Trong ngôn ngữ Việt Nam, khi muốn cực tả một cảnh nghèo, người ta thường dùng thành ngữ nghèo rớt mồng tơi hay nghèo xác mồng tơi. Ví dụ :
Chị Dậu lễ phép :
-Thưa ông, thật văn tự đấy ạ ! Lúc nãy, ở bên cụ Nghị, ông giáo viết xong, đọc cho em nghe, em cũng ngạc nhiên và đã nói như ông vừa nói. Cụ Nghị bảo rằng : Luật mới không cho cha mẹ được phép bán con, nên phải viết thế, chứ có hoa tai hoa tung gì đâu ? Nhà em kiết “xác mồng tơi ”, ai còn dám rời hoa tai cho mượn ?
(Tắt Đèn – Ngô Tất Tố, nxb Văn Học, tr.45)
Một thí dụ khác : Ông Hương Cả cằn nhằn vợ :
- Hồi năm ngoái nếu mình cưới con Láng con của thằng Tư Bền cho nó thì êm quá rồi, bà lại chê nghèo chê giàu. Thằng nhỏ thất chí đâm ra đổi tánh như khật khùng. Tại bà mà hàng xóm kêu nó là thằng khùng đó, bà thấy không ? Chuyện gì không có tui, để cho bà thì hư hại vậy đó.
- Chỗ nào chớ chỗ đó nghèo rớt mùng tơi, cưới về để nó ăn hết của à ?
(Buồng Cau Trổ Ngược – Xuân Vũ)
Có thể nói là đại đa số người ta đều hiểu từ kép mồng tơi hay mùng tơi trong thành ngữ này là rau mồng tơi, lá mồng tơi. Tức là một thứ rau thuộc loại dây leo (bây giờ đã có loại cây mồng tơi không leo, cao chừng 20 tới 40 cm), lá dày, màu xanh, có tính nhớt, thường dùng nấu canh, ăn mát. Và người ta đã hiểu là : những người phải ăn thứ rau mồng tơi này, là hạng người nghèo mạt. Đó là vì họ cho rằng mồng tơi (hay cũng gọi là mùng tơi) là loại rau tầm thường, rẻ tiền, chỉ những hạng cùng đinh mới phải ăn nó.
Nếu hiểu như vậy thì thật quả là vội vàng và sai lầm. Bởi vì đối với người dân quê Việt Nam, mồng tơi không phải là thứ rau hạng bét, thứ bỏ đi chỉ dành cho hạng nghèo mạt ăn. Nếu muốn thấy một cảnh nghèo mạt rệp thì cần phải nhìn vào bữa cơm của một cặp vợ chồng như nhà này:
Râu tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan vợ húp, gật đầu khen ngon!
(Ca dao)
Đó ! Cảnh nghèo mạt đến nỗi phải đi nhặt râu tôm và ruột bầu là thứ người ta vứt đi, đến chó cũng không thèm ăn, đem về nấu bát canh. Như thế mà hai vợ chồng chia nhau chan, húp một cách ngon lành, rồi còn khen ngon ! Đó mới là mức tận cùng của sự nghèo túng.
Trái lại, mồng tơi là loại rau rất phổ thông ở miền quê. Chẳng cần phải mua. Nhà nào cũng có sẵn một vài dây mồng tơi leo ở hàng rào hay trên mấy cái cọc tre cắm chéo nhau ở sau vườn. Đến bữa, hễ muốn một nồi canh rau vừa mát ruột vừa không tốn tiền là có ngay. Mồng tơi không chỉ dùng làm rau thông dụng, mà còn làm thuốc nữa. Đây là tài liệu của Việt Nam Tự Điển (Lê Ngọc Trụ / Lê Văn Đức):
Mồng tơi dt. (thực) Còn gọi mùng-tơi, tầm tơi hay lạc quỳ, loại dây quấn, lá dày hình tim mọc xen, trong có nhiều mủ nhớt, gié hoa không cọng màu đỏ, trái chín màu đỏ sậm thuộc loại phì quả; lá dùng nấu canh ăn nhuận trường, trái trị đau mắt; lá đâm nát để chút muối trị được chứng sưng ngón tay.
Đó là khía cạnh thực dụng của một giàn mồng tơi. Ngoài ra, một giàn mồng tơi còn đem lại tính chất lãng mạn cho đôi trai gái đến tuổi mơ mộng ở miền quê :
Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn
(Người Hàng Xóm -- Nguyễn Bính)
Nhưng tại sao người ta lại gắn liền rau mồng tơi với tình trạng nghèo mạt rệp ?
Đó là vì từ rớt trong thành ngữ nghèo rớt mồng tơi. Từ rớt khiến người ta liên tưởng tới rớt dãi (hoặc rớt nhãi, nhớt nhãi) do đặc tính có nhiều mủ nhớt của lá mồng tơi.
Thế nhưng tính chất nhớt (nhầy nhớt) của mủ lá mồng tới có dính dáng chi tới tình trạng nghèo mạt rệp ? Không ai nói nghèo nhớt ! Và phải ăn rau mồng tơi cũng không nhất thiết có nghĩa là nghèo mạt rệp, nghèo kiết xác.
Vậy thì chắc chắn mồng tơi trong thành ngữ nghèo rớt mồng tơi không phải là rau mồng tơi.
Trước hết, xin nói về từ mồng. Mồng hay mào là miếng thịt dai nằm dọc trên đầu con gà, vài loại chim, hay rắn (Việt Nam Tự Điển – Lê Ngọc Trụ / Lê Văn Đức). Do đó, vật gì có hình thù tương tự cũng gọi là mồng (hoa mồng gà).
Bây giờ đến từ tơi. Đó là cách gọi tắt của chiếc áo tơi, loại áo đi mưa kết bằng lá :
Mấy ai là kẻ hảo tâm
Nắng toan giúp nón mưa dầm giúp tơi ?
( Lục Vân Tiên )
Trên chỗ vai của cái áo tơi lá, có một phần cũng kết bằng lá, trông như cái mồng gà, gắn liền vào cổ áo, phủ từ gáy xuống quá hai vai. Đó là cái mồng tơi.
Người dân quê đi làm đồng, mưa, gió, bão, rét căm căm, cũng chỉ có mỗi một cái áo tơi lá che thân. Ở những vùng đất nghèo “cày lên sỏi đá“ như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Định… có những nông dân nghèo đến độ cái áo tơi lá đã rách nát mà vẫn phải đeo trên người. Có khi cái áo đã rơi rụng hết lá, chỉ còn lại có mỗi cái mồng tơi dính trên vai.
Và cuối cùng, khi đến cái mồng tơi mà cũng rách nát đến rơi rụng (rớt) nốt, thì đủ thấy người nông dân này đã đi tới mức tận cùng của sự nghèo túng rồi. Anh ta nghèo đến độ mặc
rớt (cả cái) mồng tơi (ra) !
Và sau đây là tài liệu trích từ Wikipedia Encyclopedia :
1/ “Nghèo rớt mồng tơi”hay “nghèo xác mồng tơi” chỉ cái nghèo cùng cực. Thành ngữ này xuất phát từ từ “mồng tơi” là phần trên của cái áo mưa bằng lá mà người miền Trung hay mặc là “áo tơi”. Áo tơi có hai phần : phần trên là “mồng tơi”, làm bằng lá rất cứng và dày. Thường thì phần dưới có thể bị rách, bị hư, nhưng phần trên thì rất khó hư. “Rớt” có nghĩa là “rơi, như trong “rơi rớt”. Vì vậy “nghèo rớt mồng tơi” có nghĩa là nghèo đến mức độ cả cái mồng tơi cũng cũ, cũng sờn đến nỗi rớt ra.
2/ Đó là hình ảnh chiếc áo tơi lá đồ dùng che mưa, che nắng của bà con nông dân từ Thanh Hóa đến Nghệ Tĩnh. Khi áo hỏng, rách nát, lá rớt xuống thì phần trên của áo là “mồng tơi” vẫn còn. Nhà nghèo thì cứ khoác mãi cái “mồng tơi” mà đi làm đồng che mưa che nắng (cho đến khi nó “rớt” luôn ! V.P ghi thêm).
