Cái đẹp của sự dang dở.
Hoài Nam
Với những người yêu thơ Hồ Dzếnh (1916 - 1991), chắc chắn không ai lại không biết đến thi phẩm nổi tiếng có tên Ngập ngừng của ông. Ngập ngừng - bản thân cái tên của bài thơ đã có ý nghĩa như là dấu chỉ, như là sự xác định một trạng thái tâm lý chưa hoàn kết của tác giả, và có thể là sẽ không bao giờ hoàn kết! Ngập ngừng có cả thảy mười tám câu thơ, thì trong đó, nhà thơ đã ba lần tự nói với chính mình (hoặc là van xin với người yêu trong tâm tưởng, nếu muốn diễn đạt theo cách khác): “Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!”.
Thật không bình thường một chút nào hết. Đại phàm, những người yêu nhau, khi đã hẹn hò gặp gỡ nhau thì đều muốn rút ngắn thời gian, muốn đốt cháy thời gian, thậm chí muốn làm cho cái thời gian phải đợi chờ bị tiêu biến ngay lập tức. Để thỏa nỗi niềm mong nhớ, để truy lĩnh sự gần gũi vốn đã bị gián đoạn vì những lý do nào đó. Vậy tại sao lại: “Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé”? Ông nhà thơ người Việt gốc Hoa này không lẽ không biết đến cái cảm giác nhớ nhung đến cồn cào vì chờ đợi của người đang yêu? Không phải thế. Ta hãy đọc: “Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!/ Để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân/ Ngó trên tay thuốc lá cháy lụi dần/ Tôi khẽ nói: Gớm, sao mà nhớ thế?”.
Cái sự nhớ nhung người yêu của ông xét cho cùng cũng chẳng khác mấy so với người thường. Có khác chăng chỉ là ở chỗ: ông không muốn chấm dứt nó, mà muốn duy trì nó; không muốn dập tắt nó, mà muốn nó cứ thế, âm ỉ cháy trong thời gian và âm ỉ cháy trong lòng người. Tóm lại, ông chờ đợi người yêu, nhớ nhung người yêu nhưng lại không muốn sự chờ đợi nhớ nhung ấy đi tới một kết cục viên mãn: sự gặp gỡ. Bởi lẽ, trong ông đã mặc định một suy nghĩ, một quan niệm riêng về giá trị của đời sống: “Tình mất vui khi đã vẹn câu thề/ Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở”. (Chính vì thế mà hai câu kết bài Ngập ngừng cũng rất đẫm chất… ngập ngừng: “Thư viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ/ Cho nghìn sau lơ lửng với nghìn xưa”). Tôi đồ rằng, sau này, khi một nhạc sỹ nổi tiếng của nền ca khúc trữ tình Việt Nam viết những câu: “Hãy cứ là tình nhân, đừng là vợ là chồng”, thì chính là do ông đã bị ám ảnh bởi hai câu “Tình mất vui khi đã vẹn câu thề/ Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở” của Hồ Dzếnh.
Tôi cũng đồ rằng, với hai câu thơ mang sứ mệnh của một “tuyên ngôn” về tình yêu và cuộc đời đầy “cắc cớ” như thế này, Hồ Dzếnh đã “trêu gan chọc tức” các nhà đạo đức học cổ điển (và cổ hủ), những người vốn vẫn khư khư giữ cái quan niệm rằng tình yêu chân chính phải là tình yêu dẫn đến hôn nhân, dẫn đến sự thành lập gia đình hạt nhân (và rồi kết quả sẽ là “tái sản xuất ra bản thân đời sống” - nghĩa là sinh con đẻ cái!). Tôi không hề có ý phản đối rằng, đã, đang và sẽ có vô khối sự chân chính trong những tình yêu trọn vẹn như thế. Nhưng chẳng lẽ những tình yêu không đi đến cùng đích của nó, bất chấp mong muốn của những cặp tình nhân và vì bất kể lý do gì, tất cả đều… bất chính? Tôi nghĩ, có lẽ ở đây, các nhà đạo đức học cổ điển (và cổ hủ) đã không thể chia sẻ được với điều mà một thi sỹ với tâm hồn đầy lãng mạn như Hồ Dzếnh đã cảm nhận đến tận đáy của nó: cái đẹp của sự dang dở!
Sự dang dở cũng có thể mang lại cho con người cảm giác về cái đẹp chăng? Có thể. Trong đời sống, trong nghệ thuật không hiếm những trường hợp như vậy, và nó được cảm nhận, theo cách càng trở nên đậm đặc hơn ở những người lãng mạn chủ nghĩa. Sự dang dở, hiểu theo nghĩa rộng, đối lập với sự viên mãn, sự hoàn thiện, sự tới đích, sự thắng lợi. (Thật ra, sự viên mãn, sự thắng lợi nào mà lại không chứa ngay trong chính nó những dang dở sắp tới. “Mãn chiêu tổn” - cái đầy gọi cái vơi - cổ nhân từng dạy thế.
Xuân Diệu cũng đã chẳng từng viết: “Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt”, là gì?). Sự dang dở có giá trị đặc thù của nó trong việc tác động tới cảm giác về cái đẹp của người lãng mạn. Hãy nói về thơ ca: không cần đến thống kê nhưng ai cũng có thể khẳng định được rằng những bài thơ “thất tình” hay thì nhiều gấp bội những bài thơ “đắc tình” hay
Đọc những câu thơ nhỏ máu vì nhớ tiếc một mối tình bất thành của Vũ Hoàng Chương: “Men khói đêm nay sầu dựng mộ/ Bia đề tháng sáu ghi mười hai/ Tình ta ta tiếc, cuồng ta khóc/ Tố của Hoàng, nay Tố của ai?” (Mười hai tháng sáu), hay bài thơ nẫu lòng như một lời vĩnh biệt người yêu của nhà thơ Pháp Guillaume Apollinaire: “Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo/ Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi/ Chúng ta sẽ không tao phùng được nữa/ Mộng trùng lai không có ở trên đời/ Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi/ Và nhớ nhé ta đợi chờ em đó” (Lời vĩnh biệt. Bùi Giáng dịch), và còn nhiều nhiều ví dụ nữa…, ta há chẳng thấy đẹp sao, cái đẹp của những mối tình dang dở đã nở thành hoa thơ từ những vết xước trong trái tim thi sỹ? (Một ví dụ mà ta có thể lấy làm phản đề cho vấn đề này là cuộc đoàn viên hội ngộ của cặp đôi tài tử giai nhân Kim Trọng - Thúy Kiều trong Đoạn trường tân thanh: Sự dang dở đã kết thúc, thay vào đó là sự viên mãn, như kết quả bù đắp cho mười lăm năm truân chuyên xa cách của hai người. Thế nhưng sự viên mãn theo kiểu “Lấy duyên cầm sắt thay duyên cầm kỳ” - từ tình nhân trở thành bạn tri giao - nó mới đầy gượng gạo và chán chường làm sao!). Văn xuôi cũng vậy thôi. Ai đã từng đọc và mê danh tác Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung, hẳn không thể không nhớ tới hình ảnh Quan Vân Trường kiêu hùng đến thế nào khi tế ngựa rẽ rừng quân để lấy đầu Nhan Lương, Văn Sú như trở bàn tay, khi một mình một đao “quá ngũ quan trảm lục tướng”, coi binh lực của những Viên Thiệu, Tào Tháo như cỏ rác. Đó là hình ảnh đẹp về một chiến tướng. Nhưng cái chết của Quan Vân Trường trước quân Đông Ngô, cái chết bi tráng của một bại tướng, cũng là hình ảnh đẹp, vì nó khiến cho tất thảy thế hệ bạn đọc Tam quốc chí diễn nghĩa đều phải tiếc nuối trước sự dang dở của một cuộc đời anh hùng cái thế.
Văn hào người Anh R. Kipling từng nói: “Đông là Đông, Tây là Tây”, ý là phương Đông và phương Tây chẳng có gì chung với nhau cả. Không hẳn thế, có vẻ như là ông văn gia Ăng Lê đã quá chủ quan, ít nhất là trong trường hợp cụ thể mà người viết bài này đang nói tới. Vì tôi nhớ (không chính xác lắm) một nhà văn lãng mạn chủ nghĩa người Pháp (V. Hugo hay Th. Gautier hay A. de Musset đây?) từng phát biểu, đại ý: ông ta thấy một viên bại tướng với chiến bào tả tơi, mặt mũi nhem nhuốc vì khói thuốc súng, thân thể đầy thương tích, trở về cùng một đội quân tan nát thảm hại, là một hình ảnh còn đẹp hơn hình ảnh một viên chiến tướng đang ca khúc khải hoàn, giáp trụ sáng choang, quân đội chỉnh tề, mặt người và mặt ngựa đều vênh lên trong niềm vui thắng lợi! Và hãy nhớ tới một chi tiết trong Đỏ và đen của Stendalh: khi công nương Mathilde La Molle tiến ra pháp trường, lấy khăn bọc chiếc thủ cấp của Julien Sorel, thì với cô, đó là cái đầu đẹp nhất trên thế giới này! Nó sẽ vẫn đẹp đến thế chăng, nếu nó ở nguyên trên cổ Julien Sorel, nếu lưỡi máy chém sắc ngọt không phập xuống và làm dang dở cuộc đời một con người trẻ tuổi đầy kiêu hãnh, đầy ý chí vươn lên để thay đổi thân phận của mình trong xã hội quý tộc - tư sản?
Sự dang dở phải chăng bao giờ cũng mang lại cảm giác về cái đẹp? Không hẳn thế. Người chiêm quan thấy là đẹp ở các phế tích như đấu trường La Mã hay thánh địa Mỹ Sơn, bởi đó là cái đẹp của sự (đã từng là) viên mãn bị lụi tàn với thời gian. Nhưng với những công trình kiến trúc xây mới mà đang còn dang dở, đang còn bừa bộn, dứt khoát không ai bảo rằng nó đẹp (đấy là tôi còn chưa nói tới những công trình hoàn thiện rồi nhưng đã và đang hiện diện một cách kệch cỡm, xấu xí, mà những thứ này thì đầy rẫy ở ta). Một bức quốc họa Trung Hoa cũng sẽ khó có thể coi là đẹp - dù nó rất tuyệt về bố cục, đường nét, thần thái - nếu thiếu đi dòng lạc khoản được viết bởi chính tay tác giả.
