng hai chín"
Ở trên có hai hình ảnh: "Nụ cười" và cái "nụ trinh nguyên". Vậy cái nào đã vỡ hỡi lãng tữ bằng hữu! Thi Thánh:
- Thường thì những cái vỡ là hư hao, mất mát...No bằng hữu có khi nào nghe nói " mất nụ cười" chưa? nếu chưa nghe thì chắc là cái kia rồi (cười)
Phóng Viên:
- "Từ cái thuở em từ tôi đi giã
Nụ cười ai im bặt chẳng nên lời"
Bằng hữu cho hỏi hai câu trên có phải là lúc "đi giã" thì mệt quá không còn cười được nữa không?
Từ "giã" bằng hữu dùng ở câu trên có phải là "giã gạo"? Vì nếu phát biểu " Em từ giã tôi đi" thì có thể hiểu là cuộc chia ly, Còn "em từ tôi đi giã" thì hiểu chắc là em từ (chỗ ở hoặc chỗ người) tôi (rủ, cùng với, đi tiếp) giã (gạo hay cái gì đại loại vậy)
Thi Thánh: - No bằng hữu hỏi đúng tâm điểm rồi đây! Thực ra "từ cái thuở em từ tôi đi giã" nếu nghĩ nôm na nó cũng như "em từ giã tôi đi" chỉ là một sự đảo lệch câu chữ hay nói cách khác là chơi chữ. Nói như cụ Tố Như thì "nghề chơi cũng lăm công phu" cho nên phải là " Chơi cho liễu chán, hoa chê, Cho lăn lóc đá, cho mê mẩn đời" vì vậy mà phải là "em từ tôi đi giã" nó mới thể hiện được cái công phu uyên thâm thượng thừa đó. Thật ra thì câu sau nó đã trả nhời cho câu trên rồi đó No bằng hữu...Có lý do gì mà cười không nổi? Có lý do gì mà em giã còn anh thì mếu? Có lý do gì mà không thốt thành lời? vân vân...Xin thưa với No là chỉ có em đi "giã" thôi! Chính em bỏ tôi đi "giã" với người khác nên tất cả những suy nghĩ, nỗi niềm, cảm xúc...đều im bặt, nghẹn lời.... Có câu "mang cối đi giã xứ người" đó là một phần của cảm xúc trên
Phóng Viên:
-Vâng, ra là Lãng Tử các hạ cũng là người chơi chữ, vậy Lãng các hạ có thể cho biết cái tiêu đề "Cựu Mộng Như Yên" có phải là lối chơi chữ không?
Tại hạ còn đang lơ mơ: Cựu Mộng Như Yên là Cựu Yện Như Mông, hay là Cựu Miệng như Ông
Thi Thánh:
-Hè hè...No bằng hữu làm mình nhớ đến Nguyên bằng hữu da diết...Cách hỏi và nhấn nhá trong câu chữ khiến mình thấy phê phê .
Quay lại câu Cựu mộng như yên, mộng xưa như khói...Cựu mộng như yên mạc tái tầm. Thật ra nói chơi chữ thì có vẻ nghe như cao siêu lắm vì Lãng mỗ tính rất thực dụng. Chơi gì không chơi lại đi chơi chữ . Đúng là bệnh hoạn mà...ái chà chà...
Cựu mộng như yên là như vầy: Cựu là cũ. Mộng tạm gọi là mơ. Cựu mộng là mơ cũ. Như yên là Nhiên ư? Nhiên trong sự hồn nhiên, xưa cũ, ngây thơ... Vậy Cựu mộng như yên có thể hiểu là mơ cũ nhỏ...ý nói bây giờ lớn rồi, già rồi, to rồi...mơ lại cái nhỏ nhỏ thôi cho nó vui đới mà. Nên em mới từ tôi đi giã No bằng hữu hiểu rồi chứ gì (lại cười)
Phóng Viên:
-À, thì ra bài thơ nói về cái "mơ cũ nhỏ". Thâm thật. Mà đúng là nó thâm thật Bằng hữu nhỉ!
Tại hạ là thắc mắc hai câu cuối:
"Chợt một tối thấy hồn lên quạnh quẽ
Em đi về từ muôn lối xa xăm."
Với kiến văn thấp bé của mình, tại hạ không thể nào hiểu nổi cái "Thấy hồn lên" là nó thấy như thế nào? Có phải là thấy mình hên hơn người khác không?
Và như lối chơi chữ của lãngtử bằng hữu, từ "muôn lối xa xăm" có phải là "muốn lôi " cái gì đó xa xăm về? Cái "cựu mộng như yên" ở trên chẳng hạn?
Thi Thánh
-No bằng hữu quả nhiên là có con mắt thật tinh tường và thấu đáo. Chỉ cần liếc ngang, liếc dọc là biết cái hay dỡ trong thơ văn rồi. "Chợt một tối thấy hồn lên quạnh quẽ/ Em đi về từ muôn lối xa xăm" câu cuối này đúng là hên thật. Bởi trong cuộc đời con người mấy ai thấy được hồn mình? mấy ai thấy được cái hồn nó lên? Mà Lãng mỗ đã thấy thì không phải hên là gì?. Còn "muôn lối xa xăm" thì nó như thế này No bằng hữu ạ! Muôn lối chỉ đơn giản là "muốn lôi" thôi muốn lôi cái gì đó xa xăm. Sao không là xa xôi, xa vời mà lại xa xăm? xa xăm nếu tách rời ra thì chữ xa nó có ý nghĩa hết rồi., lúc này chữ "xăm" nó chỉ là từ phụ trợ , thêm mắm thêm muối nhằm kích thích giác quan người đọc lên thôi. Xăm có thể hiểu là xăm xoi, xăm mình chỉ một hành động như châm chích chẳng hạn. Ta có thể rút gọn lại là chích đi cho nó dễ hiểu. Vậy muôn lối xa xăm thì nó cũng chẳng qua nói lên một niềm ao ước nhỏ đúng là "Mơ cũ nhỏ -Cựu mộng như yên" từ xa về xăm . Lãng mỗ thật bái phục kiến văn của No bằng hữu...đúng là tam sanh hữu hạnh. (cười duyên)
Káo chình
Phóng viên: -Vâng,xin chúc lãngtử bằng hữu vạn an. Bái Biệt!
Bình Dương ngày 10 tháng 5 năm 2012
Hớ