Bút Tre (Đặng Văn Đăng: 1911-1987) không cho mình là thi sĩ, ông chỉ nhận mình là "vè sĩ". Ông là người hay "xuất khẩu thành chương và chắp vần chắp vè. Thậm chí còn là một thứ vần vè thiếu gọn gàng sáng sủa. Cho nên đọc vần vè của ông thấy còn khá ức chế và cũng dễ nghĩ ông là người "văn hóa lùn". Nhưng thật ra không phải thế. Ông là một người rất có ý thức học hỏi và tiếp nhận linh hồn của văn hóa dân gian nói chung và thơ ca dân gian nói riêng. Từ đó ông cũng có một chủ trương rất rõ ràng trong việc tạo ra một lối ca vè mới:
Trăm năm ở một làng vè
Nghìn câu lục bát mấy đề vè nôm
Khi khuya sáng, lúc hoàng hôn
Bà con kể lại, xóm thôn vọng lời
Bút Tre nối bước những ai
Một dòng thơ mở đường quai kể vè
Năm năm dân dã lắng nghe
Một Bút Tre thành vạn Bút Tre các làng
(Thơ và giai thoại Bút Tre, Ngô Quang Nam, trang 67)
Bây giờ nhìn lại ta có thể thấy rằng ông đã hoàn thành cái mong muốn sáng tạo của đời ông là mở ra một dòng thơ mới, là đắp thêm một con đường quai trong lối kể vè dân gian: "Một dòng thơ mở đường quai kể vè". Nhưng con "đường quai kể vè" do ông khai mở là cái gì vậy? Theo tôi, đó chính là một lối gây cười hoàn toàn mới mẻ, độc đáo và dễ bắt chước, xin được tạm gọi là "công nghệ thơ Bút tre".
Trong văn học dân gian nói chung và thơ ca dân gian nói riêng vốn đã có nhiều lối gây cười kinh điển và truyền thống rồi. Mục đích, đối tượng, nội dung, mầu sắc của những tiếng cười ấy có thể rất khác nhau, nhưng tựu chung cái cung cách dùng để gây cười thường gặp là: hoặc sử dụng yếu tố tục, hoặc dùng lối nói cường điệu, hoặc sử dụng tổng hợp cả hai
Hỡi cô cắt cỏ bên sông
Cái váy thì cộc cái lông thì dài
Thuyền chài nó trả quan hai
Thưa rằng không bán để dài quét sân.
Nhưng đến Bút Tre thì khác. Ông rất ít sử dụng lối gây cười truyền thống mà chủ yếu sử dụng một lối gây cười hoàn toàn mới mẻ do ông sáng tạo ra. Công cụ chính ông dùng để gây cười là cái khuôn hình của câu thơ Lục bát. Ông đã dùng cái khuôn hình câu Lục bát dân gian trên 6 dưới 8 làm một cái khuôn cứng. Sau đó ông biến quá trình làm thơ thành một quá trình ép chữ tùy tiện và ngẫu nhiên vào cái khuôn cứng ấy. Kết quả là đã xẩy ra những tình huống sau đây:
1. Trường hợp đầu tiên khi ép chữ vào Khuôn lục bát đến cuối câu sáu vẫn còn một phần của chữ thừa ra. Không sao, ông sẽ bẻ chữ ấy ra và cái phần còn lại ông nhét xuống đầu câu tám. Thế là xẩy ra hiện tượng "Xuống dòng bạt mạng, ngắt câu ngang phè":
Hoan hô Đại tướng Võ Nguyên
Giáp ta thắng trận Điện Biên trở về.
Cái lối "bẻ chữ tùy tiện" này hình như khá dễ bắt chước, cho nên sau câu còn khá trong sáng trên của ông, dân gian lập tức "nhái" cái "công nghệ "ấy và sản xuất thêm hàng loạt những câu tương tự, nhưng thường là dung tục hơn:
-Anh đi công tác Pờ-lây
Cu dài dằng dặc biết ngày nào ra.
-Anh đi công tác Buôn Mê
Thuột xong một cái lại về với em.
-Bốn ông chung một đĩa lòng
Lợn, ngồi chễm chệ bên thùng bia to...
2. Lại có những trường hợp không thể bẻ chữ được, không thể uốn chữ từ cuối câu sáu xuống đầu câu tám được. Cũng không sao hết, ông sẽ cắt bỏ bớt chữ đi để cho vừa với cái Khuôn lục bát:
-Bây giờ đang đứng... Trưởng ty
Bút tre thơ phú tôi thì có sau
Cuối cùng xin nhắc một câu
Văn hóa cơ sở là... đầu...chúng ta.
Nếu nói cho đủ thì sau chữ "đứng" phải có ít nhất là hai chữ nữa: hoặc là "cương vị" hoặc là "chức vụ"(vì ở cái cương vị ấy thì không thể đọc thơ tếu táo được); sau chữ "là" phải là ba chữ "nhiệm vụ hàng..." và sau chữ "đầu" phải có một chữ "của" nữa.
Cái lối này hình như bắt chước khó hơn một chút nên những câu dân gian "nhái" theo xuất hiện còn ít:
-Chị em du kích tài thay
Bắn tầu bay Mỹ rơi ngay cửa...mình.
(cửa Ty mình)
-Anh đi em ở lại nhà
Cửa...mình em mở kẻ ra người vào.
(Cửa nhà mình)
3. Lại cũng có những trường hợp khi ép chữ vào Khuôn thì thiếu chữ. Cũng không sao cả, ông sẽ chêm độn thêm chữ vào cho đẫy khuôn:
-Tầu xe đi lại nhịp nhàng
Thái Nguyên, Yên Bái lại càng Lào Cai
Ở câu trên ta dễ dàng nhận ra hai chữ "lại càng" là ông cố tình chêm độn vào. Cũng tương tự:
-Bỗng đâu tin sét đánh ngang
Bác Hồ đang sống chuyển sang từ trần.
Cái nội dung tin sét đánh ngang cần được thông báo ấy chỉ là Bác Hồ từ trần. Nhưng chết nỗi nếu để vậy thì câu tám thiếu đi mất bốn chữ cho nên phải thêm bốn chữ "đang sống chuyển sang" vào cho đầy khuôn.
Kiểu này cũng được dân gian nhại lại nhưng còn rất ít:
-Trông xa cứ tưởng cô nàng.
Đến khi giáp mặt lại càng cô ta
4. Trường hợp phổ biến hơn trong cách gây cười của thơ Bút Tre là lối Cưỡng vần và cưỡng thanh điệu. Bất kể thanh điệu chữ mang vần là bằng hay là trắc, là thanh nổi hay thanh chìm, ông cứ ép tuốt tuồn tuột cả vào khuôn và bắt chúng phải theo vần và theo thanh điệu của Khuôn lục bát quy định
-Chú về công tác Bảo tàng
Cũng là công tác cách màng giao cho.
Ở ngoài đời chúng là cách mạng, nhưng vào thơ ông chúng phải thành cách màng. Tương tự ở ngoài đời chúng là Phú Thọ thì vào thơ ông chúng sẽ thành Phú Thò hoặc Phú Tho...
Dân gian cũng bắt chước lối cưỡng vần và cưỡng thanh điệu này của ông một cách rất thành thạo và sáng tác thêm rất nhiều câu khá lý thú:
-Không đi không biết Tam Đao (Đảo)
Đi thì chẳng biết nơi nào mà ngu ( ngủ )
Một giường nhốt những hai cu ( cụ )
Sướng khô (khổ ) đành chịu đến chu ( chủ ) nhật về.
...
Có thể nói Bút Tre là người đã phát minh ra cái công nghệ ép chữ vào khuôn thơ mà chủ yếu là khuôn thơ lục bát. Với công nghệ này quá trình làm thơ được đơn giản đi nhiều. Người làm thơ không cần phải bận tâm đến chuyện chọn vần, chọn chữ nữa mà chỉ cần biết bẻ chữ, chặt chữ và ép chữ... một cách tưởng như rất máy móc vụng về là được. Cho nên những con chữ khi vào thơ Bút Tre thường không còn giữ được cái dáng vẻ tự nhiên vốn có của nó nữa. Trái lại, chúng thường bị ép cho méo mó đi, cho vênh váo lên: Con thì gẫy lưng, con thì dụt đầu ngoẹo cổ, con cụt chân, cụt tay...chí ít thì cũng ngơ ngơ ngác ngác như quạ vào chuồng lợn. Nhưng đó lại chính là sự thần diệu của thơ Bút Tre. Nhờ chúng mà câu thơ Bút Tre luôn có cái dáng vẻ ngô nghê, ngớ ngẩn làm người đọc phì cười. Nhưng ta cười là cười cái sự ngô nghê, ngớ ngẩn của câu thơ, chứ có cười chê gì ai đâu? Có chăng thì cũng chỉ là chê tác giả làm thơ dở òm. Ai ngờ chính cái dở òm ấy lại là cái hay, cái làm cho người ta thích thú và dễ nghiện. Không phải là tất cả, nhưng phần lớn tiếng cười trong thơ Bút Tre là tiếng cười vui đùa. Nó chỉ làm nở môi, nở miệng và hớn hở lòng người đọc chứ không động chạm gì đến ai. Tiếng cười ấy cũng giống y như tiếng cười nổ ra khi ta xem trò bịt mắt bắt dê, thấy cái anh chàng bắt dê sắp túm được con dê rồi thì lại bỏ quay đi hướng khác. Hay thấy anh chàng làm dê vừa thổi còi chạy trốn thì lại đâm bổ vào chỗ anh chàng bắt dê để bị tóm cổ. Bản chất tiếng cười của thơ Bút Tre hồn nhiên và vô tư như vậy. Cho nên không phải ngẫu nhiên trong dân gian rất nhiều người thích đọc thơ Bút Tre vì nó vui, thích làm thơ kiểu Bút Tre vì nó dễ và cũng sẵn sàng hiến tặng những sáng tác của mình cho kho tàng thơ Bút Tre mà không cần phải giữ bản quyền. Người đọc thơ Bút Tre cũng như người làm thơ Bút tre chỉ cầu có vui thôi.