Tục ngữ Việt Nam có câu “Chín bỏ làm mười”. Câu này, nếu xét ở giác độ một lời khuyên về lề lối ửng xử giữa người với người trong cuộc sống, thì đúng. “Chín bỏ làm mười”, cách sống ấy khiến cho người ta không đòi hỏi, không đặt yêu cầu quá cao ở tha nhân và ở chính mình, khiến cho mọi quan hệ nhân tính đều có thể trở nên nhẹ nhàng, dễ chịu, không chấp nhặt, thậm chí có thể “xí xóa” được những căng thẳng, nếu cần. Tuy nhiên, nếu mang tinh thần “Chín bỏ làm mười” vào sáng tạo nghệ thuật và nghiên cứu khoa học thì quả thực là nguy hiểm. Trong trường hợp này, chín, chỉ cách mười một đơn vị và một cái tặc lưỡi theo tinh thần lười nhác. Thế nhưng, mười là sự hoàn thiện, toàn thiện và toàn mỹ. Còn chín, không gì khác, chính là sự dang dở, là ý chí chấp nhận sự dang dở, là không cần hoặc không có khát khao vươn tới cái toàn thiện toàn mỹ. Trong những công trình như “Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới” hoặc “Bản sắc văn hóa Việt Nam”, nhà nghiên cứu Phan Ngọc đã lý giải điều này một cách thấu đáo. Ông cho rằng, chính triết lý ứng xử theo kiểu “Chín bỏ làm mười” đã khiến người Việt Nam chúng ta không/ chưa có được những giá trị văn hóa mang tính điển phạm ở tầm thế giới.
Hãy nói riêng về văn chương thôi: Người Trung Hoa có Sở từ, Đường thi, Minh - Thanh tiểu thuyết, người Pháp có bi kịch cổ điển thế kỷ XVII. Tất cả những cái đó đều đạt tới trình độ mẫu mực của thể loại. Trước những thể loại ấy, văn - thi gia thuộc các nền văn chương vệ tinh (trong đó có Việt Nam) chẳng còn việc gì khác là “sáng tạo” theo những nguyên tắc mỹ học đã trở thành khuôn vàng thước ngọc mà người Trung Hoa và người Pháp tạo ra. Nền văn chương của chúng ta, xét đến cùng, không có những thể loại vừa mang tính mẫu mực, vừa có sức lan tỏa mạnh mẽ đến như vậy. Và điều đó, nên xem là một trong những ví dụ về cái chưa đẹp của sự dang dở
Lá Mít...
Lá mít che ngang mặt chữ cờ
Chút lưu lại
Đũa lệch ...

Em bảo, em và ta là đôi đũa lệch
Em hỏi làm sao đũa mãi bằng nhau.
Em muốn gắp ta bằng cây đũa ấy
Em hóm hỉnh chỉ bảo ta ra rằng
Đũa lệch cũng chỉ ở ngoài hình dáng
Cân bằng, bình đẳng bên trong mới quan trọng
Em chỉ cần ta mãi bên em.
Sự hèn mạt của báo chí
Sự hèn mạt của báo chí
Trương Duy Nhất
Chưa khi nào báo chí hèn mạt như giai đoạn này. Nhớ vài năm trước, trong bữa nhậu nhân hội nghị tuyên giáo toàn quốc tại Đà Nẵng, một lão bá vai tôi buông câu rất hách “báo chí các cậu hèn bỏ mẹ!”
Tức. Một tay nó bóp dái, tay kia dán băng keo bịt miệng, thế mà vẫn lớn tiếng chê mình hèn. Định vung cho lão một đấm, nhưng nghĩ lại thấy lão nói đúng chứ đâu sai. Báo chí kiểu gì mà chỉ một cú điện thoại, một văn bản miệng đã răm rắp tự bịt miệng nhau.
Một cái lệnh miệng từ văn phòng UBND huyện Văn Giang (Hưng Yên) cũng khiến tất cả hơn 700 tòa báo câm lặng, không dám cử phóng viên đến đưa tin. Khi hai phóng viên của đài tiếng nói Việt Nam (VOV) bị đánh đập, trấn áp dã man, bị còng tay bắt giữ như tội phạm, thu máy ảnh, thu thẻ nhà báo, thẻ đảng, thẻ luật gia… nhưng không một tòa báo nào dám lên tiếng, kể cả cơ quan chủ quản của họ. Và bản thân 2 nhà báo bị đánh cũng không dám công khai lên tiếng.
Phải đợi đúng nửa tháng sau, trước sức ép dữ dội từ dư luận và sự mắng chửi từ các trang mạng lề trái, VOV mới miễn cưỡng đăng vài mẩu tin lên tiếng bảo vệ phóng viên của mình. Nhưng được vài hôm rồi im bẵng đến nay. Không còn nghe bất cứ một tòa báo nào nhắc lại chuyện này nữa. Câu chửi “Đ.M mày! Nhà báo cũng đánh cho chết mẹ mày đi” trong vụ trấn áp Văn Giang vẫn văng vẳng mãi như một nỗi ô nhục của nghề báo.
Chưa bao giờ báo chí lại sợ hãi đến vậy. Chưa bao giờ báo chí kỳ lạ như giai đoạn này, xa lánh, tránh né hầu hết các vấn đề nhạy cảm. Vì sao tránh, vì sao không đăng, vì sao không can dự? Vì đó là vấn đề “nhạy cảm”- Một lối chỉ đạo và bao biện phản tuyên truyền, thậm chí là… phản động! Nhạy cảm mới cần báo chí can dự. Không nhạy cảm thì viết để làm gì, tuyên truyền làm gì và can dự làm gì?
Ông Nguyễn Bắc Son, Bộ trưởng Thông tin- truyền thông kiêm Phó ban Tuyên giáo trung ương có than một câu rằng báo chí giai đoạn này “thiếu vắng những cây bút giỏi, những bài báo hay, những cây bút chúng ta từng thấy trong lịch sử như Sóng Hồng, Thép Mới, Hoàng Tùng, Hồng Hà… hoặc những nhà báo rất đáng kính trọng như Hữu Thọ, Hà Đăng, Đỗ Phượng…”
Vì sao?
Vì cái thời làm báo của Sóng Hồng, Thép Mới, Hoàng Tùng, Hồng Hà, Hữu Thọ, Hà Đăng, Đỗ Phượng không bao giờ phải nơm nớp lo sợ những mệnh lệnh “nhạy cảm” như thời chúng tôi. Không có ban Tuyên giáo nào cấm cản những Sóng Hồng, Thép Mới, Hoàng Tùng, Hồng Hà, Hữu Thọ, Hà Đăng, Đỗ Phượng lao vào điểm nóng, tránh điều “nhạy cảm”. Báo chí thời chúng tôi, không thiếu anh hào, nhưng không sản sinh ra nổi những Sóng Hồng, Thép Mới, Hoàng Tùng, Hồng Hà, Hữu Thọ, Hà Đăng, Đỗ Phượng… bởi nhà báo không được phép lao vào những Dương Nội, Văn Giang, Vụ Bản… Bởi một cái lệnh miệng của văn phòng UBND huyện Văn Giang thôi cũng đã khiến tất cả các tòa báo câm lặng. Bởi tất tật các vấn đề “nhạy cảm” đều không được phép viết, không được phép đăng.
Khi nào còn những vòng siết “nhạy cảm” này, thì những mầm mống Sóng Hồng, Thép Mới, Hoàng Tùng, Hồng Hà, Hữu Thọ, Hà Đăng, Đỗ Phượng sẽ bị bóp chết ngay từ những trang bản thảo.
Nhà báo/blogger Phan Văn Tú có một câu rất đau “trong đầu thằng nhà báo Việt nào hình như cũng có một cái kéo. Nó tự cắt nó trước khi bị người khác cắt”. Cái thói tự biên tập, tự ra lệnh, tự cột nhốt đã hình thành như một thói nết tệ hại trong làng báo.
Còn nhà báo Đào Tuấn, cây bút kỳ cựu của Đại Đoàn Kết, nay sang tờ Dân Việt thì chua chát rằng: “nhiều người cầm bút giờ còn bi kịch hơn khi hàng ngày phải viết những điều không giống với sự thật … Hàng ngày, dù không tin, nhưng vẫn phải viết ra một điều không thật– một cách khéo léo đến dối trá, để thuyết phục người đọc tin rằng đó là sự thật”
Run sợ đến dối trá. Đến mức bao điểm nóng nhức nhối về đất đai vắng bóng nhà báo. Tại sao báo chí lại tránh né những Dương Nội, Văn Giang, Vụ Bản? Tại sao những tấm băng rôn, những vành khăn tang giữ đất nóng hực và nhức nhối tâm can lại không nên nổi “tác phẩm” nào? Tại sao lại cứ phải “viết ra một điều không thật– một cách khéo léo đến dối trá, để thuyết phục người đọc tin rằng đó là sự thật”?
Nhìn vào danh sách các tác phẩm đoạt giải báo chí quốc gia để thấy cái gì, điều gì được phản ánh qua báo chí? Ông Hữu Thọ, cựu trưởng ban Tư tưởng-văn hóa trung ương nhận xét về các tác phẩm đoạt giải: “Vẫn còn ít những bài điều tra sâu sát công phu mà tôi thường nói là đọc trên những bài báo thấy ít giọt mồ hôi quá. Những giọt mồ hôi vào trang giấy, nó cựa quậy, nó gây xúc động con người…”.
Với người cầm bút, phải hiểu lời nhận xét ấy không khác gì một câu… chửi!
Báo chí chưa bao giờ nhạt chán, hèn nhục đến vậy.
Việt Nam chưa cho phép báo chí tư nhân, không có báo đối lập. Nhưng không nên “đồng thuận” hóa tất tật trên 700 tờ báo hiện có đến mức thành một chiều, thành sợ hãi như thế thì báo chí chỉ còn là mấy tờ giấy dành để gói xôi vỉa hè. Báo chí phản biện, thậm chí phê phán, đối lập có lợi cho chính phủ hơn là báo chí ca tụng, minh họa chủ trương.
Bạn đọc ký tên “Hâm mộ đảng ta” viết một comment vào trang tôi rằng: Chưa thấy một chính phủ nào lại sử dụng một dàn truyền thông hùng hậu đến thế chỉ để ngợi ca chính mình, huy động dàn hợp xướng bằng mọi cách phải “tạo sự đồng thuận” với mọi sai đúng mà không chú ý đến vai trò phản biện của báo chí. Có thể nói sự đồng lõa, thỏa hiệp, tuyên truyền cho những quyết sách sai trái của chính quyền trong một thời gian quá dài vừa qua là một cái tội rất to của báo chí. Nếu chú ý đến vai trò phản biện thì hẳn các nhà cai quản đã có chính sách để lựa chọn đội ngũ thực tài, đủ bản lĩnh. Nhưng vì chỉ chú trọng đến mục đích tuyên truyền ngợi ca, tạo đồng thuận, và giải trí tầm thường nên ở Việt Nam, nếu không mù chữ thì ai cũng có thể làm nhà báo được.
Nhận định có vẻ hơi quá, cực đoan, nhưng đáng suy ngẫm.
Ngay cả lớp Tổng Biên tập hiện thời cũng là một đội ngũ quá hèn. Trước 75, báo chí có phong trào “ngày ký giả ăn mày”, đóng cửa xuống đường đấu tranh. Thời nay, có ông Tổng nào hoặc cỡ chục tờ báo một sớm mai đồng loạt phản ứng bằng những bản báo in “bị đục bỏ”, những tờ báo trắng để phản ứng? Có ông Tổng nào dám công khai chống lệnh, một cái lệnh cấm cản quen thuộc từ những cú điện thoại, những buổi giao ban mang tên “nhạy cảm” để ưỡn ngực hiên ngang bảo vệ quyền được thông tin?