Trong các tác giả ca ngợi thơ Nguyễn Quang Thiều vượt qua sự HAY-DỞ để đạt tới mức thơ vũ trụ, thơ thiên hà, các ông Nguyễn Quyến, Đặng Thân, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đăng Điệp… đồng thời đã sáng tạo ra một hình thức bình thơ mới ở Việt Nam: đó là lối bình thơ tấu hài, bình thơ cốt gây vui nhộn, cốt chọc thiên hạ cười sái quai hàm há chẳng phải là một đóng góp cho một văn đàn đang ngủ gà ngủ vịt thức dậy cười ré ru ?
Đầu tiên, chúng tôi xin giời thiệu một thiên tài chọc cười vui nhộn gấp tỉ lần anh chị Xuân Hinh, Minh Vượng là nhà văn trẻ Đặng Thân, núp trong bài bình thơ Nguyễn Quang Thiều có tên: “NGƯỜI BUÔNG LƯỚI DỆT ÁNH SÁNG TỪ HỐ THẲM” trên website http://tienve.org. http://tienve.org.
Cần phải đọc câu kết thúc của Đặng Thân mới hiểu được phần đầu rất “hậu hiện đại” của bài viết rất khôi hài này. Đoạn kết đó như sau: http://tienve.org
“Khi Thánh Phê Rồ còn đang mải mê quăng lưới đánh cá ngài đã được gặp Đức Ki Tô. Đức Chúa đã bảo ngài thôi hãy theo ta rồi ta dậy cho cách đánh lưới người. Sau này Thánh Phê Rồ đã được trao chìa khóa “Golden Gate” của Nước Trời. Giờ đây người đánh lưới bằng ngôn từ ấy đang gác cửa “tháp ngà” một đại tộc thơ, không biết người đã gặp Đức Ki Tô? Thi sỹ đích thực – đó cũng ắt một Sứ Đồ “
Hóa ra, Đặng Thân dùng Kinh Thánh để giải mã hiện tượng thơ siêu bí ẩn Nguyễn Quang Thiều. Ông Đặng ví ông Thiều giống như thánh Phê Rô, đã được Thượng Đế ban cho cái lưới thần để đánh mẻ lưới người Việt Nam vào cái lưới thiêng là rọ thơ to hơn vũ trụ của ông Thiều. Ông Thân có ngầm ý bảo Nguyễn Quang Thiều đã đã thay Nguyễn Du “gác cửa tháp ngà của đại tộc thơ”. Thánh Phê Rô cầm chìa khóa vào Thiên Đường còn Nguyễn Quang Thiều cầm chìa khóa vào đại tộc thơ Việt. Nghĩa là, lạy Chúa tôi, nếu chúng con không qua cửa thơ Nguyễn Quang Thiều, dứt khoát không thể vào được toàn bộ nền thơ nước Việt. Việc ông Đặng Thân vừa nhảy ra văn đàn chân ướt chân ráo đã lao lên sân khấu tấu hài rằng Nguyễn Quang Thiều vĩ đại bằng mấy Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… vì không thông qua ông trùm thơ Nguyễn Quang Thiều không thể vào được nước thơ Việt đó sao? Xin kính chào thánh Phê Rô Nguyễn Quang Thiều giữ chìa khóa vào nước thiên đường thi ca Việt Nam. Đặng Thân viết như thế này không phải là vui nhộn lắm hay sao?
Đầu bài viết này, Đặng Thân sắm đúng vai tuồng trên sân khấu: bước ra khệnh khạng trên đôi hia kỳ ảo một bước tới giời, đoạn hống hách xưng như ta đây… Nhân vật xưng NHƯ TA ĐÂY ĐẶNG THÂN lấy mình để luận công án “ lưới học”… Rằng Thân tôi được mời đi thuyết trình một vấn đề bá cháy thiên hạ, trước một đám đông ngang kiến, tôi chơi một chiếc áo lưới rất xiếc khiến người ta nhìn tôi không thiện cảm,thậm chí có người còn chửi tôi dị hợm… Nhưng khi tôi xuất chiêu thuyết trình, mới vài đường tuyệt chiêu hùng biện kinh người, khiến đám đông ngây ngất mà vỗ tay tán thưởng tí ngất. Từ đó thiên hạ quên ngay cái áo lưới của phường tuồng trước đó mà chỉ chú ý đến nhà đại hùng biện Đặng Thân.
Qua màn NHƯ TA ĐÂY, Đặng Thân muốn áp dụng cho siêu thi sĩ Quang Thiều; rằng phải nhìn qua chiếc lưới dệt bằng ánh sáng từ hố thẳm mới nhận biết được sự quá lớn của thơ Thiều; như đứa bé trong truyện Andexsen nhìn qua TẤM ÁO BÀO CỦA HOÀNG ĐẾ dệt bằng ánh sáng mà muôn dân đang hò reo ca ngợi là tuyệt trần… he he he he. Thơ ông giời Quang Thiều dệt bằng ánh sáng của Andexsen chứ không phải của hố thẳm. Chỉ cần một chú bé nói thật chỉ vào hoàng đế thi ca Quang Thiều nói nhỏ: tức cười chưa, hoàng đế thi ca cởi truồng chứ có ai lại mặc bộ quần áo thi ca dệt bằng ánh sáng bao giờ…
Xin xem tiếp vở tuồng chọc cười của nhà hùng biện Đặng Thân với những lời lẽ đao to búa lớn, với lối phúng dụ, phóng đại hết cỡ, sến (cải lương hết cỡ), bốc phét tới mức ghê người, vô lối, vô bằng cứ, vô phép, hoàn toàn thoát li văn bản, bốc Nguyễn Quang Thiều lên như một vị thánh sống, hoặc hóa phép thần thông quảng đại kinh hơn Tôn Ngộ Không, như sau :
“Trong mắt tôi, thơ Nguyễn Quang Thiều như một tấm lưới vô biên, không phải được dệt bằng sợi gai, sợi cước PA hay nylon sợi xe như người ta thường gặp; nó được dệt bằng ánh sáng, thứ ánh sáng của “hố thẳm”. Và anh đã tung chài khai mở:
[T]rong thế giới trong suốt, hay trong cõi hư vô làm ta có thể chết vì khiếp sợ lại hiện lên một phong cảnh đầy đủ nhất. Phong cảnh ấy, đối với tôi, nó là một cõi. Cái cõi ta vừa làm đầy nó vừa không chiếm lấy dù chỉ là một điểm nhỏ nhất, mà chỉ có trí tưởng tượng kỳ diệu mới có thể lờ mờ nhận ra.[2]”
Chắc Đặng Thân có con mắt thứ ba… rồi có con mắt thứ một tỷ kiểu như mắt chiếu yêu của Bạch Cốt tinh mới nhìn thấy đại xu hào (đại thi hào) Nguyễn Quang Thiều từ mấy tỉ năm trước đã vút lên một vầng sáng siêu tinh gồm nửa tỉ mặt trời từ hố thẳm hư vô thông qua vụ nổ Big Bang mà sáng tạo ra càn khôn vũ trụ thi ca tân con cóc hôm nay. Xin kính chào những hố thẳm văn chương, những vầng sáng văn học thi ca được dệt bằng triệu triệu mặt trời tinh tú: Nguyễn Quang Thiều-Đặng Thân…Các ngài còn kinh hơn cả Thượng Đế hóa phép khôn cùng…
Xin xem những lời thần chú rất ư tù mù của ông Thiều vừa phát ra từ hố thẳm Big Bang do Đặng Thân dẫn; rằng cõi thơ Thiều còn bí ẩn hơn cả cõi Thượng Đế:”chỉ có trí tưởng tượng kỳ diệu mới có thể lờ mờ nhận ra”. Rằng thơ của người giời Nguyễn Quang Thiều chỉ có những người giời khác như Đặng Thân, Hoàng Ngọc Tuấn, Hữu Thỉnh, Nguyễn Quyến, Nguyễn Đăng Điệp, Đỗ Quyên …mới có thể lờ mờ nhận ra.
Thế thì xin thưa các người giời trên, xin thương lấy những người trần chúng con cùng mà mỗi khi chúng con đọc thơ ông giời Nguyễn Quang Thiều, xin các ông giời tấu hài phê bình theo chúng con vào giương ngủ hay toilet để chỉ cho chúng con cách đọc thi thiên của giời tân con cóc… Amen.
Nhà hùng biện tù mù học, lưới học, hố thẳm học, ánh sáng học Đặng Thân tiếp tục thọc lét người đọc bằng sự bốc phép mà quỷ Sa tang cũng phải gọi bằng cụ để bốc ông giời Thiều lên ba vạn chín nghìn thế giới thi ca tân con cóc như sau:
“Hạng thiện trí thức đều yêu văn chương và tư tưởng. Nếu có ai như đó hỏi hãy nêu hai nhà thơ Việt cần đọc nhất trong 100 năm qua chắc rằng tôi, sau vài hồi cân nhắc cỡ trăm cái tên, sẽ bảo nên đọc Hàn Mặc Tử “vỗ cánh bay chín từng trời cao ngất”, và Nguyễn Quang Thiều. Tử thì ném tư tưởng vào vạc dầu cho thơ bốc hơi; Thiều thì lập kỷ lục Guinness thổi thơ ra thành thiên hình những bong bóng tư tưởng muôn sắc, ví dụ 1 là câu trên. Với người phàm, cả hai đều tôn thờ đường lối có định hướng “loạn thần kinh”, vì kẻ trước (đã chết trong tủi hủi) thì đẻ ra trường thơ loạn, còn người sau (đang sống vinh) thì làm loạn trường thơ. Cả hai đều đến từ và đi về “hố thẳm” (của những vô thức, giấc mơ, tâm tưởng, ẩn ức, bi ám…), để đẩy ngôn ngữ con người thành tiếng kêu trên đỉnh núi, khả dĩ làm “lạnh cả thái hư”.
Chao ôi là ngôn từ của những người cõi khác ( cõi âm). Đặng Thân phán như ma phán, như quỷ thần giảng sấm, như tiếng hú lạnh cả thái hư của Không Lộ thiền sư trong bài thơ “Ngôn hoài”: “Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư” của cõi hố thẳm, vực sâu, mộ địa, thái hư, vô thức, giấc mơ, bị ám, ẩn ức, quỷ ám, ma hành…vô thiên lủng ma quỷ và các thiên thần chim chích đi săn đầu các nhà tư tưởng khai hỏa bằng đại bác thi ca tân con cóc…Viết như thế này, ngành tấu hài Việt Nam có khi phải đệ đơn kiện Đặng Thân đã núp bóng phê bình thi ca mà cướp cơm chim của họ; khi đưa sự tấu hài lên cõi thiên lôi mà nhà du hành vũ trụ Phạm Tuân dù đã lên vũ trụ còn phải gập đầu liên tù tì như con bổ củi vái ông trăm vạn mớ…
Thi hào Hàn Mạc Tử giờ này đang ngự dưới chân Mẹ Maria trên thiên đường của người Ki tô giáo, chắc phải thót tim khi nghe Đặng Thân bôi nhọ ông là loạn thần kinh, tố cáo ông phạm tội kiêu ngạo, phạm tội ngông cuồng, phạm tội du côn như sau: “Tử thì ném tư tưởng của mình vào vạc dầu cho thơ bốc hơi”.
Xin ông Đặng Thân hãy thương lấy linh hồn Hàn thi nhân vốn yếu đuối “ run như run thần tử thầy long nhan” mà viết lời đính chính, như ông đính chính việc mình lầm thánh Phê rô ra thánh Phao lồ, rằng “Đặng Thân con ở cõi mê có nói bậy về Hàn Mặc tử, xin Chúa tha cho Hàn mà không ném nhà thơ đàn em của ông Thiều này xuống vạc dầu địa ngục vì hành vi ngông cuồng, kiêu ngạo mà con đã vu vạ cho nhà thơ tỉnh táo vô cùng trong niềm tin Thiên Chúa ba ngôi”
Cũng xin ông Đặng Thân đính chính lại về việc ông cho ông giời thơ là Nguyễn Quang Thiều vừa đạt được kỷ lục Guinness về thiên tài thổi bong bóng, dù là bong bóng tư tưởng đi chăng nữa; vì nếu bài viết của người cõi trên này được hai nhà lý thuyết hậu hiện đại là các ông Hoàng Ngọc Tuấn và ông Nguyễn Hưng Quốc dịch ra Anh ngữ, thì nhất định nhà vô địch thế giới về thổi bong bóng là Sam Sam Bubbleman ( còn có tên khác là Sam Health,kỷ lục Guinness thổi một quả bóng khổng lồ lên trời chứa 56 quả bóng con con bên trong) có thể sẽ kiện ông giời thơ Quang Thiều và ông Đặng Thân ra tòa bắt bồi thường nhiều triệu đô la; vì hốt nhiên lừa dối thế giới cướp kỷ lục thổi bong bóng của họ có phải nguy không ? Chúng tôi xin can ông Đặng Thân đừng có mà đùa với luật pháp quốc tế; như ông đang đùa dai với dân tộc Việt Nam về chuyện Thánh Phê Rô thơ Quang Thiều đang trùm tấm áo choàng hoàng đế bằng ánh sáng thi ca lên đầu Nguyễn Trãi, Nguyễn Du vậy…
Nói ba láp ba xàm vung xích chó mãi về ông hố thẳm thơ, ông ánh sáng thơ, ông thổi bong bóng thơ, ông canh giữ nền thơ Việt, ông đánh lưới thơ, ông Tôn Ngộ Không thơ, ông thiên lôi thơ Quang Thiều, cuối cùng ông thầy bói mù xem voi Đặng Thân đã phải trưng ra cái tuyệt chiêu thơ rất cụ thể bằng mấy câu bùa chú rất tân con cóc, nôm na mách qué,nhưng sáo rỗng, đao to búa lớn dễ dãi nhạt nhẽo của người cõi trên thơ như sau:
“Chàng trai trẻ mãi Nguyễn Quang Thiều mang trong mình sức mạnh của cả dòng sông Đáy xưa bên chốn quê nhà mà tung lưới. Bản thân những vẩy cá bám trên người đã lấp lánh như những huân chương.[3]Nào hãy cùng anh về với cội rễ ngày xưa, khi chàng trai bỗng thấy
Ngẩng mặt một vầng mây đỏ
Nổ vang tiếng sấm lưng trời
Cúi đầu một miền cỏ trắng
Nở xòe tám hướng bốn phương.
mà ghi lại trong bài “Lễ tạ”.
Điềm trời rạng rỡ! Xuất bước trường chinh là hành lễ; “lễ” là gốc con người anh. Cái gốc hiếu kính “ngẩng mặt” đó ngay lập tức đem đến danh vọng, tiếng tăm vang dội của một danh sỹ phương Nam “cộng sản nòi” (“mây đỏ” / tượng quẻ Ly), để rồi khiến hầu khắp phương Tây (“cỏ trắng” / tượng quẻ Đoài) phải “cúi đầu” quý phục, rồi sau đó là “tám hướng bốn phương” phải “nhiệt liệt chào mừng”. Quả là một hổ tướng bất hư truyền! Nhớ câu “mỹ nhân tự cổ như danh tướng” của người xưa mà, vận vào cho anh rằng:“danh tướng bạch đầu hứa mỹ nhân”.
Chao ôi là những lời bình kinh hãi:ông Thiều giời con thơ vốn nòi cộng sản, NGẨNG MẶT lên một phát là danh vọng nổ vang trời như sấm, khiến cả thế giới phương tây CÚI ĐẦU bái phục thơ ông. Dựa vào mấy câu đao to búa lớn dễ dãi như thế mà bốc nhau lên thành Thái thượng lão quân thơ Quang Thiều như thế, quả là người bốc thơm này đã mất dây thần kinh xấu hổ, than ôi !