Nói thật, dù sao tôi cũng không mê những Sóng Hồng, Thép Mới, Hoàng Tùng, Hồng Hà, Hữu Thọ, Hà Đăng, Đỗ Phượng như cách ông Nguyễn Bắc Son lấy làm “thần tượng”. Tôi mê và thèm ước những cái tên rất gần đây thôi như Võ Như Lanh, Kim Hạnh, Lê Văn Nuôi, Huỳnh Sơn Phước, Nguyễn Công Khế, Thế Thanh, Nam Đồng, Tống Văn Công… – Một thế hệ tổng biên tập tài năng rất gần với chúng tôi, nhưng không quá hèn nhục như bây giờ.
Chua và nhục đến mức các trang mạng lề trái cực đoan ví von mỉa mai hình ảnh nhà báo qua vụ Văn Giang rằng: bị đánh mà không dám “ẳng” lên một tiếng.
Lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam chưa bao giờ nhạt chán, hèn nhục như lúc này. Tôi không nói quá đâu. Tự thân mỗi nhà báo, tôi tin ai cũng nhìn ra điều này.
Mà “cái sợ cái hèn của người cầm bút, nhất là làm báo, nguy hiểm lắm. Rất vô thức, nhưng anh ta sẽ làm “lây nhiễm” cái sợ, cái hèn nhát cho đồng bào mình”(Nguyễn Chính, cựu phóng viên báo Đại Đoàn Kết).
Nguồn: http://truongduynhat.vn
Một trong những bí ẩn lâu đời, không phải là vũ trụ, mà là người phụ nữ
Một trong những bí ẩn lâu đời, không phải là vũ trụ, mà là người phụ nữ
pd
Vũ trụ chính là lồng ngực của một con quỷ khổng lồ
Vũ trụ chính là lồng ngực của một con quỷ khổng lồ và chúng ta là những con vật ký sinh trong đó.
Cùng thảo luận nhé!
Truyện ngắn Đặng Hà My
ỐC BIỂN
Vầng trăng chảy nước trên bãi biển, nàng đã nhìn thấy nó thật.
Khi anh gại gại ngón tay vào cái nụ nho nhỏ, đỉnh vú của nàng, nàng thấy tuyệt vời, khác hẳn cái cảm giác trước kia, khi thằng ấy lồng lộn cắn gần như chảy máu cái núm ấy.
Cái thằng ấy…mẹ kiếp, nàng lại nhớ tới những cái kim người ta đang khêu món ốc ở bãi biển, ốc Vú Nàng…và thấy buốt lên tận đỉnh đầu.
Nàng cố mỉm cười, trong lúc anh trìu mến, đưa vòng môi hút trên ngực nàng…có sữa trời đổ về từ con sông Ngân. Anh cứ miệt mài, và nàng sung sướng tận hưởng cảm giác đó. Vầng trăng ướt sũng bên cửa sổ, trăng treo lung linh.
Chợt có tiếng chim vỗ bên cửa sổ, chắc lũ bồ câu non. Nàng lại chợt nhớ tới thằng khêu ốc.
Hắn ngồi trên bờ biển, tóc húi kiểu Korea, và hắn đang khêu những con ốc Vú Nàng nhỏ xíu, khi ruột ốc lòi ra hết, hắn chấm rất mạnh vào bát nước chấm, có gừng, có ớt.
Bát nước chấm trên bãi cát Sầm Sơn, do một con bé bán dạo trên bờ biển vừa pha.
Mẹc, cái dân miền biển, ăn vừa cay vừa mặn, nước đái ắt khai khẳn.
Hắn có vẻ khoái cái món nước chấm đặc quánh này, hẳn là nhiều muối lắm…hắn chấm nhiệt tình, khêu nhiệt tình, suýt xoa bởi mùi vị hăng nồng, nàng ngơ ngẩn nhìn…muối thật mặn, ruột ốc lòi ra mỏng manh oằn cong, xót cả ruột…và đêm ấy, hắn để lại trên ngực nàng đầy vết tích.
- Em sao thế?
Anh chợt dừng lại khi thấy nàng rùng mình.
Nàng cố che giấu:
- Mình vẫn đang yêu nhau mà…
- Không, em có điều gì, anh vừa thấy em rùng mình.
Nàng chối:
- Đâu có!
- Ban nãy em run bần bật, và sau đó em lại rùng mình…
Nàng úp mặt xuống gối. Anh xoay người ôm chặt bờ vai thon lẳn của nàng.
Da nàng như mẫn cảm với cả ánh trăng, nàng như cô công chúa bé bỏng trong chuyện cổ tích, nhạy cảm tới mức thấy cộm dưới lưng mình chỉ vì một hạt đậu nhỏ xíu nằm dưới vài lớp đệm.
Tay anh như phù thủy, xoa dọc lưng nàng, anh thì thào vào tai nàng, nàng lại chộn rộn, như nghe tiếng con ốc biển dưới đại dương đang hát…vầng trăng nhỏ giọt, gió mơn man trên da thịt, anh bảo nàng như ánh trăng, nhưng xanh xao chứ không vàng như trăng…
Anh lại liếm và hút trên bầu ngực của nàng, đê mê…
Và khi chỉ còn lại cảm giác bồng bềnh trên tấm thảm lông cừu êm ái màu vàng…anh nhẹ tênh trên bụng nàng…mái tóc anh như trôi xa, đen và dày, như gió như nắng, như mười năm, như trăm năm…
Anh nhìn nàng, thầm cảm ơn trời đất.
Khi ấn thật sâu vào phía dưới, lớp lông của nàng thật mịn, và anh nhớ rõ, lông của nàng cũng có trật tự,…anh râm ran từ trong cốt tủy, cảm giác như có dòng cát chảy từ cõi vô tận làm nên đọt sóng lóng lánh dưới ánh trăng miền biển.
Những vũ điệu của vầng trăng lan tỏa hết hai người, tấm áo choàng của đêm tháng năm
diệu vợi, mông mênh…
Cả đêm gần như họ thức trắng, có lúc dữ dội như hai con ngựa bất kham, có lúc bỗng yên lặng ôm nhau…
Anh để nguyên trong nàng, không động đậy…chỉ có hơi thở và những nụ hôn xoắn xít trên môi, vậy mà nàng và anh đều đạt tới khoái cảm, có những cơn ngất cuồng dại, bao tinh túy của các vì sao đã làm nên những đợt phún trào tưởng như vô tận.
Không gian im lặng trong suốt, lũ chim non chắc đã ngủ yên. Nàng thấy mình đang trôi trên đại dương…có con ốc biển rất xinh đẹp. Người ta có thể làm tù và và thổi, hoặc ghé sát tai nghe nó hát những lời ca tuyệt diệu.
Và nàng hình dung ra con ốc của chính nàng, nó tự thân vận động, vặn trôn để nổi lên mặt nước một cách cực kỳ thông minh và chính xác.
Có lẽ bây giờ, nếu nhân loại có hỏi tình yêu bắt nguồn từ đâu. Chắc chắn họ sẽ chỉ hỏi anh và nàng… chỉ có anh và nàng sẽ trả lời cho cả thế giới này biết những kỳ diệu của ốc biển và khi vầng trăng chảy nước.
ĐHMy 06.2012
LẠM PHÁT THƠ VÀ CỐ TRAO GIẢI THƯỞNG CHO THƠ
LẠM PHÁT THƠ VÀ CỐ TRAO GIẢI THƯỞNG CHO THƠ
Nguyễn Hiếu
Tôi viết bài này đã lâu, cũng chẳng muốn đăng làm gì vì thiết nghĩ dù sao tôi cũng nghĩ đến cái tình anh em. Nhưng khổ một nỗi có thể do trình độ tôi có hạn nên tôi không hiểu vì sao Hội Nhà văn lại tán tụng thứ thơ “lai căng như kiểu người nước ngoài nói tiếng Việt không sõi”, làm hỏng thẩm mỹ của người đọc thơ, làm băng hoại ngôn ngữ Việt Nam muôn ngàn yêu quí của chúng ta, nên sau đôi hồi nghĩ ngợi, tôi quyết định cho Bà Đầm xòe công bố bài viết này. Có thể đúng, có thể sai về những ý kiến của tôi, rất mong anh em xa gần góp ý, dậy bảo. Vẫn biết là một hội viên Hội Nhà văn, bài viết này sẽ có thể ít nhiều làm một số vị lãnh đạo hội không hài lòng. Nhưng vì tồn vong của thi ca, sự trong sáng của tiếng Việt, tôi quyết định cho đăng. Cám ơn những ai đọc bài này.
Vì sao thơ bung ra đến độ lạm phát?
Có một mệnh đề trong lí luận kinh điển theo chủ nghĩa đang bao trùm lên thể chế này mà bất kì một ông cán bộ nào có chút địa vị của xã hội ta mặc dù chả biết gì về triết học, kinh tế học nhưng rất thích nhắc đến đó là “hạ tấng cơ sở quyết định thượng tầng kiến trúc”- Diễn nôm ra, tức là cơ sở vật chất tác động quan trọng đến suy nghĩ, tư duy. Chả biết câu này đúng sai thế nào nhưng nhìn vào sự phát triển thơ đối chiếu với nền kinh tế nứơc ta thì quả là như vậy. Gần chục năm nay nưóc ta đi vào cơn khủng hoảng kinh tế chưa từng thấy biểu hiện qua chỉ số lạm phát kỉ lục. Chưa đầy một thập kỉ mà giá trị đồng tiền giảm tới hơn mười lần khiến giá cả tăng vọt, dân tình điêu đứng. Vậy mà trong thời gian này, thơ – một thứ sản phẩm trí tuệ ra đời từ những bộ óc siêu việt trong thời thịnh trị, dân an quốc vượng thì trong thời lạm phát mọi mặt của nước ta, thơ bỗng nhiên trở thành sản phẩm gia tăng vùn vụt của đủ hạng người, trong đó có thứ người no cơm ấm cật đang cần một cái danh mang tính hào hoa, phong nhã. Vì lẽ đó thơ cũng theo kinh tế mà rơi vào tình trạng lạm phát ghê gớm.
Ngoài nguyên nhân do ham muốn của số người thích mua danh ba vạn thì còn thêm hàng loạt nguyên nhân khiến sự lạm phát thơ ngày càng mạnh mẽ. Thứ ngưòi gọi là “nhà thơ”sinh sôi nhanh hơn cả chuột – giống động vật đẻ vô tội vạ – đến độ có người đã báo động cầm một hòn sỏi ném vu vơ ra ngoài đường thì thể nào cũng trúng một nhà thơ. Sự lạm phát này đã làm thơ, một thể loại cao quí, bị tầm thường hóa đến độ không ít người phát sợ.
Có người khi vui miệng đã đề nghị nên thành lập một trại “cai nghiện thơ”, và trước cửa nhà người, không muốn bị làm phiền vì thơ ca, đã để tấm biển “đề nghị để giầy, dép và thơ ở ngoài”.