Xin chép lại hai câu nền tảng trong bốn câu thần chú trên của ông giời thơ Quang Thiều do ông thầy bói mù sờ voi thơ Đặng Thân vừa trích xem ông đại xu hào kia ĂN CẮP CỦA NHÀ THƠ NÀO:
“NGẨNG MẶT một vầng mây đỏ
….
CÚI ĐẦU một miền cỏ trắng”
Ý thơ này ông Thiều thó từ hai câu thơ của Lý Bạch, trong bài thơ nổi tiếng nhất của vị thánh thi đời Đường “Tĩnh dạ tứ”: “Cử đầu vọng minh nguyệt/Đê đầu tư cố hương”; Tương Như dịch rất hay như sau :”NGẨNG ĐẦU nhìn trăng sáng/ CÚI ĐẦU nhớ cố hương”…
Có thể ông Thiều còn thó bao nhiêu ý thơ của các nhá thơ Mỹ La tinh và các nhà thơ Mỹ khác, ai người kiểm chứng vạch sâu tìm lá đây?
Hãy nghe nhà tấu hài Đặng Thân chọc cười rất vô duyên khi bói ra từ mấy chữ tầm thường, dễ dãi được gọi là thơ của ông Thiều, rồi bốc lên vô cớ, hoàn toàn phi văn bản, một sự tán phét không hề biết ngượng, như sau :
“ Trong tiếng kèn “xung phong” của bài “Lễ tạ” cũng có những điềm thật day dứt, đó là khổ thơ đầu:
Con đường
Con đường
Con đường
Dắt ta về hồ nước cũ
Và khổ cuối:
Ra đi từ hồ nước cũ
Con đường
Con đường
Con đường
Chà chà… cái “hồ nước cũ”! Bài thơ này ắt hẳn đến với nhà thơ từ trong vô thức, vì chàng trai trẻ chưa hề đi mà sao đã mở đầu với việc “đi về” rồi sau đó mới nhớ về cái lúc “ra đi”. Có thể nói, Nguyễn Quang Thiều làm thơ như bị “giời xui”.
Chà chà cái… “hồ nước cũ”!!
Đó ắt chăng nạn thủ cựu? Đó phải niềm dục tống cựu nghinh tân, cho anh dấn thân trong sự nghiệp cách tân, đổi mới? Đó cũng là truyền thống sâu bền, nơi phát sinh mọi ngả đường hướng tới, có những con đường “đi” thì vòng vèo mà “về” thì thẳng tắp? Vẫn là vần luật đấy mà phá cách đấy; vẫn đời đấy mà điềm đấy; như cửa ngõ huyệt đạo cho mọi sinh tử thăng giáng hư thực vào ra…
Đó chăng là chính nơi anh sợ hãi: thâm hiểm, hôi thối, cố hương, bần cố, tù đọng, dập tắt, trì trụ… mà không thể nào dứt bỏ; nhưng cũng chính là nơi anh xuất phát; và, anh đã vượt qua sợ hãi: ngọn lửa nơi anh đã dũng cảm đương đầu đốt hồ nước ấy mà không hề kinh nó sẽ dập tắt mình, đun sôi nó lên cho nó được thăng hoa?
Đó ắt là “hố thẳm”… Vì thế, là nơi anh đã ra đi, đã từ bỏ, đã dứt níu… để rồi lại hiển hiện trở về sau khi đã “uống rượu cùng người dưới ba tấc đất” và “hầu chuyện cùng đấng trên bảy tầng trời”.[10] Cõi tâm linh u minh đầy niềm riêng ấy làm sao có ai vào được. Thi nhân ém mình trong hố thẳm, tối tăm, tối tăm lắm, tối tăm không chịu nổi… và trong cõi uyên mặc của huyền tẫn dần dần hiện ra những sợi tơ, những sợi tơ từ lung mung bỗng hóa lung linh trong cảm thức kỳ bí, bủa lưới hồn, khiến hồn thi đầy hưng phấn trong thiên la địa võng ánh sáng ngũ sắc rồi bùng nổ như chùm chùm pháo hoa. Hố thẳm đã ban cho tấm lưới vô song, nay vào tay người được hưởng phúc.”
Qủa tình, đọc những lời tán dương phi văn bản mấy chữ dông dài kia của Quang Thiều, người đọc hẳn đều ngượng chín mặt như khi xem một cuốn phim dở vô cùng tận.
Chúng tôi xin mượn cách bình thơ phi văn bản rất tấu hài của ông Đặng Thân để bình bài thơ dưới đây của thi sĩ Huyền Kiều, so với mấy chữ phi thơ trên của ông Thiều do Đặng Thân trích còn hay chán:
Vịnh thành Huế
Ơ hay thành Huế vẫn đang còn
Trải mấy nắng mưa chẳng xói mòn
Bò bún Đông Ba chan nóng hổi
Phải nhiều tương ớt mới thơm ngon…
Huyền Kiêu
Bài thơ tuyệt vời này bắt đầu từ cảm giác vũ trụ: Ơ HAY… Con người từ loài khỉ bước ra chợt kêu Ơ hay. Khi Thượng đế nặn ra con người từ đất ngạc nhiên quá cũng kêu ơ hay… Ơ hay chính là ngôn ngữ của hố thẳm, của hư vô, của cõi ta bà… Ơ hay, do đó đã đưa bài thơ của Huyền Kiêu lên tầm thế giới mà Nguyễn Quang Thiều còn một tỉ năm cũng chưa đạt tới. Bài thơ này còn lớn hơn nữa khi tác giả dùng một đảo ngữ làm kinh thiên động địa, làm thay đổi toàn bộ cấu trúc AND của ngôn ngữ Việt: BÒ BÚN… Kẻ tài mọn thì chỉ biết dùng từ sáo mòn RẤT ĐÁNG CHÊ LÀ BÚN BÒ, bậc thiên tài mới phát hiện ra cách đảo ngữ làm càn khôn còn nức nở: BÒ BÚN. Ôi hạng Lý, Đỗ cũng tủi trước thiên tài Huyền Kiêu – người của hội chứng HỐ THẲM… Chỉ có Hố thẳm mới sinh ra tiếng sét BÒ BÚN mà thôi. Ô hô hô hô… bậc giời thơ còn cho chúng ta một bất ngờ mà vô biên cũng sửng sờ kinh ngạc? Sao thơ ca từ xưa đến giờ ngu đến mức chưa ai phát hiện ra TƯƠNG ỚT ư ? Ha ha ha ta ta khoái chí vỗ đùi đánh đét, lại vỗ nhầm vào núi Thái sơn mà ca rằng: tương ớt tương ớt, Kinh Thi đã quên mày, Khuất Nguyên đã quên mày, bọn Lý Đỗ cũng quên mày, mày làm Thánh Thán và Đặng Thân đều khoái chí mà ca rằng tương ớt tương ớt linh hồn của hố thẳm, chính mày đã dệt nên ánh sáng của vua thơ Quang Thiều he her he he …
Nhân hứng chí lối bình thơ tấu hài của Đặng Thân bình thơ Quang Thiều, Trần Mạnh Hảo xin mượn bút pháp Đặng Thân bình tiếp bài thơ NÚI VOI của thi sĩ Bút Tre :
NÚI VOI
Núi voi trông thật giống con voi
Đủ cả đầu đuôi đủ cả vòi
Voi cũng như người hăng sản xuất
Đầu thì trồng sắn đít trồng khoai
Ha ha ha một bài thơ vượt qua mọi ngưỡng thi ca, vượt qua hậu hiện đại đến mấy thế kỷ. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, từ ĐÍT được tôn vinh lên chín tầng trời. Đít đây không chỉ là đít con người – nơi để ngồi và để ném bom ngã quỷ. Đít đây là đít triết học, đít minh triết, đít tôn giáo, đít thiền, đít Tôn Ngộ Không có nhúm lông thần linh 72 cái, nhổ một lông đít lên, thổi cái phù một phát là xuất hiện một phép thần thông quảng đại; chẳng hạn nhổ một lông đít, thổi phù gọi cho ra một triệu bài thơ hậu hiện đại kiểu nào cũng có một lô một lốc thi ca tuyệt đỉnh… Đít đây là một phạm trù đít, một nguyên tắc đít, một motif đít, một thi pháp đít…Tóm lại, thi sĩ Bút Tre bằng bài thơ này đã trở thành nhà đít học số một thế giới. Đít ấy chính là lối vào hố thẳm của ánh sáng dệt nên thi ca tuyệt đỉnh NÚI VOI…
Cứ đà phê bình tấu hài theo phương pháp Đặng Thân có thể viết cuốn sách nghìn trang bình bài thơ này: một cách bình thơ ngoài văn bản, bình thơ tùy tiện và nhảm nhí vượt qua mọi sự nhảm nhí trên đời…
Tác Giả: Bánh Mì Trứng
Nguồn: Tàng Thư Viện
Võ Lâm Ngũ Bá là danh hiệu để chỉ năm ông trùm trong tiểu thuyết Kim Dung, xuyên suốt từ bộ Anh hùng xạ điêu cho đến Thần Điêu hiệp lữ, có cả bộ Võ lâm ngũ bá nhưng là hàng fake nên không tính.
Năm ông này chia ra cai quản năm phương trời, mỗi người có địa bàn làm ăn riêng, không ai chạm tới ai, kiểu như Ngũ đại gia đình mafia của New York.
Vương Trùng Dương
Trùm to nhất, chuyên bán thuốc luyện đan, thông tục bây giờ gọi là thuốc lắc, có thể khiến con người ta lên tiên. Ông này do kinh doanh mặt hàng siêu lợi nhuận này nên thế lực to nhất, dưới tay có bảy ông đệ, tự xưng là Toàn chân thất tử, lập thành Toàn chân giáo, tức giáo phái toàn là chân.
Mã Ngọc : đại đệ tử, chuyên lo việc luyện đan cất thuốc, sản xuất hàng trắng và thuốc kích thích, tự xưng là Đan Dương Tử.
Khưu Xứ Cơ : nhân vật máu chiến nhất của phái Toàn chân, chuyên dùng để chém giết, dằn mặt các băng đảng khác. Ông này tính tình ưa thích du lịch, cá độ, suốt ngày chạy lăng quăng khắp nơi, lấy đồ trong túi dễ như chém đầu đại quan, từng qua Mông Cổ nhậu với Thành Cát Tư Hãn, tên nằm đầu bảng cần theo dõi của cảnh sát.
Ngọc Dương Tử Vương Xứ Nhất
Trường Sinh Tử Lưu Xứ Huyền
Trường Chân Tử Đàm Xứ Đoan
Quảng Ninh Tử Hách Đại Thông
Thanh Tĩnh tản nhân Tôn Bất Nhị
Năm ông đệ sau không có gì đặc biệt, chuyên dùng đánh hội đồng, huấn luyện ong ve, lâu lâu chui ra hòn non bộ phía sau núi bế quan, thực ra là mở sòng bạc chui. Đặc biệt trong bảy người có một nữ chiến binh là Tôn Bất Nhị, tính tình hung dữ kỳ quái, ai ai cũng khiếp hãi, sau này bị Dương Quá và Tiểu Long Nữ dằn mặt cho một trận te tua.
Toàn Chân giáo xuất thân là dân buôn hàng trắng, tự coi mình là băng đảng lớn nhất thiên hạ, hễ gặp việc gì không vừa mắt là xúm vào giải quyết bằng vũ lực, chính vì thế dân trong vùng tuy rất ghét nhưng không ai dám nói gì. Có điều tuy hống hách khó ưa nhưng thế lực Toàn chân giáo cực lớn, lại có trận thế trấn sơn là Thiên Cang Bắc Đẩu trận, ông trùm Vương Trùng Dương võ nghệ cao cường, bắn súng hai tay như một, giang hồ ít ai dám dây vào. Điểm này rất giống một băng đảng to béo khác là Thiếu Lâm.
Trận pháp Thiên Cang Bắc Đầu bí quyết ở chổ bảy ông đệ ngửa mặt lên trời, mỗi ông chọn lấy một vì sao đep nhất, mạo nhận là mình, sau đó xoay vòng vòng như bông vụ xung quanh đối thủ, chu mỏ há miệng, lè lưỡi phun nước bọt, cuối cùng đối thủ hoa mắt ngã lăn ra mà chết. Trận này sau phát triển thành trận cực to, mấy trăm người cùng xoay, hoành tráng lăng lệ, rất thích hợp cho lễ tiệc cung đình, nhưng do toàn là đàn ông xoay nên không được ưa chuộng lắm.
Vương Trùng Dương võ công đệ nhất thiên hạ, có điều như thần long thấy đầu không thấy đuôi, chết sớm nhất trong Ngũ Bá. Lúc còn sống, ông đã nuốt một món hàng cực lớn là Cửu Âm chân kinh, khiến cho tứ bá còn lại căm giận ganh ghét vô cùng. Vương Trùng Dương cũng là nhân vật hổ báo nhất trong ngũ bá, dám một mình tập hợp quân đội chiến với chính quyền, chỉ tội bị đánh thua liểng xiểng, bỏ chạy về núi Chung Nam trốn mất.
Về núi chưa yên ổn bao lâu, xuất hiện một đại mỹ nhân là Lâm Triều Anh tới đòi yêu. Họ Vương đang hồi buôn bán phát đạt, tất nhiên không thích chia chác cổ phần bèn từ chối quyết liệt. Ai ngờ Lâm mỹ nhân cũng giang hồ có tiếng, ngang nhiên bày kế cướp mất kho bãi Hoạt Tử nhân mộ dưới chân núi Chung Nam, chẹn đường buôn bán của Toàn Chân phái, đặt thêm một dàn ong ve thủ hàng nóng, hễ thấy đệ tử Toàn Chân là xông vào bề hội đồng.
Vương Trùng Dương tuy tức trào máu nhưng do phải chia lực ra chiến với tứ bá nên không rảnh lo tới Lâm Triều Anh, sau này lăn chết vì quá lao lực, bỏ lại giấc mộng nhất thống giới buôn hàng trắng. Tuy chết sớm, nhưng đã kịp thời chọt cho Âu Dương Phong một nhát trọng thương rồi mới chịu lăn ra tắt thở.
Kể từ đó Toàn Chân thất tử mất sự đỡ đầu của ông trùm, bắt đầu bị đánh te tua. Sau này ở thôn Ngưu gia bị Hoàng Dược Sư và Âu Dương Phong, hai người trong tứ bá phá tan Thiên Cang Bắc đẩu trận, đánh chết mất Đàm Xứ Đoan. Toàn Chân phái về sau phát triển Thiên Cang Bắc Đẩu trận thành Đại trận pháp, định dùng trận này lấy lại danh tiếng, không ngờ Trường Giang sóng sau xô sóng trước, trận pháp này cũng chẳng ăn nhằm vào đâu, Hoạt Tử nhân mộ cũng không cách gì lấy lại được, Toàn Chân giáo dần dần suy vi thành phường xóm băng đảng, không đáng nhắc tới trên giang hồ. Toàn chân thất tử cố vớt vát lại bằng cách ra sau núi mở sòng bài, không ngờ bị một đám ngoại nhân ganh ăn tức ở tới phá tan nát, tên nào cũng võ công cao cường, hung hăng bá đạo, thất tử không có cách nào, chỉ đành đứng nuốt nước bọt suông lầm bầm chửi thầm.
Nhắc tới Toàn Chân giáo không thể bỏ qua sư đệ của Vương Trùng Dương là Châu Bá Thông, biệt hiệu Lão ngoan đồng. Châu Bá Thông võ công cao thâm không kém gì Vương Trùng Dương, chỉ là tính tình ham chơi, không hề lo tới việc trùng hưng băng đảng, suốt ngày chỉ bắt bướm hái hoa, tằng tịu vương phi, hít đất chống đẩy. Sau nghiên cứu phát triển được một loại tiên dược, uống vào có thể (tưởng tượng rằng) trẻ mãi không già, kiếm lời vô số, kua lại người tình cũ, mua một khoảnh đất thật to vùng ngoại ô, xây thành khu nhà nghỉ mát, xung quanh trồng đầy hoa anh túc, sống một cuộc đời vui vẻ vô ưu, bỏ mặc đám đệ tử lổ mũi trâu tự sinh tự diệt.
Vương Trùng Dương rất giống một nhân vật khác của Kim Dung là Độc Cô Cầu Bại, chỉ hiện diện qua lời kể của những người khác. Võ công cao thâm khôn lường, nhưng chưa ai thật sự tận mắt chứng kiến. Tuy ông võ công cao, nhưng lại huấn luyện một đám đệ không ra gì, đám đệ này lại huấn luyện một đám ong ve không ra gì gấp ba lần, huỷ diệt cả một băng đảng danh tiếng trong võ lâm.