Nguyên nhân thứ hai khiến thơ trở thành lạm phát phải kể đến là đặc trưng ngôn ngữ xứ ta dễ bắt vận, dễ nói thành vần – không phải ngẫu nhiên những kẻ tâm thần, đầu óc không bình thường hay nói vần, thích đọc vè là vì vậy.
Một tác động làm thơ tăng như một đại nạn là cơ chế bỏ tiền ra in thơ. Thời mọi sự còn tử tế để in một tập thơ thì chí ít phải là nhà thơ đàng hoàng có môn bài, có danh là Hội viên Hội Nhà văn. Nay thì bất kì một vị nào có tiền khi đã no chán mọi thứ chơi vật chất như chó cảnh, chìm muông …lại có đôi chút khả năng biết bắt vần viết ra những câu có đôi chút nhịp điệu là loay hoay thế nào cũng chôm một ít tiền vợ mang đến các nhà xuất bản xin giấy phép in thơ mình. Ông nào rủng rỉnh tài chính còn thuê một vài cây bút đôi chút có danh để viết bài giới thiệu. Và, nếu chỉ căn cứ vào những bài tựa các tập thơ này thì dân An nam ta sẽ hí hửng tưởng xứ ta đang được ông Hoàng Mười phù hộ nên mới mọc ra nhiều đệ tử của Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm , Puskin, Gớt đến thế.
Trong sự cấp giấy phép in thơ này thì Nhà xuất bản Hội Nhà văn – một nhà xuất bản có một thời danh giá nay trở thành một tổ hợp thủ công chuyên cấp giấy phép để in thơ.
Một nguyên nhân nữa để thơ bung ra như mối gặp trời mưa là hai ông chánh, phó chủ tịch, ông Trưởng ban Tổ chức Hội Nhà văn đều là nhà thơ.
Ông chủ tịch Hội thì với thơ ai cũng đều có câu khen rất tài hoa trong ngôn từ, mặc dù hình như ông chẳng đọc thơ của ai bao giờ, trừ những tập ông được mời viết lời tựa.
Câu bình cửa miệng của ông mỗi khi nói về thơ ai cũng hao hao như nhau “Nhan sắc lắm, lay động lắm”.
Làm thơ và đựơc gọi là nhà thơ trong thời lạm phát dễ như thế nên người ta đổ xô làm những thứ gọi là thơ. Viết một truyện ngắn, một vở kịch và cao hơn cả là một tiểu thuyết thì cực khó, còn để đẻ ra một bài văn vần gọi là thơ thì quá dễ. Vì vậy thơ bung ra nhan nhản, từ ông thứ trưởng đương chức đến các sinh hoạt hội người cao tuổi, đều ngày ngày cặm cụi gò lưng làm thơ để hi vọng đựơc gọi và đựơc tự phong là nhà thơ.
Thơ lạm phát kéo theo sự gia tăng khủng khiếp một thứ, đó là ngưòi đựơc gọi là nhà thơ. Vì nhà thơ có vai vế trong hội nghề như vậy nên những đợt kết nạp và những giải thưỏng hàng năm đầu nghiêng về ngưòi làm thơ và thơ.
Với tình trạng này, danh hiệu và giải thưởng một thời cao quí là Hội viên , giải thưỏng Hội Nhà văn Việt Nam bỗng bị hạ thấp rất nhiều, nếu không muốn nói là rẻ rúng khi chỉ cần có trong tay hai ba tập thơ tự in, chất lượng nhàng nhàng, nhưng được sự chiếu cố của ông trưỏng ban, ông Chủ tịch hội thì sớm muộn sẽ được vào hội.
Còn giải thưỏng thì thật tuỳ hứng, nếu không muốn nói là giải thưỏng này đã được chỉ đạo theo kiểu chỉ định thầu trong kinh tế.
Tôi không tin dư luận cho rằng, vì yếu tố kinh tế nên năm nào Hội Nhà văn cũng kết nạp hàng đống các vị làm thơ chỉ ở trình độ nghiệp dư vào hội viên.
Nếu đây là sự thật thì nó có khác gì sự mua quan bán tước đang hoành hành ở nứơc ta.
Và như để chứng minh cho sự đúng đắn trong chiến lược phát triển hội viên Hội viên Hội Nhà văn Việt Nâm nên trên dưói một thập niên vừa qua, giải thưởng hàng năm, nhiều tập thơ xoàng xoàng đựơc các vị có chức quyền trong Hội Nhà văn để mắt tới, đã trúng giải.
Hiện trạng này đến năm 2011 vừa qua đã trở thành điển hình.
Ngoài hai tác phẩm cũng chẳng lấy gì làm đặc sắc lắm của hai ông Ủy viên Ban chấp hành thì có không ít các tập thơ của đám viết thơ trẻ.
Về thơ trẻ tôi xin mượn cách đánh giá của nhạc sĩ Văn Dung khi nói đến nhạc trẻ “đó là kiểu thơ chỉ để ý đến hình dáng, điệu bộ. trang phục mà quên đi nội dung, chất giọng”.
Cũng trong động tác để nhấn thêm sự khẳng định đúng đắn trong sự phát triển hội viên, sự phát triển đáng tự hào của phong trào thơ nước nhà của các vị lãnh đạo Hội Nhà văn Việt Nam, ngưòi ta đã tổ chức hàng loạt các cuộc hội thảo để tôn vinh một vài nhà thơ, xem như một biểu tượng, một thứ “đề can” cho hiện trạng thơ phát triển ầm ĩ đến lạm phát như hiện nay (sự hội thảo này có lẽ chỉ đúng nhất khi nói đến thơ của Đồng Đức Bốn- một tài năng vượt trội trong thể thể lục bát đặc sản của thi ca Việt Nam).
Thử bàn về cái gọi là hiện tượng thơ Mai Văn Phấn .
Như trên tôi đã nói, số lượng các tập thơ ra đời hàng năm, từ khi có cơ chế tự in cùng với sự dễ dãi, mất công bằng trong việc kết nạp người làm thơ vào Hội Nhà văn thì hàng năm cả nứơc ta không dưới hai, ba ngìn tập thơ được xuất bản, và mỗi năm có hàng nghìn người tham gia vào đội ngũ làm thơ (đọc thơ dễ hơn đọc văn (vì nó phù hợp với sự lười đọc đang bao phủ toàn bộ nền văn hoá đọc của xứ ta). Vì thế, người ta không lấy làm lạ khi Nhà văn Tuyết Sương TPHồ Chí Minh, tác giả 5 cuốn tiểu thuyết trong đó có cuốn “Cô y tá nhỏ” khá nổi tiếng, rồi nhà văn Trần Chiến, tác giả cuốn tiểu thuyết vào hàng xuất sắc bao năm vẫn không được các vị trong Ban chấp hành để mắt tới).
Không gì dễ hơn khi tự tạo lập cho mình danh hiệu nhà thơ. Tôi biết có một người không hề có chút thiên bẩm nào trong sáng tác văn nghệ, nhưng có thể cho ra đời mọi tác phẩm đủ mọi thể loại: cầm kì, thi, họa, trừ tiểu thuyết.
Thời buổi thưong mại này,l khi người ta có tiền thì muốn thành nhà gì cũng được, trừ thành một tiểu thuyết gia, huống hồ làm một nhà thơ.
Trên số lượng về thơ và nhà thơ mà hai ông nhà thơ chánh phó, chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã cố tạo ra vài cái đỉnh khẳng định sự thắng lợi của sự bội thu thơ. Sự biểu dương và tôn vinh cố ý thơ Mai Văn Phấn là một trường hợp như thế.
Phải công nhận về mặt phương pháp luận thì Mai Văn Phấn tỏ ra khôn ngoan khi chọn một kiểu thơ “không phải là thơ”, một thứ văn xuôi cắt ngắn, một cách viết giống hệt bản dịch ra tiếng Việt từ tiếng nứơc ngoài của người đang ở độ tuổi trí tuệ còn chưa lú lẫn. Trong khi hầu hết những người viết thơ đang sáng tác theokiểu cú pháp, hình thức thơ cũ kĩ, mà trong chiều sâu của tâm hồn và nhận thức của họ, cũng thấy không mấy hấp dẫn thì Mai Văn Phấn quả là khôn ngoan đi theo một lối đi tưởng như mới trong làng thơ ta hiện nay.
Nhưng đọc kĩ một chút thì thơ Mai Văn Phấn là sự lặp lại hiện tượng giống như thơ của Nguyễn Quang Thiều cách đây trên dưới hai mươi năm. Hồi đó Nguyễn Quang Thiều đang sung sức, cũng bắt đầu nhàm chán cáí lối thơ và tư duy thơ cổ lỗ của các bậc đàn anh đi trứơc, lại sẵn có khả năng ngoại ngữ nên Thiều đã chọn con đưòng mô phỏng thơ nứơc ngoài, chủ yếu là thơ tiếng Anh mà ít nhiều tôi nhìn thấy tựa tựa cách viết theo những bài thơ lừng lẫy trong tập lá cỏ của Witman.
Thơ Thiều thủa sung sức giống hệt như những bản dịch từ thơ nứơc ngoài.
Cũng xin nói thêm khi Nguyễn Quang Thiều làm những bài thơ này, cũng là lúc nền văn chương nước ta đã bắt đầu đổi mới. Các cây bút đã chán ngấy một kiểu văn chương minh hoạ, những câu thơ cũ kĩ nặng chất truyền thông, thì Thiều quả là khôn ngoan khi đem đến cách viết mới mà thực ra là sự mô phỏng lối nghĩ, lối cấu trúc của thơ nứớc ngoài.
Thời đầu đổi mới đó văn xuôi còn để lại Nguyễn Huy Thiệp trong sự phá phách lật đổ các thần tượng, giải thiêng những điều húy, kị; còn trong thơ thì ồn lên sự làm mới của thơ Thiều .
Tôi chỉ hơi lạ, trong văn xuôi, Thiều có những cách viết có cảm hứng hướng về làng quê thôn giã (tiêu biểu là truyện ngắn “‘mùa hoa cải bên sông”), thì trong thơ Thiều “sự cách tân” lại hướng ngoại mà thực chất là sự mô phỏng thơ nước ngoài.
Hơn hai hai mươi năm sau, Mai Văn Phấn lại rập lại cách đi đó của đàn anh.
Điều này cắt nghĩa, vì sao hai ông nhà thơ chức dịch của Hội Nhà văn bỗng nhiên lại tán tụng thơ Mai Văn Phấn và kéo theo hàng đống các vị, một là theo voi ăn bã mía, hai là sợ mình bị đánh giá là ngu dốt khi không tán dưong thơ Mai Văn Phấn theo kiểu Trạng Quỳnh đã từng diễu “địt mẹ thằng nào bảo thằng nào”.
Ngôn ngữ, tư duy của ngưòi Việt ta khác hẳn ngôn ngữ, cách tư duy của người nứơc ngoài. Vậy mà, Nguyễn Quang Thiều và nay Mai Văn Phấn lại tung ra những đoạn chữ mà ngưòi ta gọi là thơ cùng những suy nghĩ gần như rập lại cách nói, cách tư duy của ngưòi nước ngoài, cụ thể là tư duy của dân đất mới châu Mỹ. Trong suy nghĩ người Việt rất kiêng kị khi nói về quạ (theo quan điểm cổ xưa đó là loài chim chuyên mang điều gở ), nay Mai Văn Phấn lại mô phỏng cách nghĩ nứơc ngoài, cũng nói về con quạ với những câu gọi là thơ, giống như thơ dịch, với kiểu tư duy và cách đặt câu xa lạ với ngôn ngữ, cách tư duy truỳên thống của người đọc xứ ta
“Con cá nhẩy vào đám mây tự vẫn”- Biến tấu con quạ.
Rồi lảm nhảm, loằng ngoàng nói về mái nhà như một người ngớ ngẩn đang học nói tiếng Việt:
“Thùng rác quay mắc phải khung ảnh, quạt trần, dây điện thoại. Chiếc quần lót mặc kẹt giữa tủ bát đĩa và máy tập thể hình. Chổi cùn, bình diệt muỗi, đĩa CD chui vào tủ lạnh …- Chạy theo mái nhà.
Trời ạ! Thế mà ngưòi ta dám gọi là thơ thì thật là liều.
Tôi còn nhớ Chế Lan Viên đã từng có ý định cách tân hình thức thơ bằng kéo dài câu thơ một cách bất thường. Dạo đó ta gọi là thơ văn xuôi. Đọc lại bài thơ tiêu biểu cho sự cách tân này của ông là bài : những cành phong lan bể:
“ xanh biếc mùa thu bể như hàng nghìn mùa thu còn tâm hồn nằm đọng lại/ Sóng như hàng nghìn trưa xanh trời đã tan xanh thôi không trở lại làm trời/ Nếu núi làm con trai thì bể là mùa thu đã biến thành con gái , mỗi đêm ngày da thịt sóng sinh sôi”.
Ta vẫn thấy một cách nghĩ Việt Nam, những âm điệu của ngôn ngữ Việt cực kì thơ ẩn dấu trong hình thức văn xuôi mang đặc trưng mà chỉ có thơ mới có.
Còn đọc thơ Mai Văn Phấn chỉ thấy những câu văn không ra văn, thơ không ra thơ, mang đủ thứ suy nghĩ vớ vẩn, theo kiểu bạ đâu nói đó. Tối nghĩa và hạ thấp rất nhiều, chẳng những thể loại thơ, mà còn làm mất đi vẻ đẹp, sự trong sáng của tiếng Việt.
Tôi nhớ trong làng thơ xứ ta hiện nay, không ít vị làm thơ muốn đổi mới sự thể hiện thơ. Điều này là một yêu cầu chính đáng, cần khuyến khích. Nếu Lê Đạt muốn cách tân bằng sự đảo lộn cú pháp, trật tự ngữ pháp để tạo ra sắc thái mới của thơ, Lê Huy Quang cũng đi theo hứơng này và cũng có ít nhiều thành công, hay Nguyễn Đình Chính cách tân bằng đưa ngôn từ trầm tục vào thơ ..
Nhưng, dù tôi không tán thành việc dung tục hoá trong thơ Chính, nhưng vẫn phải công nhận NguyễnĐình Chính, ngoài tư cách là một tiểu thuyết gia ưa tìm tòi, thì ông là một nhà thơ đầy nội lực thi ca. Nội lực này lại càng đựơc đẩy lên khi chất công dân của ông được thể hiện một cách dữ dội và bản lĩnh trong những câu thơ muốn phá bung khuôn khổ …
Hoặc ca từ trong những ca khúc tài danh của Trịnh Công Sơn. Trong những ca từ mang nặng chất thơ của Trịnh Công Sơn, nếu tách ra từng dòng hay để hiểu trực diện nghĩa thì thật khó, nhưng ở những ca từ đó tràn ngập sự hư ảo, lung linh, cao siêu của triết ly thiền, nên tạo ra quá nhiều tầng nghĩa mà ngưòi đọc chỉ cảm chứ không thể diễn thành lời một cách rành mạch.
Trở lại thơ Mai Văn Phấn. Để chứng minh thơ Mai Văn Phấn là hiện tượng đổi mới thơ ca, Hội Nhà văn không ngần ngại tiến hành một loạt hoạt động để ghi nhận hiện tượng này. Làm hội thảo, rồi trao giải thưởng cho Mai Văn Phấn và trao giải cho các cây bút trẻ có lối viết hao hao như Mai Văn Phấn, là Đỗ Dõan Phương.
Xin đọc mấy câu mà ngưòi ta cố gọi là thơ của cây bút trẻ này:
“Bây giờ là quãng đường dài nhất/ mọi ngưòi giúp cô tiền đò, tiền đường/ và bắc những cây cầu bằng vải đỏ / hát những câu an ủi dặn dò…/ khắc ghi vào đầu khuôn mặt già nua của cô để từ nay nhớ hoặc sợ - Thăm vườn nhà cũ.
Kì quặc thật. Thế này mà người ta gọi là thơ thì tôi nghĩ, một là ngưòi đó bị nhiễm sự lai căng dở dang của kẻ quá yêu tiếng nứơc ngoài chê bai tiếng mẹ đẻ, hai là cái đầu đó có vấn đề về tâm thần.
Tôi có cảm thấy một chu kì đã thành qui luật là mỗi khi ngưòi ta tôn vinh thứ thơ lai căng này thì cũng là lúc các nhà thơ của ta đang đi vào bế tắc, cả trong tư tưởng và cách biểu hiện.
Thơ Mai Văn Phấn và một số tập thơ nhận giải thưởng của Hội Nhà văn năm 2011 không chỉ là những ví dụ cho sự bế tắc mà còn vô tình tạo ra một thứ sai lầm khi làm hỏng thẩm mỹ về thơ của ngưòi đọc Việt nam, làm rối ngôn ngữ nước ta, trong khi đáng ra với chức phận nhà thơ phải làm cho ngôn ngữ này ngày càng đẹp hơn,dân tộc hơn và trong sáng hơn.
Khi viết đến thơ Mai Văn Phấn tự nhiên tôi lại nghĩ đến đề xuất thu phí phượng tiện giao thông cá nhân của ông Bộ trưởng Bộ GTVT- Đinh La Thăng: vô lý, cửa quyền, tai hại cho đời sống của ngưòi dân. Nó cũng hao hao giống Hội Nhà văn cố trao giải cho những tập thơ này, như là sự cưỡng ép thiên hạ phải công nhận thơ lai căng như thơ của Mai Văn Phấn và một số nhà thơ trẻ như là thành tựu của nền thơ Việt Nam đưong đại. Buồn thay!
Quỳnh mai 6/4/2012
ĐT: 0913535270
Nguồn: badamxoe
Hắc Bạch Vô Thường
Nay có dịp viết tiếp bộ tiểu thuyết cổ trang đang còn dang dở, mời mọi người xem cho vui nhé, khả năng viết của Hạc còn kém, mong mọi người ủng hộ thêm nha !
*******
Hắc Bạch Vô Thường
Chương I.
Danh chấn giang hồ - Lục Đại Thần Đao.
Hồi I.
Độc vũ
Quanh năm mây phủ, sương mù dày đặc, tầng tầng lớp lớp. Ngọn Thanh Thành Sơn như một đại hiệp quy ẩn, u uất lặng lẽ, chỉ còn nghe tiếng chứ không biết người. Ngày cũng như đêm, một màu ảm đạm đến rợn người, làm chùn bước chân với những ai gạn dạ nhất.
Vén tấm nàn sương mỏng, Hoàng lão thúc rạp người bước trên những vẩu đá nhọn, thoai thoải con dốc dẫn lên tán rừng xanh thẫm trước mặt.
- Đường khó đi quá cha ơi !
- Cố lên Hoàng nhi, qua khỏi tán rừng trước mặt là tới rồi, nhớ bám sát cha nhé.
Bước tới đâu, ông đều ngoái lại trông chừng cậu nhóc theo mình. Cậu nhóc chừng tám tuổi, cũn cỡn vác giỏ chạy theo cha. Ở phủ Thành Đô này, không ai là không biết cha con họ Hoàng, có người bảo bọn họ là điên, là khùng, là không biết sống chết là gì, cớ sao ở đâu không đi mà cứ nhắm Thanh Thành sơn mà lên hái thuốc, đằng thì đạo tặc, lối thì đường xá nguy hiểm, không biết vùi xác khi nào. Riết rồi họ chỉ biết lắc đầu khi thấy từ mờ sáng hai cha con lại đủng đĩnh nhắm hướng Thanh Thanh mà bước. Cứ 1 tuần một lần, hai cha con lại tay giỏ tay câu liêm, sục sạo lên khắp thanh Thành tìm thuốc, không ai biết Hoàng lão thúc đã đến Thành Đô này từ khi nào, nhưng độ khoảng bảy tám năm về trước, ở cuối thành họ bỗng thấy một người đàn ông và một đứa bé tí xíu, và thế là cảnh gà trống muôi con bắt đầu, ngày qua ngày hai cha con vẫn đi hái thuốc, phơi thuốc và bán cho dược điếm ở thành Tây của phủ. Hai cha con cứ sống lầm lũi qua ngày, ai cũng tiếc vì sao mãi mà Hoàng lão thúc vẫn không tái hôn, nhắc đến chuyện ấy ông chỉ cười xòa, chép miệng.
- Hôm nay hái được nhiều Hà Thủ Ô quá cha nhỉ ?
- Ừ, vậy là tối nay cha con mình có món gà ăn rồi đó con
- Thích quá cha ơi, ước gì ngày nào cũng được như vầy ha- vừa đi vừa vung vẩy mấy trái thù lù hái được, thằng bé bước chân sáo vừa nhảy vừa cười tí toét.
Như thường lệ, cứ mỗi lần bước qua cửa động Hưởng Thủy là Hoàng lão thúc lại dừng lại, mắt trầm ngâm suy tư, đặt bó hoa dại hái được trên núi lên mấy cục đá xếp chồng lên nhau, mắt lão lại rưng rưng. Thấy lạ, lần nào cậu con trai cũng hỏi, nhưng ông chỉ xoa đầu, mỉm cười và véo một cái rõ đau vào má cậu, đoạn ông ôm cậu vào lòng và một lúc sau hai cha con mới lục tục xuống núi.
- Này, hai cha con hôm nay có vất vả lắm không ?. Ông chủ dược điếm miệng vừa hỏi tay vừa bốc thuốc tí tách.
- Cũng như mọi hôm thôi ông chủ ạ !, có một mớ Hà Thủ Ô mới này, tôi nghĩ là ông cần nó lắm.
- Tốt rồi tốt rồi !, không hiểu sao mấy bữa nay có nhiều người đến mua Hà Thủ Ô và Hồng Sâm quá, đây là những thứ trị nội thương mà, lại có ẩu đả giang hồ nữa rồi, thật phiền phức quá !,
- Thế là thế nào hở ông ?, lo lắng hiện rõ trên khuôn mặt lão Hoàng.
- Sáng nay tôi nghe bọn người đi buôn kháo nhau rằng, không hiểu sao có rất nhiều người từ trên giang hồ về đây, chính phái có, tà phái có, họ lục sục như đi tìm gì đó làm loạn cả phủ lên., lão chép miệng.
- Thế có ai biết bọn họ tìm gì không ông chủ ?
- Ối giời ! nếu biết được thì đâu có loạn lên thế này, mà tôi thấy tối đến nên đóng cửa cài then, tắt đèn sớm là yên tâm nhất.
- Này, làm chén trà đã rồi hẵng về., đoạn lão nói khi thấy Hoàng lão thúc nhỏm dậy, vác giỏ lên vai, trông có vẻ rất gấp gáp.
- Thôi , hẹn ông bữa khác vậy., lão Hoàng phân trần.
- Rồi rồi, tạm biệt hai cha con nhé., lão dược vừa cười vừa bẹo má cậu con trai.
Nhìn phố xá bận rộn, người người kẻ kẻ tấp nập qua lại, lòng lão Hoàng lại thêm lo. Rõ ràng cuộc nói chuyện vừa rồi đã làm cho lão Hoàng lo lắng bất an, vì cớ sự gì lại như thế nhỉ ?
Vừa về đến nhà, dọn dẹp xong đâu đó, lão Hoàng liền dặn cậu con trai chông chừng nhà và nấu cơm, cậu bé ngoan ngoan nghe theo và mè nheo bằng dược một xâu kẹo hồ lô khi cha về, lão xoa đầu con và vội vã khoác áo vải thô và nhắm thành Tây thẳng tiến.
Trời càng về chiều càng âm u, đoán chắc sẽ có mưa rất to vào đêm nay, gió lốc cứ từng trận từng trận mà quét tới, chiều nay nhà nào cũng khép cửa sớm, còn vài phường chợ thì ai mau mắn nấy, dọn dẹp bưng bê, ai cũng hối hả quay về tổ ấm của mình. Chỉ riêng lão Hoàng lầm lũi mà lòng rối bời như xơ mướp. Thẳng một mạch đến cổng Tây của phủ, lão Hoàng cứ dây dưa mãi mà vẫn chưa bước vào Xa Phu cục, tay cầm một vật như là lá thư, nhìn lên rồi ngó xuống cứ dùng dằng mãi. Bỗng có tiếng nói:
- Này ! có việc gì nhờ thì vào nhanh lên, chúng tôi sắp đóng cửa rồi đó., một người có dáng vẻ nhỏ nhắn, da dẻ mặt mũi chai sần vì nắng gió, đoán chắc đây là người của Xa Phu cục.
- Xin nhờ quý cục chút việc., lão Hoàng thoáng nghĩ rồi bật miệng nói.
Theo chân người nọ vào cục, lúc này trong cục hàng hóa người ngựa tấp nập, từng chuyến xe ngựa chất đầy hàng hóa xếp ngay hàng thẳng lối, chuẩn bị cho chuyến đi đêm, có lẽ trong phủ này chỉ còn có mỗi Xa Phu cục này là còn bận rộn tấp nập, điều này dường như làm lão Hoàng thêm phần yên tâm hơn.
- Có chuyện gì ? gửi thư hay gửi đồ ?, một gã mặt phúng phéng ngồi ghi ghi chép chép lên tiếng.
- Xin cho tôi hỏi từ đây đến Thiếu Lâm Tự thì hết bao nhiêu lâu vậy ?, lão Hoàng dò hỏi.
- Chỗ của mấy lão đầu trọc à, thông thường thì khoảng một tuần chúng tôi đi một chuyến, khi tổng kết đủ hàng hóa cho một lần đi, chúng tôi sẽ đi., gã mặt béo vừa viết vừa nói.
- Vậy khi nào sẽ khởi hành chuyến sớm nhất vậy huynh đài ?
- Để xem, rồi rồi sáng sớm mai sẽ có một chuyến, mà ngươi muốn gì mà hỏi lắm vậy ?, vừa gập cuốn sổ lại gã mặt béo vừa hét toang lên.
- Xin lỗi, xin lỗi tôi muốn gửi một bức thư lên chùa Thiếu Lâm, mong các huynh đài giúp đỡ., lão Hoàng rút trong áo ra một bức thư, nhìn cũ cũ có vẻ như là đã được viết từ lâu rồi.
- Gớm, có thế thôi mà, được rồi chuyến sáng mai, chùa Thiếu Lâm, một trăm lượng bạc., gã béo viết một tắm nhãn dán lên bức thư rồi quăng véo vào phía trong.
Trả tiền xong xuôi đâu đấy, lão Hoàng lủi thủi bước ra khỏi cục, nhắm hướng ngôi nhà nhỏ cuối phủ mà bước về.
Bấy giờ, trời đã tối hẳn, cơn chuyển ầm ầm trên đỉnh đầu, gió quất vào mặt nghe ran rát, lão Hoàng vẫn cố nhìn quanh quất tìm cửa hàng bán kẹo, xem có còn mở cửa không, vì lời hứa sẽ mua kẹo về cho con trai, ánh mắt ông lướt qua từng góc phố, nơi hay có những cậu bán kẹo hay đứng rao í ới ban ngày.
Ánh mắt thoáng quá, một khắc suy nghĩ rồi tim đập thình thịch, vừa chạm mắt nhau, ngỡ ngàng và rồi ngay lập tức, lão Hoàng cúi đầu đi thẳng một mạch, bỏ lại phí sau một hắc y nhân đang đứng bần thần. “ Hỏng rồi, hỏng rồi, sao lại là bây giờ cơ chứ ”-lòng như lửa đốt, lão Hoàng chạy một mạch về nhà, quên cả sấm chớp như muốn đổ ập lên đầu.
Tung cửa vào nhà, lúc này cậu con trai đang loay hoay soạn chén đũa.
- Ôi cha, cha về rồi, sao cha đi lâu quá, trời sắp mưa to quá cha ơi., cậu bé tí toét vui mừng.
Không kịp nói với con trai lời nào, lão lao ngay vào nhà trong, bới bới soạn soạn gì đó, một lúc sau chạy ra. Trước sự ngỡ ngàng vì hành động kỳ lạ của cha, cậu bé tay chén tay đũa đứng trố mắt nhìn, không kịp cho con nói lời nào, ông dúi ngay một túi vải hành lý vào tay con, ôm chầm lấy con.
- Con trai, hãy hứa với ta con phải sống cho thật tốt, hãy làm một đấng nam nhi, sống chính nghĩa., nghẹn ngào, ông thỏ thẻ vào tai cậu con trai-và con phải nhớ giữ gìn sợi dây chuyền của mẹ con, con không được để rơi vào tay bất cứ ai hết, dù là bất cứ ai đi nữa,con trai, hãy hứa với ta !.
- Dạ , con hứa cha ơi., vừa khóc thút thít vừa hoảng sợ trước hành động của cha, cậu bé gật đầu.
- Được rồi, không còn thời gian nữa, bây giờ con hãy chạy ngay đến chỗ ông chủ dược điếm ở tành Tây, và đợi cha ở đó, không được đi đâu hết nghe không.
Ngay lập tức, ông dúi con trai ra cửa sau, đẩy con ra cửa ông hét toáng: “ Chạy mau ”, trước sự ngỡ ngàng và hoảng sợ của cậu con trai mới vừa tròn tám tuổi.
Mây đen mù mịt, mưa rơi xối xả, cuống cả chân, nhằm thẳng hướng thành Tây mà chạy. Tâm trạng bấn loạn, phần vì sợ phần vì ngỡ ngàng trước hành động kỳ quặc của cha, cậu bé cứ lao thẳng đường mà phóng, cái đói cái rét cộng sự sợ hãi đã dâng tới đỉnh điểm, phải nói là với một đứa bé thế này mà phải chịu cớ sự như vầy thì thật là hơi quá.
- Dược bá bá, Dược bá bá !, cậu bé đập cửa rầm rầm.
- Ai đó ! tối tăm thế này, có chuyện gì không ?., tay xách chiếc đèn lồng, ông chủ dược điếm lò mò đi ra.
- Hoàng nhi ! có chuyện gì vậy ?., biết là đã có chuyện không hay, tâm trạng lo lắng lão Dược lập tức lôi cậu vào nhà.
- Dược bá bá, con không biết chuyện gì, nhưng cha con lạ lắm, cha bảo con đến đây với bá ngay, nhưng mà con sợ quá., cậu bé thút thít.
Thoáng chút bất an, lão Dược ôm cậu bé vào lòng, vỗ vỗ vào lưng nó, lão ôn tồn:
- Được rồi, được rồi, ở đây với ta là an toàn rồi, cha con sẽ đến ngay thôi, cứ an tâm ở đây với ta. Nào ! con ăn gì chưa, ta còn mấy cái màng thầu đây, con ăn cho đỡ đói.
- Dạ !., thằng bé lí nhí đưa tay đỡ mấy cái bánh còn nóng hổi.
Khỏi phải nói là tâm trạng của lão thế nào, cà phủ này dù không ai để ý và quan tâm nhiều đến cha con họ Hoàng, nhưng với lão thì lại là đằng khác, đã có gì ẩn giấu phía sau đây ?.
Đoạn nói về ngôi nhà nhỏ ở cuối phủ trong cơn mây mưa chập chùng. Thoáng chút an tâm khi đẩy được thằng bé ra khỏi nhà, lão Hoàng liền lập tức vơ vét áo quần, đồ đạc vào tay nải.
Nì nằn trước một bàn thờ nhỏ ở góc nhà, trên bàn thờ có một bài vị nhỏ, nhưng lạ ở chỗ là trên bài vị không có khắc chữ hay khắc tên gì cả nhưng nhìn màu sắc đoán biết được nó đã được làm từ rất lâu rồi. “ Mười năm, cuối cùng thì cũng đã đến rồi !”, hít một hơi sâu, lão nhón tay lấy cất vào tay nải. Bỗng, lạnh hết cả sống lưng, lão chợt khựng lại, mặt biến sắc, có mùi chướng khí quanh đây. U u u….không khí xung quanh đặc quánh lại đến nghẹt thở. Lão Hoàng nhẹ nhàng đặt tay nải và ngồi xuống ghế.
- Đại sư huynh !, cho đến bây giờ huynh vẫn chưa bỏ cuộc sao ?., lão thò tay rót chén trà.
- Khư khư khư……tiểu đệ đệ vẫn còn nhớ đến vị đại huynh này à.,một giọng cười rờn rợn vang lên, u uất lanh lảnh đến gai người.
- Lâu rồi không gặp, đệ không mời ta được chén trà sao, đệ đệ ngoan., giọng nói thì thầm vọng tới.
- Đã mười năm rồi còn gì, huynh vẫn không buông tha cho đệ sao ?, giờ đệ còn gì nữa đây?., lão Hoàng cao giọng trong sắc mặt lo lắng.
- Nếu sư phụ mà thấy bộ dạng của đệ thế này thì người nghĩ sao nhỉ ?, khư khư khư….. hắn khoái chí
- Đừng đem sư phụ ra nói trước mặt ta, há chẳng phải huynh làm điều này vì bản thân mình sao ?., lão Hoàng đập bàn đứng phắt dậy.
Đoàng !, chiếc bàn gỗ vỡ toang ra từng mảnh, khí độc xanh lét bốc lên ngùn ngụt. Thoái bộ mấy bước lui về sát mép tường, dù đã đoán trước được ý đồ của đối phương nhưng đao phong quá mạnh, lão vẫn bị choáng đến mấy phần, lọang choạng dựa lưng vào tường, lão thở dốc. Thình lình, một bóng đen lao xuống trước mặt lão, mấy trượng về phía xa, một tên hắc y nhân trông bộ dạng hết sức hiểm ác.
Chống ngọn Đại Phong Đao xuống đất phía trước mặt, hắn chống hai tay lên cán đao, giọng nói ung ủng phát ra:
- Khư khư khư….., còn đâu oai phong của Tứ Tuyệt Ngũ Độc Giáo nữa, chỉ một chiêu Chu Cáp Thanh Minh mà đã hổn hển thế kia rồi à, hay từ khi đi theo con nhãi họ Đường đó đệ đã quên mất mình là ai rồi hả ?.
- Ây dà !, ta quên mất, đệ đâu có biết võ công, sở trường của đệ là giải độc mà, trong bổn giáo ta thiết nghĩ không có ai là qua được đệ ở cái khoản ấy, nhưng hóa ra nó đã thành cửa tử của đệ rồi, khư khư khư……, hắn đắc chí vỗ vỗ tay vào trán.
- Đồ khốn !., lão Hoàng loạng choạng.
- Nào đệ đệ ngoan, hãy giao Mộc đao ra cho tao mau ! kẻo ta không nghĩ đến tình huynh đệ nữa bây giờ., hắn quắc mắt.
- Ta không biết Mộc đao nào cả, ngươi mau cút đi !, tay run rẩy chỉ vào tên hắc nhân, lão hét to.
Nhanh như chớp, tên hắc y nhân lao thẳng vào lão, vươn tay ghì chặt cổ lão vào tường.
- Hết giờ hội ngộ rồi, có giao ra không thì bảo !
- Không….., lão Hoàng ú ớ đẩy tay hắn ra khỏi cổ mình. Trước sức mạnh của tên hắc nhân, bộ dạng của lão trông thật thảm thương.
- Khư khư khư…., tốt thôi, cả đời đệ giải độc cho người khác để xem hôm nay đệ cứu mình thế nào đây., y nghiến răng. Thình lình, hình xăm kỳ bí trên tay hắn bỗng từ từ chuyển động, u u u… nhắm thẳng hướng mặt lão Hoàng mà bò tới. một tiếng la thất thanh vang lên, khi vệt đen quái dị ấy chạm mặt lão Hoàng.
Chiêu thức mà tên hắc y nhân vừa tung ra, dường như là bí thuật Vô Hình Độc của Ngũ Độc giáo thì phải, nhắc đến bí chiêu này thì người trong giang hồ mặt không khỏi biến sắc. Sở dĩ nó được gọi là vô hình bởi vì không ai biết người sử dụng tung nó ra khi nào và làm cách nào mà đối phương bị trúng độc, kỳ bí hơn nữa là hình dạng, mặt mũi và tính chất của loại độc đó ra sao. Vì thế trên giang hồ vẫn lưu truyền những câu truyện bí ẩn xung quanh bí chiêu này. Thực ra, nguồn gốc của loại độc này chính là những hình xăm kỳ bí đôi khi ghê rợn trên người các môn đồ của giáo phái này, chúng ta rất dễ nhìn thấy chúng trên người họ. Và loại độc họ sử dụng chính là những con độc trùng có kích cỡ rất nhỏ mà mắt thường khó mà thấy được, sử dụng một loại mực xăm đặc biệt, những hình xăm ấy chính là nơi mà bọn độc trùng ký sinh lên, chúng ký sinh lên thân chủ hấp thụ chân khí cũng như kình độc của thân chủ mà sinh sống và hoạt động, võ công của thân chủ càng cao thì tầm hoạt động và độ nhiễm độc của chúng càng lớn. Chúng men theo hơi thở, gió, khí, phong mà tiếp cận và nhiễm độc lên người đối thủ, xác suất trúng độc là một trăm phần trăm nếu không có kình khí hộ thể. Vì vậy, khi đứng trước người của độc giáo, nếu thấy họ gãi đầu hay khịt mũi thì nhớ phải cẩn thận.
Lúc này, tình cảnh của lão Hoàng thật thảm thương, máu từ miệng từ mắt lão bắt đầu rỉ ra, mội thâm xì, da dẻ nhợt nhạt, khuỵu gối xuống thở hồng hộc.
- Thế nào, khư khư khư… tình cảnh bất lực thế này đệ thấy sao, bấn loạn quá phải hông ?, ta hỏi một lần nữa, có giao Mộc đao ra không mà để bảo toàn tính mạng ?
- Không bao giờ……tiếng ư ử phát ra từ cổ họng lão
- Grừ a a a….., tên hắc y bỗng trở nên cuồng loạn, vung đao tứ phía, đao phong ngùn ngụt, xé toang mọi đồ vật xung quanh. Ngoài trời mưa giông gào thét, sấm chớp ầm ầm, dữ dội ập xuống ngôi nhà tranh nhỏ bé của cha con lão Hoàng.
Bỗng tên hắc y khựng lại, im lìm như vừa tìm ra một giải pháp tuyệt diệu nào đó.
- Ái chà !, ta quên mất, hèn gì không thấy bóng dáng đâu, trốn rồi à, con nhãi ranh họ Đường đó., hắn khinh khỉnh.
- Nào nào, ta sẽ truy lùng và bắt cho bằng được ả, để xem ngươi quý đao hơn hay hay là mạng sống của ả hơn, đệ cũng biết ta độc ác thế nào rồi đó, khư khư khư….. đệ thấy sao?
- Không……. , tiếng thét của lão Hoàng vang động cả căn nhà, cắm phập chân bàn gãy nhọn vào đan điền, lão Hoàng khuỵu xuống sàn nhà miệng thổ huyết tung tóe, trước tên hắc y nhân mặt đang biến sắc.
Lúc này, sấm chớp không còn nhiều nữa, ùng oàng thưa thớt đó đây, mưa cũng đỡ nặng hạt hơn, không khí đã từ từ chùng xuống, tĩnh mịch đến nao lòng.
Trời đã dừng mưa hẳn, chỉ còn vài cơn gió lạnh lẽo ùa tới, nhác thấy đời sống của phủ từ từ trở dậy, tiếng mõ đêm văng vẳng vọng về, ánh trăng vất vả luồn qua từng đợt mầy đen cuồn cuộn lăn qua. Lúc này, dù bụng đã no và ấm cúng trong ngôi nhà của lão Dược, nhưng lòng dạ của cậu bé vẫn không yên, nỗi sợ hãi vẫn chưa nguôi ngoai đi phần nào, thấp thỏm đứng lên ngồi xuống, chút chút lại chạy ra cổng hướng xa xăm về phía cuối phủ. Lão Dược vẫn lặng im bên chén trà của mình, ánh mắt đục ngầu như có vẻ suy tư lắm.
- Dược bá ơi ! sao mãi mà vẫn chưa thấy cha con đâu, con lo quá bá ơi !., cậu nhóc tỏ vẻ lo lắng.
- Đừng lo, Hoàng nhi ngoan, hắn nói tới thì sẽ nhất định tới thôi.
- Hu hu…, con không biết đâu, bá dẫn con về nhà đi bá, bá bá !., cậu nhóc dùng dằng, nũng nịu.
Lúc này, lòng lão Dược cũng lo lắng đâu kém cậu nhóc đâu, dù biết nguy hiểm thường xuyên cận kề bên cha con họ hơn mười năm nay nhưng tình hình đêm nay không hiểu vì sao mà làm lão bất an gấp bội. Ngó bộ, không còn tâm trí mà ngồi chờ nữa, lão vội xắp xếp lại vài thứ trong nhà rồi châm cây đèn lồng lớn, khóac tạm chiếc áo mỏng lên người, lão nói với ra: “ Chúng ta về nhà con thôi Hòang nhi ”. Khóa cửa chính lại, lão dò dẫm bước ra, khép cánh cửa cổng lại lão đã thấy cậu nhóc thấp thỏm nhảy tưng tưng trên con lộ đẫn về nhà cha con cậu rồi. Họ chọn con đường ngắn nhất và thường đi nhất đễ dễ bề trông thấy lão Hoàng nếu từ hướng ngược lại, một già một trẻ thoăn thoắt trên lộ, đứa bé thì chạy trước thỉnh thoảng ngó với lại chờ lão già tay cầm đèn nhác bộ đang vất vả theo sau.
Lúc này, dù giông gió đã bớt nhưng không khí của Phủ vẫn tĩnh mịch lạ thường, ngoài đường ngoài phố chỉ còn vài bóng người đâu đó khẽ khàng lướt qua, vài khách điếm còn mở cửa í ới tiếng tiểu nhị vọng ra, phần vì mệt sau một ngày vất vả, phần vì đường xá ướt át lạnh lẽo sau cơn mưa lớn, hầu như mọi người chỉ muốn ở trong nhà và chuẩn bị cho giấc ngủ của mình. Căn nhà nhỏ ở cuối phủ đã yên ắng vô cùng, ánh đèn leo lét yếu ớt hắt ra, cửa chính thì mở toang, nhìn bộ dạng như không còn sự sống nào trong đó.
Bấy giờ, trước mặt hai bác cháu là một cảnh tượng hết sức kinh hoàng, trong nhà đồ đạc tung tóe, bừa bộn, cái thì gãy cái thì nằm chất chồng lên nhau, cứ như vừa có sơn tặc ghé qua đây vậy. Còn lão Hoàng thì hỡi ôi, nằm sóng xoài trên nền nhà, khuôn mặt đầm đìa máu, không còn nhận biết được nhân diện nữa. Với một cảnh tượng thê thảm như vậy, cậu bé khóc rống lên lao vào thi thể của cha mình, cớ sự như thế này thì hỏi ai cầm lòng được đây. Ngay lập tức, lão Dược vội ôm câu bé lại, trong vòng tay của lão cậu bé la khóc ầm ĩ, dùng dằng đẩy hai tay lão ra.
- Hoàng nhi !, coi chừng có độc., lão hét lớn.
- Hãy cứu cha con, bá bá !., cậu bé khuỵu xuống ôm lấy tay lão.
Nhanh như cắt, lão lấy trong tay áo ra một lọ Ngân Kiều Khứ Độc Đan, vội xoa đều lên đôi tay của mình, lão cúi mình xuống chạm tay vào cổ lão Hoàng, không có bất kỳ phản ứng nào, thoáng giây trôi qua, bần thần đứng dậy, ôm lấy cậu nhóc ông đau khổ,
- Ta xin lỗi !, đã qua trễ rồi.
- Không…., cha ơi !, cha hãy ở lại với con, cha ơi……, cậu bé gào lên thảm thiết.
Một già một trẻ ôm lấy nhau, tiếng gào khóc não nề vang lên, trong căn nhà hiu quạnh, thi thể lão Hoàng lạnh ngắt, gió lạnh u uất thổi ngang đây, vậy là chia lìa phụ tử sao?. Cậu bé chỉ mới tám tuổi thôi, trơ trọi một mình giữa thế gian, hỏi cuộc đời có quá ngang trái không?. Rời cậu bé đang gào khóc chỉ chực xỉu trên sàn nhà, lão vội rắc bột giải độc lên cơ thể lạnh ngắt của lão Hoàng. Bỗng !, xọet…, không một lời, lão Dược gục ngay xuống sàn nhà ngất lịm, quá bất ngờ trước tình cảnh vừa rồi, cậu bé mắt trợn ngược, ú ớ hét lên. Quýnh quáng chạy đến bên lão Dược đang bất động, cậu bé vừa lay cơ thể lão vừa la thảm thiết. Rồi cậu thấy mắt mình như đang nhòa đi, cơ thể mất hết sức lực, chỉ còn đủ sức gọi lên hai tiếng: “cha ơi !”, rồi gục xuống.
Từng tấm màn sương mòng phảng phất bay qua, tiếng gà gáy từ chân núi phía xa xa vọng về, không khí thanh thoát, từng đợt gió lạnh ùa tới, hơi sương từ những vũng nước mưa hôm qua bốc lên, mờ mờ ảo ảo, phủ Thành Đô như từ từ sống lại, cựa mình thức giấc, báo hiệu một ngày mới đầy hy vọng sắp đến. Lơ mơ tỉnh dậy khi xung quanh nhao nhao tiếng người, lão Dược mắt nhắm mắt mở nhìn quanh quất, lúc này xung quanh nhà lão Hoàng không biết từ đâu mà có rất nhiều người đang tụ tập lại, tiếng nói tiếng bàn tán ra rả vang lên. Người thường cũng có, người từ trong giang hồ cũng có, áo quần đủ sắc, từ những người mặc đồ đen bịt mặt trông rất bí hiểm đến những đạo sĩ, đạo cô trong những bộ pháp phục đạo mạo, chỉnh tề cũng đã hội tụ đủ quanh đây, ai ai cũng chằm chằm nhìn vào lão Dược, lão bỗng thấy lạnh hết cả sống lưng. Bất ngờ, một người mặc một bộ y phục quái dị, nửa đỏ nửa đen lao tới xốc cổ áo lão lên.
- Ngươi là ai ?, đang làm gì ở đây ?., vừa hét hắn vừa vả mấy cái vào mặt lão Dược.
- Hàng xóm, tôi là hàng xóm, nghe tiếng la tôi liền chạy qua đây, chỉ kịp thấy một bóng đen từ trong lao ra rồi tôi không còn biết gì nữa, bây giờ mới gặp các vị đây này., choáng váng phần vừa tỉnh dậy phần vì mấy cái bạt tai như trời giáng của tên giang hồ, lão phân bua.
Đoạn tên giang hồ hứ lên một tiếng, rồi lục lọi khắp người lão, chỉ tìm được vài lượng bạc, hắn nổi xung đá mấy cái vào mông, lão Dược lăn lông lốc vào tường, cũng may cho lão là ở đây có quá nhiều người nên hắn không dám hạ thủ. Đá xong hắn tức tối hùng hổ đi ra rồi biến mất vào đám đông. Lúc này, như chợt bừng tỉnh, lão liền ngó quanh quất nhưng không thấy cậu bé đâu cả, lão tối mặt.
- Không biết kẻ nào ra tay mà độc ác quá !., một ai đó lên tiếng.
- Nhìn cách hạ thủ, thì có lẽ là do Nhất Tuyệt của Ngũ Độc Giáo gây ra., một đạo sĩ ung dung vuốt râu.
- Nhắc đến hắn thì ai cũng căm ghét, ra tay một cách hèn hạ độc ác, nhất là chiêu Vô Hình Độc, hắn đã luyện tới mức Hồng Trùng, đối phương sẽ bị đứt hết kinh mạch mà chết, không những thế trước khi chết nạn nhân còn rơi vào ảo giác như đang gặp ác mộng nữa, thật là vô cùng tàn nhẫn. Nhưng cũng may là người này đã tự kết kiễu trước khi độc trùng tiến vào não, nếu không thì phải chịu một hậu quả hết sức đau đớn., một đạo cô phân trần.
- Nhưng thân thế hắn ra sao nhỉ?., một đạo cô khác đứng sau buột miệng lên tiếng.
- Nghe đâu, hắn xuất thân từ Ngũ Độc giáo, hơn mười năm trước giang hồ xuất hiện Tứ Tuyệt từ giáo phái này, người đầu tiên là tên man rợ này, Nhất Tuyệt Đổng Khùy, trong bốn người hắn là người có võ công giỏi nhất, tinh thông cả nội công lẫn ngọai công của phái này, người thứ hai là Nhị Tuyệt Tiêu Lĩnh còn có biệt danh là Hắc Diện Lang Quân, tên này có nội công rất mạnh, thứ ba là nhất nhân dụng độc của phái, Tam Tuyệt Đoàn Thiên Quan, hắn là người chế tác và sử dụng độc công rất lợi hại, còn người cuối cùng là Tứ Tuyệt, người này có tính tình hiền lành, nhân hậu, có khả năng giải độc và giảm nhiễm rất cao, tương tuyền không có loại độc nào mà hắn không giải được, tên hắn là Hoàng Hùng Anh,. Nói đoạn vị đạo cô đó tiếp lời.- Nhưng hiện tại giang hồ chỉ còn Nhị Tuyệt Ngũ Độc Giáo thôi, nghe đâu vào cuộc đại chiến Tống Kim hơn mười năm trước, tên Tam Tuyệt đã mất tích không dấu vết, còn tên Tứ Tuyệt thì nghe giang hồ đồn rằng Đường Môn đã thông cáo hắn đã sát hại Đường chưởng môn và đọat lấy Mộc Thần đao rồi trốn mất, đến giờ vẫn không tin tức. Thật đáng tiếc, chúng là những người tài giỏi mà lại đi theo tà giáo, đáng tiếc !., vị đạo cô chậc lưỡi.
Nhác thấy bóng dáng người của quan phủ đi tới, một ai đó tiếp lời:
- Thôi !, nếu cái gì còn thì đã mất rồi, chúng ta đi thôi, kẻo lại phiền phức với đám nha sai này.
Đoạn rồi họ lục tục kéo nhau đi hết, mỗi người mỗi hướng, trong chớp mắt bỏ lại căn nhà trơ trọi với một lão già đang bẹp dí trong góc nhà. Không gian tĩnh lặng trở lại, lúc này lão Dược mới lò mò tiến đến bên thi thể bất động trên sàn, lão cởi chiếc áo khoác mỏng rồi đắp lên thi thể., “ Vĩnh biệt huynh đệ ”-rơm rớm nước mắt, lão nì nằn. Rồi nhìn về hướng Thanh Thành sơn, lão quỳ mọp xuống:
- Lâm tiểu thư, tại hạ đã có lỗi với người, tại hạ không còn mặt mũi nào gặp tiểu thư dưới suối vàng nữa rồi, tại hạ vô cùng xin lỗi., lão quỳ mọp xuống trông thật thảm thương.
Ngọn Thành Thành sơn vẫn thế, như bao năm tháng qua, tĩnh mịnh và lặng yên, mây mù mờ ảo giăng ngang. Nhưng hôm nay lại khác, bao trùm lên đó là một nỗi buồn cô tịch, đâu đó tiếng gà gáy vội vang lên. tiếng chuông chùa não nề vọng xuống, một nhành mây rời đỉnh núi bay đi, về nơi xa xăm cô biệt……
| Chủ đề Mới nhất |
|
Hơn 3.000 bài thơ tìn...
-Chuyên đề: Thi Ẩm Lâu-Đăng bởi lần cuối: phambachieu-03-09-2026, 09:30 AM-
» Bài trả lời: 2,225-
» Lượt xem: 221,444
|
|
aydada thử
-Chuyên đề: Luyện võ trường-Đăng bởi lần cuối: hothiethoa-20-01-2026, 04:56 PM-
» Bài trả lời: 4-
» Lượt xem: 449
|
|
Truyện Thỏ Bông bị...
-Chuyên đề: Thi Ẩm Lâu-Đăng bởi lần cuối: hothiethoa-23-05-2025, 04:04 PM-
» Bài trả lời: 1-
» Lượt xem: 2,628
|
|
Thơ vui sưu tầm
-Chuyên đề: Tàng thi viện-Đăng bởi lần cuối: hothiethoa-15-02-2025, 09:36 AM-
» Bài trả lời: 0-
» Lượt xem: 77
|
|
Những vần thơ bất ...
-Chuyên đề: Thi Ẩm Lâu-Đăng bởi lần cuối: aydada-13-01-2025, 10:21 PM-
» Bài trả lời: 1,001-
» Lượt xem: 428,919
|
|
Gửi cho Áo tím
-Chuyên đề: Tàng thi viện-Đăng bởi lần cuối: hothiethoa-22-11-2024, 08:42 AM-
» Bài trả lời: 69-
» Lượt xem: 31,504
|
|
Riêng một góc trời....
-Chuyên đề: Thi Ẩm Lâu-Đăng bởi lần cuối: Long Giao Anh-25-10-2024, 08:18 PM-
» Bài trả lời: 51-
» Lượt xem: 24,504
|
|
TRANG THƠ JENNY HO
-Chuyên đề: Thi Ẩm Lâu-Đăng bởi lần cuối: phambachieu-17-10-2024, 07:53 AM-
» Bài trả lời: 495-
» Lượt xem: 45,490
|
|
Nhật ký Thi ẩm lâu ...
-Chuyên đề: Tác Văn Lâu-Đăng bởi lần cuối: hothiethoa-11-10-2024, 10:31 AM-
» Bài trả lời: 1,755-
» Lượt xem: 684,949
|
|
TRANG THƠ CHÂM BIẾM P...
-Chuyên đề: Thi Ẩm Lâu-Đăng bởi lần cuối: phambachieu-13-08-2024, 12:22 PM-
» Bài trả lời: 8-
» Lượt xem: 325
|
| Diễn đàn Thống kê |
|
» Thành viên: 1,151-
» Thành viên mới nhất: bongdalupl-
» Diễn đàn chủ đề: 1,949-
» Diễn đàn bài viết: 32,999
-Thống kê đầy đủ
|
| | | | | | | | |