P/s: entry nầy MỘC xin tặng nick name CÔNG TỬ RỪNG LÔNG
Màu của Thơ
Không biết tự bao giờ, thơ như chiếc áo rực rỡ khoác vào người con gái, đính lên đấy những hồng, những xanh, những vàng cam thắm biếc qua từng thướt tha như nét dịu dàng muôn thủa của họ; bước chầm chậm nết na thuỳ mị vốn có của phái yếu. Ở đó, ta chìm lặn qua từng gam màu được các thi sĩ pha trộn, hoà quyện với nhau để người đọc chiêm ngưỡng "chiếc áo ấy" từ ngỡ ngàng nầy đến ngạc nhiên khác, rồi bỗng tan biến như thỏi đá trong cốc thuỷ tinh.
áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc
áo nàng xanh tôi mến lá sân trường
sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương
tôi thay mực cho vừa màu áo tím
(Tuổi Mười Ba - Nguyên Sa)
Ngoài các màu xanh vàng tím đỏ mạnh mẽ ra, ta còn bắt gặp một màu trắng trinh nguyên thánh thiện "áo em trắng quá nhìn không ra / ở đây sương khói mờ nhân ảnh". Trong một hoàn cảnh khác màu trắng được nhà thơ Ngô Văn Phú khắc hoạ như môt bức tranh thêu dang dở, lùa thùa đến lãng mạn.
trên trời mây trắng như bông
ở dưới cánh đồng bông trắng như
mấy cô má đỏ hây hây
đội bông như thể đội mây về làng
Tuy nhiên, có một loại màu chưa xác định được là màu gì bởi nó thông qua một loại ... lông đến bất ngờ thú vị mà chỉ có THƠ mới nói được điều đó
tôi hỏi một không tám không
chị ơi nỗi nhớ thì lông màu gì?
(Lặng Im Thì Cũng Vừa Tàn Mùa Đông - thơ Nguyễn Thế Hoàng Linh)
Trong văn học nghệ thuật nói chung, trong thơ nói riêng những từ ngữ nhạy cảm, dung tục dễ gây hiểu lầm cho người đọc như quần / lông / bướm / chim ... nên rất hạn chế sử dụng, thường được các tác giả né tránh, nhất là các phẩm ấy nói về Mẹ, về Chị, về Em ... ngay trong giao tiếp đời thường, thi thoảng người ta cũng ám chỉ chữ "quần" như sau: "cán bộ cần phải đi sát, đi sâu vào quần ... chúng nhân dân". Tất nhiên đây là lối chơi chữ thể hiện qua 3 dấu chấm lững (...) để bài xích nhau mà thôi. Còn trong bài viết hạn hẹp nầy tôi muốn đề cấp đến một bài thơ đã được tác giả "tự nhiên như nhiên" sử dụng từ "lông" một cách khá táo bạo đến nhuần nhuyễn, như một tất yếu khách quan tồn tại trong đời sống tinh thần lẫn vật chất xã hội muôn thủa như "con mèo con chó có lông / bụi tre có mắt nồi đồng có quai" vậy. (đồng dao).
Vâng, đằng sau tiếng tù và gọi nhau mùa nương rẫy của dân tộc ta thủa hồng hoang thì chữ viết, thư tín lần lượt ra đời tiếp sức cho truyền thông, đến khi thông tin bùng nổ thì điện thoại, truyền hình, internet tiếp tục làm nốt nhiệm vụ lịch sử của nhân loại giao phó đó là truyền tải tín hiệu từ trái tim đến trái tim, từ yêu thương đến yêu thương. Trong đó dịch vụ 1080 chuyên giải đáp thắc mắc và gở rối tơ lòng cho mọi người trở thành người bạn đường thân thiết.
Cho đến một ngày kia nhà thơ bỗng nhớ người yêu mình đến thê thiết nôn nao, anh gọi đến tổng đài
tôi hỏi một không tám không
chị ơi nỗi nhớ thì lông màu gì?
chị tổng đài giọng nhu mì
a, nhiều màu lắm, vặt đi, vẫn nhiều
Thì ra, cả người hỏi lẫn người trả lời đều rất vô tư thoại về "lông" một cách hết sức hồn nhiên đến kinh ngạc "a, nhiều màu lắm, vặt đi, vẫn nhiều". Họ khẳng định "lông" rất nhiều, nhiều đến nỗi "vặt đi, vẫn nhiều" cũng đồng nghĩa với nỗi nhớ khôn nguôi, nỗi nhớ da diết đến thênh thê, không có màu sắc nào phản ảnh hết; không có ngôn từ nào diễn tã được. Còn nhớ nhạc sĩ Trần Tiến cũng với tâm trạng tương tự anh viết
một đêm nhớ nhớ nhớ ra mình một mình
một đêm nhớ nhớ nhớ ra mình ở đâu đây
một đêm trong đêm thâu một vầng sáng chói loá
một đêm nhớ nhớ nhớ ra ta vô hình
một màu xanh xanh xanh chấm thêm vàng vàng vàng
(Sắc Màu - Trần Tiến)
Trong một trường hợp khác, nỗi nhớ cũng được thi nhân so sánh với con mèo, con chó "em nhớ anh em buồn như con chó ốm / như con mèo ngái ngủ trên tay anh". Thật vậy, chỉ có những người được yêu, đang yêu mới chấp nhận từ động vật bậc cao bước xuống động vật bậc thấp như "con chó, con mèo" dễ thương kia mà đời thường ai đó lỡ lời "nửa người nửa ngợm nửa đười ươi" thì lập tức bị phản ứng gắt gao. Ở đây, ta thấy tình yêu nhiệm màu, mang sức hút trái tim nồng nàn nóng bỏng, biến người tỉnh "tôi hỏi một không tám không" thành người điên chỉ trong khoảnh khắc, như ma lực.
hình như là bạn đang điên?
vâng, điên thì mới phí tiền hỏi han
Ai cũng biết 1080 là dịch vụ thu phí mà, nhưng không phải tất cả đều quy ra tiền, tất cả đều phải sòng phẳng như "trái bí trao qua, trái cà trao lại" đâu, mà trước khi sự sòng phẳng ấy được "trao" thì chị "tổng đài giọng nhu mì" đã chân tình chia sẻ với tác giả rằng
hình như là bạn đang yêu?
không, em chỉ hỏi những điều hồn nhiên
Chao ôi, hồn nhiên đến nao lòng, hồn nhiên để sau đó anh phải "điên" lên vì nỗi nhớ dày vò, nỗi nhớ quắt quay "vâng, điên thì mới phí tiền hỏi han".
Đến đây thì dịch vụ hỏi đáp 1080 kết thúc. Cứ tưởng "người điên không biết buồn / người say không biết nhớ" nhưng ai ngờ anh đã tỉnh lại sau khi thanh toán "phí điên" của mình "xong xuôi, hết bốn chín ngàn". Lại một bất ngờ nữa, một bất ngờ mang tính thời đại mà một lần nữa tôi nói chỉ có THƠ mới nói được. Bởi, "bốn chín" là con số mặc định trong nền kinh tế thị trường mà trước đó nhà thơ đã điểm qua "phí hỏi han" như tỷ lệ vốn góp trong các công ty TNHH đối với tư nhân hợp tác với nhà nước là 49%, nhà nước luôn luôn nắm giữ 51%, có nghĩa họ cao hơn 2% để nắm quyền lãnh đạo. Hay trong các hợp đồng thuê đất, thuê cơ sở vật chất kỉ thuật có thời hạn 51 năm thay vì 49 năm để người thuê yên tâm làm ăn. Nhà thơ thời đại @ luôn luôn nắm vững qui luật kinh tế, cài đặt trong "nỗi nhớ" của mình con số 49 mà không phải là số khác như "xong xuôi, hết ba chín ngàn" chẳng hạn ...
Một bài thơ lục bát kể cả tựa vỏn vẹn 10 câu, nhưng tác giả đã vẽ nên một bức tranh toàn cảnh về xã hội với tình yêu, nỗi nhớ, các dịch vụ phục vụ cộng đồng với cách sắp đặt ngôn ngữ độc đáo, không né tránh và lại gần gũi, thân thương đến lạ lùng "chị tổng đài giọng nhu mì", nửa hư nửa thực, long lanh như bảy sắc cầu vồng, trong cõi lặng im vốn là thuộc tính muôn thủa của tình yêu lứa đôi như tựa bài thơ "lặng im thì cũng vừa tàn mùa đông" vậy.
Tôi xin cảm ơn tác giả trẻ NGUYỄN THẾ HOÀNG LINH cho tôi nhận ra " ... nỗi nhớ thì lông màu gì"
(nguyên văn bài thơ)
Lặng im thì cũng vừa tàn mùa đông
Tôi hỏi một không tám không
Chị ơi nỗi nhớ thì lông màu gì?
Chị tổng đài giọng nhu mì
A, nhiều màu lắm, vặt đi vẫn nhiều
Hình như là bạn đang yêu?
Không, em chỉ hỏi những điều hồn nhiên
Hình như là bạn đang điên?
Vâng, điên thì mới phí tiền hỏi han
...................Xong xuôi, hết bốn chín ngàn
Sài Gòn, tháng 7.2012 Tác giả em hem dám nêu trừ khi được cho phép ah :"<
lão ngồi trên cái ghế tựa màu đen,vốn là niềm tự hào của lão.đằng trước treo 1 bức tranh khoả thân vác một cái bình.phía bên cạnh cái bàn là điếu cày quen thuộc
ấy,lão tự tin khi ngồi ở đó lắm
chỗ ngồi không quá cao sang nhưng cũng chẳng thiếu gì.cái cảm giác ngồi trên ghế vắt chân lên bàn rồi rít thuốc lào,mắt lim dim nhắm chìm trong những vần thơ và ngắm cái tranh trước mắt thì còn gì thú bằng
lão tận hưởng cảm giác rồi lẩm bẩm: trên đời cóc thằng nào được như tớ
cũng đúng,ở cái tuổi 49 chưa qua 53 còn lâu mới ghé.lão đầy đủ và hăng hái như một con chim mới lớn,đang lớn và liên tục lớn.lão để râu,mà để rất đẹp ,râu lão vòng từ trên vòng xuống theo đường cong tựa một cái ngoặc đơn,ở phần dưới đáy râu đều đều và khá cong bám ngược lại vào thịt lão mà không xoăn
ấy,lão tự hào về cái râu ấy lắm
lão đi đâu cái mặt cũng nghiêng một góc 25 độ,lão luôn nghĩ: vênh góc đó người đối diện mới nhìn hết đc cái sự sang trọng và kẻ cả trong bộ râu cũng như con người lão
ấy,lại nói về con người lão,một kẻ thành công trong công việc
lão bắt đầu thành công bằng nghề bán đi cái đẹp của cuộc đời,đó là bán hoa.lão có duyên và tươi tắn ,nụ cười mỉm cùng con mắt duyên kết hợp với bộ râu quai nón khiến lão hút hồn khách hàng.có bà phải lòng lão,hôm nào cũng đòi hoa của lão.có hôm lão đã bán hết nhẵn những bông hồng,cúc,violet,súng...lão bứt cả dâm bụt đưa cho bả mà bả vẫn nâng niu và vui vẻ trả tiền
giờ đã có cả hệ thống tiệm hoa từ nam ra bắc và lão cũng không còn trực tiếp bán hoa- hay không còn đủ sức mà trực tiếp nữa-lão tập chung vào công việc quản lý và chơi chim
lão thích chơi chim,mỗi khi mệt mỏi nhìn trong công việc ,lão ngắm chim ngóc cao đầu hót lảnh lót hoặc khục khặc vài ba điệu lão thấy những khó khăn nào cũng vượt qua cả
trợ lý của lão là một kẻ Lang Thang.lão luôn gặp hắn lang thang trong những lần lão đi bán hoa.lão nghĩ là có duyên và nhận Lang Thang là anh em.
Lang Thang là một kẻ có tài,từ khi có lang thang,lão lại tập chung vào thú chơi chim của mình vì công việc của lão đc lang thang vận hành một cách trôi chảy. lang thang cũng rất khéo dấu diếm những mối quan hệ bất chính của lão với những người đàn bà khác,không để mụ vợ lão biết
lang thang vừa là trợ lý,vừa là lái xe đồng thời cũng là cố vấn cho lão trong những lần đi mò mẫm.
gần đây lang thang đã trợ lực tốt cho lão tán hồng,một bé bỏ chồng chưa đầy tuần
hồng vốn có em gái tên ngân,mới 16 tuổi.lão nghe lời lang thang,đầu tư tiền bạc cho ngân mua đồ để hồng thấy đc sự phóng khoáng của lão.lão đưa hai chị em đi chơi,tiêu tiền như rác .lang thang chở lão ,hồng và cả ngân đi shop ,nhà hàng loại sang và những khách sạn loại sịn...nhưng thú thật,lão vẫn chưa sơ múi đc gì vì hồng và ngân chê: râu rậm
lão ngồi trên ghế,chân gác lên bàn,những làn khói thả dài và lẩm bẩm:"mẹ cha nhà nó,đúng là chị em,đến ghét cũng giống nhau".
nhưng lão cũng thú thật,ngần ấy năm bán hoa,chưa được một lần thoả chí gái ngoan,gái trẻ,chỉ toàn những bà sồn sồn đến mua hoa của lão,ngắm mấy mụ ấy cũng đủ chán,lão thèm quá,lão thèm lắm rồi,thèm những nụ non ngọt ngào ...
lão không nhịn được nữa ,lão cạo sạch râu-cái niềm tự hào bao năm nay của lão-rồi không gọi lang thang đi cùng,lão phóng xe một mình đến nhà của 2 chị em hồng.đèn đóm đã tắt nhưng cửa vẫn mở,lão nghĩ thầm ông trời giúp mình và đi thẳng đến phòng của hồng.lão nghe trong phòng có những âm thanh hì hục,lão bực lắm nhưng nghĩ:" hay là thằng chồng cũ con hồng nó về,có khi thế lắm,"lão rút điện thoại gọi cho lang thang,có lang thang ở cạnh,có xảy ra chuyện đánh nhau lão cũng yên tâm
có tiếng điện thoại trong phòng reo,lão giật mình.tiếp đó là một giọng quen thuộc :
"alo,dạ,em chào anh lanhdien"
tiếng hồng bên cạnh" anh ấy không nói gì ah anh"
"không" Lang Thang đáp củn ngủn rồi những âm thanh hì hục lại đều đều vang lên
lão cúp máy,máu bốc lên đầu,nhưng cái tuổi ngoài tứ tuần đủ để giữ lão bình tĩnh,.thôi thì anh em lọt sàng xuống lia,mai lão sẽ xử tội thằng lang thang,lão hậm hực phóng xe về với vợ " đói thì thèm chả thèm xôi,đã no cơm tẻ thì thôi mọi bề"
xui cho lão,vợ lão về ngoại chưa lên.chỉ có đứa con gái ở nhà trông nhà,cửa nhà khoá kín mít mà lão quên không mang chìa khoá.lão gọi to
con bé đi ra cổng với chùm chìa khóa to,nó nhìn lão rồi hỏi: ai đấy
lão buột mồm :lãnh diện
vâng,em chào anh lãnh diện
lão định bảo: tao đây,bố mày đây.nhưng lão giật mình chưng hửng và lại nhớ đến bộ râu đã cạo,lão quay lưng phóng xe đi trong lòng chán nản,xấu hổ và thầm tiếc bộ râu.trời mỗi lúc một lạnh,lão lại nhớ đến Lang Thang mình đã mang về trong đêm ngày xưa.lão chẹp miệng: đàn bà là quân áo,anh em là tay chân,thây kệ.anh em cũng phải biết nhường nhịn nhau một tí,đời đã hết đàn bà đâu,không có hồng thì còn có ngân,trẻ hơn và ngon lành hơn,có khi vẫn trinh nguyên...
nghĩ đc thế lão thấy nhẹ lòng và phóng xe nhanh về nhà ngân và hồng.cửa vẫn mở,lão đi ngoài hành lang qua phòng hồng và nhìn vào không gian tối om,thầm chúc thằng em một đêm vui vẻ.thôi thì âu cũng hợp lý
lão đến cửa phòng ngân,có lẽ ngân đã ngủ,của phòng vẫn mở bên trong chỉ có ánh đèn lờ mờ của chiếc đèn ngủ bật thật bé
lão đi đến chân giường,nhẹ nhàng cởi quần áo và chui từ phía dưới lên.lão sờ thấy chân ngân,lão định hôn nhưng chân nhiều lông quá,càng lên trên càng nhiều lông,lão chỉ cười thầm: " lông lá thế này mà chê râu mình"
lão lên trên tiếp,rồi sờ thấy cái gì đó,lão giật mình.cái kẻ đang ngủ cũng giật mình thì thào:" thôi nào em"
cái giọng quen thuộc đến lạ,có điếc tai lão cũng nhận ra,lão cầm hai vai lôi kẻ đang nằm cạnh ngân ngồi thẳng dậy
để nhìn cho rõ....
lang thang làu bàu mở mắt nhìn thấy lão rồi bật ra một câu đã thành quen bao nhiêu năm nay: