Viết bởi: lanhdien
22-08-2012, 04:07 PM
Chuyên đề: Ca kỹ phòng
- Không có hồi đáp
Khúc Thụy Du
hãy nói về cuộc đời
khi tôi không còn nữa
sẽ mang được những gì
về bên kia thế giới
thụy ơi và thụy ơi
Năm 1968 bài thơ Khúc Thụy Du của nhà thơ Du Tử Lê như một phúc âm buồn quạnh quẽ trôi trên thân xác con người trong cuộc chiến. Nơi mà những mất mát đau thương đã dằn xé con người ra thành trăm mảnh. Nhắc đến chiến tranh chắc hẳn những người đã từng đi qua chiến tranh mới cảm nhận đầy đủ những dư vị của nó. Tôi thât sự chẳng biết chiến tranh. Bởi lẽ rất đơn giản là tôi sinh sau đẻ muộn. Chỉ qua sách báo, tài liệu và lời kể…Nên đối với cái sự chết chóc của chiến tranh, tôi chẳng có chút nào ám ảnh như lớp người đi trước. Lớp người đã đứng trên bờ tử sinh, của chuyển giao lịch sử.
Nhưng trong tôi lại ám ảnh Khúc Thụy Du! Khi bắt đầu nghe ca khúc này của nhạc sĩ Anh Bằng
Một Khúc Thụy Du của thơ và nhạc. Hay nói cách khác là một của “Thụy ơi và thụy ơi”và một của “Thụy ơi và tình ơi”
Cái điểm chung mà tôi hằng thích thú và tò mò là cái tựa đề mang tên Khúc Thụy Du, và hơn nữa là “Thụy”. Thụy của lời kêu gần như tuyệt vọng: “Thụy bây giờ về đâu”.
Theo như từ điển Hán Việt thì Khúc Thụy Du tạm hiểu là?
- 瑞 thụy: điềm lành, tin tốt
- 睡 thụy: chỉ về giấc ngủ. Nguyễn Du có viết: Sơn ổ hà gia đại tham thụy, Nhật cao do tự yểm sài môn và được Quách Tấn dịch Nhà ai góc núi sao ham giấc, Nắng gội hiên chưa mở cánh bồng.
- 諡 thụy: Dành cho người chết.Tên hèm. Lúc người sắp chết, người khác đem tính hạnh sự tích của người sắp chết ấy so sánh rồi đặt cho một tên khác để khi cúng giỗ khấn đến gọi là thụy. Ta gọi là tên cúng cơm.
Khúc Thụy Du theo cách diễn giải của Du Tử Lê chỉ là một cách lồng ghép tên của ông và người tình sinh viên Dược trong lúc lúng túng tìm cái tiêu đề cho bài thơ. Và hơn hết là bài thơ viết về chiến tranh, tình yêu trong bài thơ chỉ là một phần nhỏ.
Người ta hay tranh cãi về điều này. Nhưng tôi nghĩ tranh cãi nhau làm gì. Trong khi Du Tử Lê đã xác tín bài thơ của ông một cách rõ ràng.
Rất mâu thuẫn khi nói về điều đó, bởi bản thân Khúc Thụy Du vốn là một bài thơ được phổ nhạc.
Nhưng cũng chính vì điều đó mà tôi càng tò mò và cuốn hút Khúc Thụy Du hơn. Đã bao lần tôi trắc nghiệm lại nội tâm của mình khi bắt đầu nghe bài hát hoặc khi đọc bài thơ. Thú thật giữa thơ và nhạc trong Khúc Thụy Du theo cảm nhận của tôi nó hoàn toàn khác nhau.
Nếu như Thụy trong Du Tử Lê thiên về sự chết chóc như một tiếng kêu tuyệt lộ thì Thụy trong Anh Bằng là một giấc mộng nửa hư nửa thực,vừa ma quái vừa liêu trai.
Có một Khúc Thụy Du trằn mình vì bom đạn cày xới, điếng tê với chiến cuộc hoang tàn và một sự chết chóc
Lại có một Khúc Thụy Du da diết với giấc mộng trăm năm…đứng lưng chừng giữa mê và thực.
Tôi cũng mê đắm Khúc Thụy Du của Anh Bằng . Bởi đơn giản nó là một bản tình ca. Một bản nhạc thiên về tình yêu, và cũng một phần tôi không hiểu hết về chiến tranh. Nên chăng tôi dễ rung cảm với những giai điệu, ca từ da diết và khắc khoải của bản tình ca hơn là bài thơ gốc
Trong một bài thơ mà chuỗi dài là sự chết chóc. Tình yêu chỉ là một chút ít gì đó lóe lên, nhưng tất mãnh liệt dưới ngòi bút của Du Tử Lê như câu này:” hãy cho anh được ôm/ em, ngang bằng sự chết”. Tôi cảm nhận giá trị đích thực của tình yêu. Nó có một cái gì đó rất là ghê gớm, có thể đánh đổi được mọi thứ. Điều này có thể lý giải được bởi trong tình yêu đích thực thì mọi thứ đều có thể. Du Tử Lê đã khắc họa riêng cho mình một tình yêu bằng cả sinh mệnh.
Và bạn nghĩ gì khi nghe những ca từ này:
Anh là chim bói cá
Em là ánh trăng ngà
Chỉ cách một mặt hồ
Mà muôn trùng chia xa
Rõ ràng là sự day dứt đến gần như tuyệt vọng . Tuyệt vọng của tình yêu chứ không phải là nỗi tuyệt vọng của chiến tranh. Một biến thiên tình cảm đan xen giữa hư và thực. Cái mộng ảo mơ hồ lấn át người nghe. Đau xót và bàng hoàng, gần gũi và chia xa…Những cảm xúc nội tâm cứ dồn dập và thôi thúc người nghe như là câu hát :
Đừng bao giờ em hỏi
Vì sao ta yêu nhau
……………………...........
Vì sao và vì sao?
Bất chợt trào dâng lúc nào không hay để buột miệng tự hỏi;
Thụy bây giờ về đâu?
Sau mấy chục năm từ ngày bài thơ và bản nhạc ra đời. Chắc hẳn không ít người thầm hỏi như vậy khi nghe Khúc Thụy Du.
Thụy đã về đâu qua một chặng thương điền tang hải?
Tôi tạm xếp hai trường hợp và hai lối đi cho Thụy.
Có thể diễn giải rằng Thụy của ngày xưa và Thụy của ngày nay.
Thụy của lớp người đi trước và lớp người kế thừa.
Thụy của chiến tranh và Thụy của tình yêu
Thụy của sự chết và Thụy của lẽ sống
Cùng là một cái tên chung nhưng rõ ràng là có hai Thụy khác biệt.
Khi người ta còn cố níu kéo, còn có những ray rức, trăn trở của thời cuộc. Thì Thụy của họ phải là Thụy của Du Tử Lê.
Nhưng khi nói đến tình yêu về giấc mơ chưa đến được thì người ta nhớ đến Thụy của Anh Bằng.
Giữa hai luồng suy nghĩ đó thì từ khi ra đời Thụy đã chết!
Tôi không hề điêu ngoa chút nào khi tuyên bố như vậy. Thụy trong thơ đã chết nơi hòn đạn mũi tên, chết từ lúc biến cố lịch sử. Chết từ khi được chuyển tải thành những giai điệu du dương
Lý do chết rất đơn giản: Bởi vì chết để được giải thoát, để hồi sinh.
Khi nói đến sự mất mát, đau thương thời cuộc là chúng ta bắt đầu hướng đến một tương lai khác, một sự xây dựng và tái thiết. Chứ chẳng thể nào ôm cái quá khứ kia mà tiếc nuối, bi lụy. Cho nên Thụy đã chết
Nhưng đối diện với tình yêu người ta lại có sự hồi tưởng, những mất mát, những thứ chưa với được khiến con người dằn xé và muốn kêu gào lên cho thỏa sức. Muốn giằng co níu kéo…phải chăng vì vậy mà Thụy đã hồi sinh.
Khúc Thụy Du cho dù đứng ở lãnh vực nào dù thơ hay nhạc đều có giá trị cửa riêng nó. Bản thân cái tên gọi của nó đã mơ hồ, không phân định cho dù Du Tử Lê đã xác tín đến trăm lần người ta vẫn không thỏa mãn.
Cái hư hư, thực thực của nó như một thỏi nam châm cuốn hút người nghe lại. Nơi đó, con người mặc nhiên tưởng tượng, mặc nhiên ca ngợi say sưa, thỏa thích. Nơi đó người ta có thể sống lại phút giây riêng tư của mình, dẫu đau khổ hay được hạnh phúc thì nơi đó vẫn là nơi tự do nhất. Một cái thú, một niềm phấn khích dù rằng vừa thống khoái vừa bi ai.
Cái gì càng mơ hồ và khó lý giải thì bản thân nó có sức cuốn hút mãnh liệt, nó có thể trường tồn theo năm tháng. Nó bay qua cuộc đời này để người ta hiếu kỳ khám phá.
Phải chăng chính câu hỏi “ Thụy bây giờ về đâu?” như là chiếc chìa khóa mở cánh cửa tâm hồn cho những ai còn tiếc nuối, hoài vọng về tình yêu có dịp được nở hoa kết trái. Để lắng nghe nội tâm mình phát tiết dữ dội và những câu hỏi cứ đang xen lẫn nhau như một vết cắt ngọt ngào vừa xước qua cuộc đời này.
Và Thụy đã và đang về với những ai còn biết khắc khoải , lắng đọng với lòng mình, với cuộc đời mình nhưng vẫn hơn hết là với Tình Yêu đang còn dang dở.
Cảm ơn Anh Bằng khi ông đã chọn lọc những lời trong bài thơ Khúc Thụy Du và thổi vào đó một làn hơi khác, từng giai điệu rơi xuống một cách nhẹ nhàng trong tâm khảm người nghe một cách huyễn hoặc, mê hồn.
Và hơn ai hết, chính Du Tử Lê cũng thừa nhận điều này khi nói ra “Từ đó đến nay, thỉnh thoảng vẫn còn có người lên tiếng phản đối sự giản lược nội dung bài thơ của tôi vào một khía cạnh rất phụ: Khía cạnh tình yêu trong ca khúc “Khúc Thuỵ Du”…
Nhưng, hôm nay, sau mấy chục năm, nhìn lại, tôi thấy, ông cũng có cái lý của ông… “
Một khi ông cảm nhận được cái lý của Anh Bằng cũng chính là lúc chúng ta cũng đã hiểu Thụy đã về đâu.
Đã hai năm xa nhà, chị vẫn giữ thói quen dậy sớm. Lặng lẽ mở cửa sổ. Sớm thu. Hơi lạnh chạm vào tóc mai. Khói bếp nhà ai nấu cơm sáng bồng bềnh trên mặt hồ êm ả. Giờ này mẹ đã nấu xong cơm chưa em? Chị nhớ sau mỗi mùa, mẹ thường hay nấu gạo nếp. Chắc bây giờ mẹ vẫn để dành cho em một nắm xôi to như đã từng để phần chị?
Nắm xôi được gói chặt trong tấm lá chuối xanh dành cho em đi chăn bò, để giữa buổi em có thể bỏ ra rón rén ăn từng hạt, không kể trời mưa nắng... Bên hồ, có tiếng người rao bán xôi. Có lần chị đã mua một nắm xôi trắng thật to. Cái cô bán xôi thật là, cứ nhìn chị thôi. Ở đây, người ta ăn kèm xôi với nào trứng, nào ruốc, nào thịt, đủ các loại xôi (thế mà chả thấy ngon như chị em mình ăn xôi trắng đâu).
Chị mua xôi về phòng rồi lại chẳng ăn. Chị đặt nó lên bàn, nhìn thật lâu và nghĩ đến nắm xôi mẹ gói cho chị em mình. Em mà biết chắc sẽ giận chị là hoang phí quá. Chị biết, và đó cũng là lần đầu tiên chị cho phép mình “xài sang” như thế.
Ngày hôm qua, mẹ nấu nồi cơm nếp mới. Mẹ thắp hương cúng ông bà tổ tiên. Mùi xôi, mùi nhang, tiếng gà gáy khiến chị thức giấc.
Ngày hôm qua, trước khi dắt đàn bò ra cổng, mẹ lại đặt vào tay chị nắm xôi như mọi lần. Khi đàn bò thảnh thơi gặm cỏ trên triền đê cũng là lúc chị trốn vào rừng trúc. Sương ẩm đọng từng giọt trên lá nhỏ xuống vai mát lạnh. Không gian trong lành quá. Ngồi tựa gốc cây, chị giở nắm xôi ra. Nhấm nháp từng hạt ngậy ngậy, bùi bùi, thơm nức. Em từ đâu xuất hiện.
- Sao còn chưa đi học?
- Mẹ thiên vị chị. Sáng nào chị cũng được thêm gói xôi.
- Tại em chăn buổi chiều đấy chứ. Mà đâu phải sáng nào cũng có.
- Cho em đi.
- Không. Em đi học đi.
- Sáng nay cô giáo ốm, lớp em được nghỉ. Hay để em trông bò giúp chị rồi chị cho em gói xôi? Chị nhìn nắm xôi ngần ngại. Nắm xôi luôn là niềm yêu thích của hai chị em. Tuy vậy, nó dù sao cũng đã quá quen thuộc với chị rồi. Nhưng chị không sẵn sàng cho đi, dù người xin chị là em.
- Em bắt cho chị tổ chim trên ngọn cây kia, chị sẽ cho em nắm xôi này.
- Thật nhé. Em cười tít mắt. Chị cũng cười. Chị để ý đến tổ chim đã lâu rồi nhưng không thể bắt được. May nhờ có em và gói xôi của mẹ... Ngày hôm qua dù sao cũng đã trôi qua lâu lắm rồi. Nhưng vết sẹo thì vẫn còn hiện hữu mãi.
Em trèo lên cây, thoăn thoắt. Tổ chim tít trên ngọn, xa lắc lơ. Chị nhìn thấy cánh tay em vươn ra. Sắp được rồi. Và em buông tay. Tiếng hét thất thanh của chị. Đầu chị đặc quánh mùi nhang...
Em chạm tay vào tổ chim chèo bẻo. Thật không may, chim bố mẹ vẫn còn ở tổ. Sao chị lại ngốc nghếch thế nhỉ. Vẫn biết rằng đó là loài chim hung dữ, sẵn sàng chết vì con cơ mà.
Em rơi. Những cành cây nhọn đâm vào người. Máu loang trên lá cây. Chị khóc rất nhiều khi nhìn thấy những vết khâu trên mặt, trên cánh tay em. Mọi người bảo em cao số, trời còn thương gia đình mình...
Em tỉnh dậy. Nhìn chị mỉm cười “tại con chim mẹ hung dữ quá chị ạ. Thôi để cho nó có cha có mẹ, chị nhé.”
Em cười. Chị biết em không giận chị đâu nhỉ? Lớp da non dần mọc lại. Ngoài hai đám sẹo to còn vô số những chấm sẹo li ti trên da em. Như những hạt cơm.
Nhân vật Thuý Kiều trong đoạn kết Truyện Kiều nhìn theo quan điểm văn hoá giới thời trung đại...
Truyện Kiều được cấu trúc theo mô hình ba đoạn: hội ngộ, tai biến, đoàn viên. Ai cũng biết là trong đoạn kết thúc đại đoàn viên, Thuý Kiều gặp lại Kim Trọng sau mười lăm năm lưu lạc của một thân phận kỹ nữ. Câu chuyện thoạt nhìn có cái không khí của kiểu kết thúc có hậu, song thực ra, cuộc đời đau khổ của nàng Kiều vẫn còn tiếp tục. Kiều một mực từ chối không sống như vợ chồng với Kim Trọng, dẫu cho chàng Kim tha thiết khẩn cầu nàng. Rút cục, vị cay đắng vẫn thấm đượm tận đáy lòng Kiều.
Diễn biến của đoạn kết thúc này có thể trình bày lại như sau: trong không khí đầm ấm của buổi tiệc đoàn tụ gia đình, người em gái Thuý Vân chủ động đứng lên nêu vấn đề Quả mai ba bảy đương vừa / Đào non sớm liệu se tơ kịp thì - làm lễ cưới cho Thuý Kiều và Kim Trọng - tức “trả” lại chồng cho chị. Thuý Kiều đã kiên quyết gạt bỏ “phương án” của Thuý Vân:
Dứt lời nàng vội gạt đi,
Sự muôn năm cũ kể chi bây giờ ?
Một lời tuy có ước xưa
Xét mình dãi gió dầm mưa đã nhiều.
Nói càng hổ thẹn trăm chiều,
Thà cho ngọn nước thuỷ triều chảy xuôi.
Tuy nhiên, đây mới là lời từ chối trước đề nghị của Thuý Vân. Phải đợi đến khi chính Kim Trọng lên tiếng, nhắc nhở nàng nhớ lại lời thề trang nghiêm trước trời đất: Dẫu rằng vật đổi sao dời / Tử sinh cũng giữ lấy lời tử sinh, Thuý Kiều mới cắt nghĩa đầy đủ lý do khiến nàng từ chối:
Nàng rằng gia thất duyên hài,
Xót lòng ân ái ai ai cũng lòng.
Nghĩ rằng trong đạo vợ chồng,
Hoa thơm phong nhị, trăng vòng tròn gương.
Chữ trinh đáng giá nghìn vàng,
Đuốc hoa chẳng thẹn với cành mai xưa?
Thiếp từ ngộ biến đến giờ,
Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa.
Chúng ta đều biết, dẫu chàng Kim tỏ ra rất thông cảm với cảnh ngộ của người yêu, nói rõ Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường song Kiều nhất định khước từ cuộc sống vợ chồng mà đề nghị cuộc sống bạn bè.
Trong lịch sử tiếp nhận Truyện Kiều, giới nghiên cứu, phê bình đã lý giải nguyên nhân và ý nghĩa của quyết định mà nàng Kiều đưa ra như
thế nào?
Đã có một số cách nhìn, cách đọc khác nhau đối với sự việc này. Nguyễn Khuyến đứng trên quan điểm trọng trinh tiết của Nho gia, tức quan điểm nam quyền, đã cười cợt sự “đeo đẳng” này của chàng Kim Không trách chàng Kim đeo đẳng mãi / Khăng khăng vớt lấy một phần đuôi. “Một phần đuôi” tức là phần cuối, chút cặn bã còn lại sau mười lăm năm nàng Kiều lưu lạc. Chúng ta hiểu nhà nho vốn coi trọng trinh tiết của người phụ nữ nên đã nhìn thấy yếu tố hài hước trong chuyện Kim Trọng năn nỉ cùng Thuý Kiều sống đời sống vợ chồng.
Nhà thơ Xuân Diệu - đứng trên quan điểm xã hội học- từng viết bài Bản cáo trạng cuối cùng trong Truyện Kiều, lưu ý lời lên án tội ác xã hội phong kiến trong Truyện Kiều đã kéo dài mãi cho đến màn đại đoàn viên. Trích dẫn những lời tủi khổ của Kiều nói với Kim Trọng:
Đã đem mình bỏ am mây,
Tuổi này gửi với cỏ cây cũng vừa.
Mùi thiền đã bén muối dưa,
Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng.
Sự đời đã tắt lửa lòng,
Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi!
Dở dang nào có hay gì
Đã tu, tu trót, qua thì, thì thôi…
Rồi Xuân Diệu bình luận: “Ngay ở câu trả lời đầu tiên khi gặp nhau như chết sống lại, Kiều đã cho thấy đời mình tan nát, lòng mình tan nát, bản cáo trạng cuối cùng trong Truyện Kiều đã bắt đầu: Đã tu - tu trót - qua thì - thì thôi…”.
Thuý Kiều nói với chàng Kim Trọng:
Thiếp từ ngộ biến đến giờ,
Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa
Bấy chầy gió táp mưa xa
Mấy trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn
Còn chi là cái hồng nhan,
Đã xong thân thế còn toan nỗi nào.
Xuân Diệu bình: “Ta thử đọc lại đoạn này mà vận vào thân, xem thử có tủi nhục đến tận trong xương thịt mình hay không? Giày vò đến thế thì đến bao nhiêu thân cũng phải nát, huống chi một cái thân em… Ba mươi tuổi chính là lúc người đàn bà đầy đặn trong tình yêu, sinh đẻ những đứa con đẹp đẽ, khoẻ mạnh nhất: ở tuổi ba mươi ấy, nàng Kiều mang mãi trong mình một vết thương đau. Nàng Kiều không thể bước qua được tâm hồn mình, nó rất thanh tú, tư cách của mình, nó rất tôn trọng”(1). Xuân Diệu nhấn mạnh sự tự trọng của nàng Kiều - một phụ nữ đã trải qua nhà chứa ô nhục - nhưng ông quan tâm nhiều hơn đến ý nghĩa xã hội của màn đại đoàn viên này: dư vị của những đắng cay, đau khổ mà xã hội phong kiến gây ra cho con người vẫn còn âm ỉ đến cả ngày hội ngộ, nhuộm màu đen tối cho cuộc đại đoàn viên. Ông viết: “Tuy nhiên, người ta vẫn cứ phải nghĩ một thực tế : Như vậy nàng Kiều ba mươi tuổi sẽ sống như thế, thực chất là không chồng không con cho đến hết đời. Biết chừng đâu Nguyễn Du lại không nghĩ cả cái thắc mắc ấy của bạn đọc chúng ta! Biết chừng đâu Nguyễn Du lại không đổ thêm dầu vào lửa, cố ý hai lần nói Kiều “đào non” lại nói “Dưới đèn tỏ rạng má đào thêm xuân”, càng nói Kiều còn trẻ đẹp, càng xui ta xốn xang thắc mắc. Thắc mắc với ai? Với toàn bộ xã hội phong kiến suy tàn tàn ác, không phải thắc mắc đâu, mà căm giận nó: mỗi lần đọc những lời Kiều nói, ba đợt, ta lại xót xa tức tối không chịu nổi”(2). Đó là tinh thần mà Xuân Diệu gọi là sự tính sổ với xã hội phong kiến. “Nguyễn Du đã sử dụng triệt để cuộc đoàn viên, để tính sổ một lần cuối cùng… Nguyễn Du không đọc bản cáo trạng bằng xương bằng thịt, bằng máu của tâm hồn : Đây là nạn nhân còn sống sót của mười lăm năm chúng bay!”.
Nhìn theo quan điểm Phật học, Thích Nhất Hạnh lý giải kỹ hơn lý do khiến nàng Kiều quyết định không sống cuộc sống vợ chồng với Kim Trọng : một là Kiều thấy hai người không còn xứng đôi nữa, nếu Kiều chấp nhận làm “chuyện đó” với Kim Trọng tức là Kiều không đối xử đẹp với Kim Trọng (cách nhìn này của Thiền sư khá giống với quan niệm của nhà nho về trinh tiết và với quan niệm của Xuân Diệu về lòng tự trọng); hai là Kiều đã là người tu hành, đã giác ngộ chân lý nhà Phật, đã vượt lên trên quan niệm hạnh phúc thông thường của chúng nhân, “đã nếm được mùi tịnh lạc và thấy hạnh phúc chân thật là như thế nào rồi thì không thể trở về chuyện đó được”(3). Ông cho rằng xét về tâm linh và kinh nghiệm sống, so với Kim Trọng thì “Thuý Kiều đã đứng vào vị trí một người thầy của Kim Trọng về mặt tu học và tâm linh… Ngày xưa Kiều đã giữ Giới như một cô thiếu nữ. Bây giờ Kiều đã vượt ra khỏi, đã giải thoát rồi, Kiều không giữ Giới nữa mà Giới vẫn được tôn trọng”(4). Khái niệm “giữ Giới” ở đây nghĩa là trì giới, là tuân theo cấm kỵ chứ không phải là giới tính (sex). Theo Thích Nhất Hạnh, trước đây Kiều đã từng giữ gìn và vượt qua cơn đam mê dục vọng của Kim Trọng vì nàng muốn để dành tất cả niềm hạnh phúc cho đêm động phòng; còn bây giờ, Kiều từ chối vì không thấy ý nghĩa gì trong cuộc sống thân xác với Kim Trọng. Thích Nhất Hạnh thiên về đánh giá trình độ tu hành đã đạt đạo của nàng Kiều là nguyên nhân dẫn đến việc nàng từ chối sống vợ chồng với Kim Trọng. Theo ông, Thuý Kiều đã hiểu được hạnh phúc chân chính, vượt ra ngoài quan niệm hạnh phúc của người chưa giác ngộ như Kim Trọng.
Theo chúng tôi, về phương pháp đánh giá và lý giải ứng xử của Thuý Kiều trong đoạn kết này, cần chú ý đến một sự việc hiển nhiên rằng nàng Kiều là một người phụ nữ. Khái niệm “giới” sử dụng ở đây có nghĩa là “giới tính”. Và ứng xử của nàng ở đoạn kết lại cần được nhìn trong chuỗi các ứng xử của nàng Kiều với tư cách là một người phụ nữ trong quan hệ với nam giới ở toàn bộ tác phẩm Truyện Kiều.
Biểu hiện đặc trưng đầu tiên cho vị thế người phụ nữ trong quan hệ với nam giới là sự kiện Kiều tương tư quá “vắn tắt” so với Kim Trọng tương tư về Kiều sau cuộc hạnh ngộ của hai người giữa buổi chiều xuân trong hội đạp thanh. Nếu so sánh thuần tuý về số lượng câu thơ, dễ thấy Nguyễn Du chỉ dành cho Thuý Kiều 2 câu thơ nghĩ về chàng Kim Người đâu gặp gỡ làm chi/ Trăm năm biết có duyên gì hay không. Trong khi đó, Nguyễn Du dành cho nỗi tương tư của chàng Kim tới 28 câu thơ, từ câu 243 đến câu 270:
Cho hay là thói hữu tình,
Đố ai dứt mối tơ mành cho xong.
Chàng Kim từ lại thư song,
Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây…
Lơ thơ tơ liễu buông màng,
Con oanh học nói trên cành mỉa mai.
Đấy là chưa nói nếu phân tích nội dung cảm xúc tương tư thì thấy Kim Trọng chủ động và mãnh liệt hơn nhiều. Qua đây có thể nói, trong quan hệ nam nữ thời xưa, nam giới đóng vai trò chủ động và nữ giới chỉ đóng vai trò bị động. Nguyễn Du đã tôn trọng sự thực này. Rất có thể trên thực tế, trong đáy sâu tâm hồn một người con gái có những xao xuyến đầu đời mãnh liệt hơn, song sự thể hiện ra bên ngoài lại chỉ có chừng mực nhất định.
Trong cái đêm cả nhà còn lưu lại ăn tiệc bên ngoại, nàng Kiều đã Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình đến với Kim Trọng. Đọc lại văn bản, ta thấy dường như chính Kim Trọng cũng thấy ngỡ ngàng: có thể nào tin được rằng trong đêm tối, một người con gái lại chủ động đến với mình? Như đã lường trước được sự ngỡ ngàng ấy, Kiều phải vội vã lý giải cho Kim Trọng rằng “cuộc viếng thăm” bất ngờ này không chỉ vì tình yêu mà chủ yếu là vì linh cảm về sự mong manh của tình yêu. Thuý Kiều muốn có một sự bảo đảm vững chắc cho tình yêu, và Kim Trọng đã cùng nàng thề nguyền dưới vầng trăng thiêng liêng. Dường như để tái xác nhận tính chất chính đáng của cuộc thăm, Thuý Kiều đã từ chối một cách có tình có lý khi chàng Kim tỏ ra lả lơi. Kiều đã viện dẫn ra những câu chuyện lịch sử ở đó, nếu có chuyện quan hệ nam nữ thì phần thiệt thòi chỉ có riêng người con gái gánh chịu (câu chuyện về lứa đôi Thôi Oanh Oanh - Trương Quân Thuỵ). So sánh hành động, ngôn ngữ của nàng và của Kim Trọng, dễ thấy chỉ có riêng người phụ nữ chịu áp lực của quan niệm đạo đức, trinh tiết, còn người đàn ông lại tự do trước áp lực này. Nói khác đi, áp lực của xã hội nam quyền đã có sức ám ảnh và chi phối thực tế và khá mạnh mẽ đến suy nghĩ và hành động của Thuý Kiều.
Một sự kiện khác cũng rất đặc trưng là mối quan hệ tay ba Thuý
Kiều - Hoạn Thư - Thúc Sinh. Dễ thấy là tuy trong mối quan hệ đó, Thúc Sinh có một trách nhiệm không thể chối cãi: chính chàng đã chuộc Thuý Kiều ra khỏi lầu xanh, đã sống với Kiều, và bằng những việc làm này, chính Thúc Sinh đã khởi động cái nguyên nhân dẫn đến việc đánh ghen thâm thuý của Hoạn Thư và rồi từ cuộc đánh ghen ấy sẽ dẫn đến phiên toà công lý, nơi đó Thuý Kiều sẽ có ý đồ trả thù Hoạn Thư rất quyết liệt. Nhưng rồi ta thấy, người đàn ông Thúc Sinh đã vô can trong khi hai người phụ nữ dồn cơn ghen vào tình địch. Hoạn Thư đã tỏ rõ cái ghen sâu sắc, thâm thuý của người phụ nữ quý tộc khi ra tay với Thuý Kiều. Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình đã lên án sự nhu nhược của Thúc Sinh: khi thấy nàng Kiều bị Hoạn Thư hành hạ, Thúc Sinh đã chỉ biết “khóc thầm” mà không dám hành động công khai để cứu Kiều. Nhưng thiết nghĩ cần chú ý cả đến việc Thúc Sinh đã kín đáo xin với Hoạn Thư để mụ tha cho Kiều: Rằng tài nên trọng mà tình nên thương. Thì ra không phải Thúc Sinh nhu nhược, chàng chỉ muốn giữ cân bằng giữa hai người phụ nữ thù hận. Chủ trương cân bằng giữa hai người phụ nữ này lại thấy trong phiên toà công lý, Thúc Sinh thấy không khí báo ân báo oán đã có hai tâm trạng Sợ thay mà lại mừng thầm cho ai. Sợ cho tính mạng Hoạn Thư và mừng cho thân phận thay đổi của Thuý Kiều. Thuý Kiều cũng từng dự định trả món nợ Hoạn Thư tương xứng, song vì lời lẽ có vẻ thuyết phục của Hoạn Thư mà mụ được Thuý Kiều tha bổng. Đây là một tình huống cũng rất tiêu biểu cho xã hội nam quyền, trong đó, người đàn ông luôn “vô can”, không bị phán xét về đạo đức hay trách nhiệm, còn những người phụ nữ lại hành hạ nhau vì chính một người đàn ông đó. Cả Hoạn Thư và Thuý Kiều, tuy có địa vị xã hội, tính cách, tài năng, tâm hồn khác nhau nhưng lại gặp nhau ở chỗ suy nghĩ và hành động theo áp lực của xã hội nam quyền.
Đến đoạn kết thúc “đại đoàn viên”, nàng Kiều đã đứng trên quan điểm trinh tiết của Nho gia để tự phán xét, để đưa ra phương châm ứng xử với Kim Trọng. Chính từ quan điểm và chuẩn mực Nho gia đó, Thuý Kiều mang đầy mặc cảm tội lỗi vì cái điều mà nàng không gây ra, vì cái điều mà thế giới đàn ông đã gây ra cho nàng. Nói cách khác, xét một cách hệ thống, từ đầu đến cuối, khuôn hình ứng xử của Thuý Kiều chịu sự chi phối của xã hội nam quyền với những cung bậc khác nhau.
Văn hoá giới là hệ thống những quan niệm giá trị hình thành từ thực tiễn quan hệ giữa người nam với người nữ về mặt giới tính. Xã hội Việt Nam truyền thống có nhiều yếu tố của xã hội nam quyền, trong đó, các chuẩn tắc đạo đức, hành vi áp dụng cho phụ nữ chính là của những người đàn ông làm ra nên có những bất công lớn giữa quyền của nam và nữ. Nếu ta nhìn con người trong xã hội phong kiến từ quan điểm giai cấp thì có cảm tưởng tất cả mọi người dân đều bị thể chế phong kiến chà đạp. Nhưng nếu nhìn từ quan điểm giới, dễ thấy, so với nam giới, chính người phụ nữ mới chịu nhiều bất công, đau khổ. Trong quan hệ nam nữ, phạm trù trinh tiết như là biểu hiện của đạo đức chỉ áp dụng cho người phụ nữ; còn người đàn ông đối với người phụ nữ được tự do, không bị ràng buộc bởi phạm trù này. Không ai lại đi khen hay chê người đàn ông vì giữ (hay không giữ) trinh tiết với vợ, song trinh tiết là một trong những chuẩn mực để khen chê đức hạnh người phụ nữ. Một nhà nho có thể có hàng chục vợ hay một ông vua có hàng trăm cung nữ, nhưng vẫn “vô tư” bàn về trinh tiết phụ nữ, vẫn sẵn sàng làm thơ, viết văn ngợi ca những người phụ nữ “tiết hạnh khả phong”. Thực tế này là phổ biến trong văn học trung đại.
Vậy trinh tiết là chuẩn mực đạo đức một chiều áp đặt cho người phụ nữ. Nhưng đáng chú ý là chính người phụ nữ từ bao đời lại cũng suy nghĩ và hành xử hệt như người đàn ông về vấn đề trinh tiết này.
Về thực chất, khi Thuý Kiều từ chối cuộc sống vợ chồng với Kim Trọng là mang một mặc cảm tự ti của người phụ nữ bị áp lực của chuẩn mực đạo đức do nam giới quy định, tự cho rằng mình không xứng với Kim Trọng nữa sau bấy nhiêu năm lưu lạc giang hồ. Mặc cho Kim Trọng hết sức cảm thông, chiêu tuyết cho nàng, Thuý Kiều vẫn một mực từ chối. Tấn bi kịch của ngày tái ngộ chính là tấn bi kịch do mặc cảm về trinh tiết của chính người phụ nữ đem lại cho chính mình. Hiển nhiên việc Kiều rơi vào cảnh “ong qua bướm lại” là do chính bọn đàn ông gây ra, chính họ đã biến Kiều thành một cánh hoa tàn, song Kiều không bao giờ truy nguyên nhân từ bọn họ. Cũng vậy, tất cả các nhà nho trong lịch sử bình luận Truyện Kiều, từ Nguyễn Công Trứ đến Tản Đà, Huỳnh Thúc Kháng,… vốn lớn tiếng phê phán Kiều là dâm, là đĩ nhưng không ai trong số các nhà nho ấy lên án bọn đàn ông này - bởi vì nếp nghĩ quen thuộc là hướng đến quy trách nhiệm cho Kiều, như muốn trách cứ Kiều vì nàng đã cam tâm sống mà không chọn cái chết để bảo toàn trinh tiết như bao liệt nữ khác. Nguyễn Công Trứ đã nói thẳng vào mặt Kiều: Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm! Người con gái, người phụ nữ phải một mình gánh chịu những hậu quả đạo đức nghiêm trọng cho dù thủ phạm gây ra lại là đàn ông. Các nhà nghiên cứu Truyện Kiều theo quan điểm xã hội học cũng không hơn gì, vì họ truy tìm nguyên nhân gây nên đau khổ cho Thuý Kiều từ bản chất xã hội phong kiến chung chung, mà chưa chỉ ra tính chất nam quyền của xã hội này cũng là nguyên nhân đã gây nên đau khổ, bất công cho nàng.
Nguyễn Du dường như đã cảm nhận được tính chất bất công, vô lý của cái chuẩn mực đạo đức một chiều ấy. Đoạn đại đoàn viên ghi lại chân thực quan niệm trinh tiết Nho giáo đã ăn sâu vào cả cách nghĩ của người phụ nữ, nó là một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến tấn bi kịch của nàng Kiều ngay trong hồi đại đoàn viên. Thuý Kiều tự nguyện gánh chịu tất cả khổ nạn do quan niệm trinh tiết mà nam giới đã áp đặt cho người phụ nữ với một niềm xác tín là người đàn ông như Kim Trọng không thể sống với một người phụ nữ thất tiết. Những lời xót xa của nàng Kiều đòi hỏi một sự suy nghĩ nghiêm túc về trách nhiệm của những người đàn ông đối với vấn đề trinh tiết của phụ nữ thay vì bình thản chứng kiến người phụ nữ phải gánh chịu hậu quả đến mức phải hy sinh cả hạnh phúc của họ. Vấn đề là tại sao chỉ có người phụ nữ phải tuân thủ tiết hạnh? Và, tại sao người phụ nữ lại chỉ có giá trị với điều kiện bắt buộc là phải có tiết hạnh? Dường như nhà thơ vĩ đại muốn đặt những câu hỏi khá bức bối này của tư tưởng nữ quyền trong phần đại đoàn viên của Truyện Kiều. Đó cũng là một phương diện giá trị của chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du
Có phải đó là em ? khi sáng nay trên con đường ban mai đầy gió, tôi vô tình trông thấy rồi lại để em mất hút trong dòng người tấp nập. Vẫn nụ cười ấy vẫn ánh mắt ấy, dù chỉ thoáng qua trong giây phút nhưng cũng đủ mang tôi về với một vùng đầy ký ức với những đam mê, hoài niệm và tiếc nuối
Thỉnh thoảng, trong mơ tôi vẫn nhìn thấy em, để rồi mỗi sáng đầu tôi lại miên man về những hoài niệm trong những cơn ngái ngủ. Ngày ấy, những buổi chiều tà, tôi thường đèo em trên chiếc xe đạp của mình, hai đứa lại ra hóng gió bên bờ đê đầy nắng, rồi lại vu vơ về những chuyện xa tít phía trước. Em thường hỏi, tôi có mong ước gì sau này, tôi trả lời là muốn có nhiều tiền, nhà cao và xe đẹp, còn tôi hỏi em thì em chỉ lúng liếng cười, nụ cười thánh thiện của em như át đi cái nắng chiều hanh hao, vàng vạng.
Cho đến bây giờ, tôi đã có nhà, có tiền và có xe đẹp nhưng đã không có em ở bên cạnh, ngày ấy phải chăng tôi đã quá vô tư chỉ mong ước những điều tốt đẹp cho riêng mình mà đã lỡ quên đi lời ước là có em bên cạnh. Điều ước tưởng chừng như đơn giản, như những nụ cười của em nhưng đã đi gần hết nửa đời người mà tôi vẫn chưa nhận được.
Em vẫn ở đây, ngủ yên trong tâm trí tôi như những vệt rêu trên bức tường cũ, những cơn mưa thoáng qua lại bừng sống lên, xanh ngát đến nao lòng. Nhiều lúc trong những bộn bề của cuộc sống, tôi tưởng chừng như đã mất em, đã quên hẳn được em rồi nhưng lại có những khoảnh khắc như sáng nay, ánh mắt em thoáng qua làm tim tôi nghèn nghẹn
Sáng nay, trời có mưa một tí, và tôi nhớ ngày em xa tôi trời cũng có giông bão một chút, những cơn mưa ngày ấy như càng làm sự trống trải trong tôi thêm rộng hơn, xót xa hơn. Em có biết , cuối cùng tôi đã nhận ra rằng càng cố quên em thì tôi càng nhớ về em nhiều hơn, những ngày tháng qua tôi đã cố gắng tạo ra trong mình một chiếc cũi để nhốt nỗi nhớ em lại, nhưng càng siết chặt nỗi nhớ ấy lại càng vũng vẫy mạnh hơn, như muốn xé nát trái tim ơ hờ của tôi. Tôi đã không sống thực với mình phải không em ?
Không có em tôi vẫn đi hết được đoạn đường đời này, và em cũng thế không có tôi em vẫn sống và hoàn thành được những ước mơ mà em mong muốn, chúng ta có giống 2 đường thẳng song song không em ? vẫn cứ mải mê bước mà chẳng bao giờ gặp được nhau, cho đến lúc 1 đường dừng lại nhưng đường kia vẫn cứ bước, đau đớn quá phải không em ?
Rồi trong những tháng ngày sắp đến, những buổi sáng như thế này chắc chắn sẽ lần lượt xuất hiện với tôi, rồi mỗi lần như thế tôi biết tôi sẽ lại nhớ về em nhiều hơn, rồi sẽ lại quằn quại đau trong những miền man về em và những ngày xưa vắng. Tôi chỉ ước trên thế giới này đừng ai giống tôi, để em không thể gặp lại, và nếu như có, tôi cũng mong em sẽ không đau như tôi đã từng.
Người đàn ông với nụ cười rạng rỡ và đôi mắt sáng ngời niềm vui cứ như thế bước qua lại giữa con đường mưa. Trời hải phòng những ngày cuối tháng bảy rả rích từng cơn giông nặng hạt. Người đàn ông cứ thế bước qua lại lòng đường trong cơn mưa , thỉnh thoảng đưa mắt hướng về bầu trời phương nam xám xịt mây mù nhưng vẫn không quên nở nụ cười ấm áp. Anh nói không ngừng , nói cho anh nghe và cho tiếng vọng của con tim sau bao nhiêu năm băng giá tự nhiên lỗi nhịp.
Xin thưa với bạn rằng , tôi không miêu tả người điên , bởi từ xưa đến giờ chỉ được nghe người ta bảo rằng thằng kia nó vì yêu mà điên chứ không ai bảo thằng điên nó yêu cả. Vì thế xin bạn hãy dùng một con tim bình thường để cảm nhận hết sức bình thường về nhân vật của tôi , người đang ông đang đi qua lại giữa hai lề đường trong cơn giông phương Bắc .
-Người nhìn mưa rơi không thấy gì sau lưng- người đàn ông nói nhỏ .
-Gì cơ ? Hạ Vy hỏi .
-À , em có biết mưa và nước mắt khác nhau chỗ nào không?
-Nước mắt có vị mặn , còn mưa thì không.
-Haha , người đàn ông cười to - thế còn giống nhau ?
-ơ gì nhỉ ? mưa và nước mắt giống nhau như nào nhỉ ? có phải tất cả đều không chảy ngược không anh ?
-gì nữa nào ?
-sao?
-còn gì nữa ?
-Hết rồi.
-Haha , thật chưa ?
-Hix.
-Em ngốc à , mưa và nước mắt giống nhau vì nó đều là tự nhiên.Chuẩn chưa nào bé?
-À ừ nhỉ .
-Lau nước mắt đi nào bé , giúp anh lau những giọt nước mắt trên gương mặt em.
Gương mặt ràn rụa nước mắt của Hạ Vy vô thức nở một nụ cười. Anh vẫn tiếp nối câu chuyện với cô bằng những câu chuyện kể về mưa , và Hạ Vy thì vẫn nghe được những âm thanh tí tách của cơn mưa đang ngơi dần hạt.
Hạ Vy biết anh được 4 năm hơn, cũng như cô người đàn ông ấy vùi đầu vào game để trốn tránh một cuộc sống bế tắc mệt mỏi của chính bản thân mình. Ngày ấy , anh ít nói và thức muộn lắm . Có những đêm Hạ Vy ngồi đăm đăm nhìn màn hình lặng lặng theo dõi anh làm nhiệm vụ trong game -không chat , vậy mà người ngồi xem , và người ngồi chơi tự bao giờ rồi cũng quen với sự tồn tại của nhau.
Người đàn ông ấy từng tha thiết yêu thương một người phụ nữ , sáu năm mặn nồng nhưng chẳng đến được với nhau chỉ đơn giản là vì bố mẹ đôi bên bảo rằng chúng mày không hợp tuổi. Nàng con gái đôi mươi chịu không được những áp lực của gia đình buông tay, chàng mang lòng tự trọng của người đàn ông bị bỏ rơi cũng nới rộng vòng tay để nàng lên xe hoa về nhà người khác. Ngày cưới , ánh mắt cô dâu cứ nhìn chàng đầy oán hận. Nữa năm sau chàng lập gia đình trả đũa người yêu. Vợ chàng , cũng không hợp tuổi.
Bé Thiên Anh ra đời một năm sau đó , thỉnh thoảng vợ chồng người đàn ông và vợ chồng người phụ nữ năm xưa hẹn hò nhau ăn cơm , ca hát . Nhưng con tim chàng chẳng bắt gặp nhịp đập yêu thương. Vợ người đàn ông ấy là một người phụ nữ xinh đẹp chu đáo và giỏi cam chịu.
-Đám cưới xong , anh đã ngủ một giấc thật say , khi tỉnh dậy anh cứ tưởng mình vừa trải qua một giấc mơ.
-Một giấc mơ dài ?
-Không một giấc mơ ngắn , mọi việc xảy ra như một cái chớp mắt.
-Vợ anh là người phụ nữ tốt.
-Anh còn đòi hỏi gì ở cuộc đời này ?
Im lặng , tiếng mưa vẫn rơi đều . Người đàn ông vẫn đi lại giữa hai lề đường dưới những hạt mưa liti. Bốn năm , suốt bốn năm rồi anh rời khỏi nhà khi bình minh ló dạng. Cơm hàng cháo chợ và sực nức mùi rượu bia khi trở về nhà cùng con tim chết từ ngày lễ thành hôn năm ấy. Đôi lúc Hạ Vy hỏi anh
-4h sáng rồi , sao anh còn chưa về?
-Về đâu , khi nhà đã bán . Anh bật cười khanh khách.
Trái tim Hạ Vy đau thắt , cô từng ao ước rằng giá như anh không có đôi quanh ghánh trên vai thì có lẽ giờ đây cô đã có thể tựa đầu vào vài anh mà khóc cho cuộc đời mình. Nhưng sự thật vẫn là sự thật, cô chẳng thể nào dựa vào bờ vai của anh , người chồng - của người phụ nữ đang ướt gối từng đêm chờ đợi chồng trong sự im lặng kiên nhẫn . Còn người đàn ông đang đi giữa hai lề đường mưa ướt , sau bao nhiêu năm băng giá trái tim bỗng nhiên lỗi nhịp vì cô bàng hoàng nhận ra trách nhiệm của mình giữa cuộc đời .Da diết yêu Hạ Vy nhưng phải đối diện như thế nào với người vợ một lòng một dạ cùng anh.
Người đàn ông lại đi lại qua hai lề đường dường như mưa thôi rơi.
-alo em đâu rồi.
-E đây , e lau khô nước mắt rồi.
-Hạ vy ngoan , e hứa là không khóc , ít nhất là trước mặt anh .
-(im lâng)
-Không hứa à ?
-.......
-Không hứa cũng không trả lời.
-Em sẽ không khóc nữa , với điều kiện.
-Điều kiện gì ?
-Từ nay , anh phải về nhà ngủ , và không được ngồi uống rượu một mình nữa.
-Chỉ đơn giản thế thì a hứa.
-Lời hứa đàn ông đáng giá ngàn vàng.
-Bé ngốc , anh có bao giờ lừa dối em.
-Nhất trí như vậy nhé.
-Nhất trí , bé đi ngủ nhé.
-Okie anh , e ngủ a cũng phải về nhà ngủ đấy , ko lang thang nữa.
-Anh biết rồi , a về đây.
-À , anh này ..
-Sao nào bé?
-Em yêu anh .
Hạ vy tắt máy , đồng hồ trên màn hình di động hiện thị bốn con số 04 :00. Hạ Vy rút Sim điện thoại bẽ gãy làm đôi.
Câu chuyện của tôi kể hình như là hết rồi , Hải Phòng tháng này lại vào đợt mưa rơi nhiều nếu ai đọc được câu chuyện này và bắt gặp một người đàn ông đi lại giữa 2 lề đường vào lúc trời mưa , xin làm ơn , hãy ôm anh hộ tôi . Hãy sưởi ấm cho tâm hồn đã lạnh nữa đời người, làm ơn .
1. "khi xưa ta bé, bắng băng... Ta vui ta hát, bắng bằng... Cho đời hương hoa , cho đời thắm nhòa... bắng băng , bắng bằng, bắng bặng....." *
Đó là những câu hát nhí nhảnh của đám trẻ thời thập niên '60.
Nhưng vào thời nào cũng thế thôi, lúc tuổi còn thanh xuân lòng nhiều hiếu động, con trai con gái ( bằng cách này hay cách khác) thường hay tỏ tình cùng nhau . Dưới cái nhìn của tình yêu, bất cứ hành động nào của kẻ mình đang thầm yêu trộm nhớ đều thật.... dễ thương. Như bài thơ dưới đây khi tác giả mới lên mười lăm
…..Em thấy anh ngồi nhìn ít nói
Làm em ngượng núc nửa ly chanh đường
Anh mỉm chi gật đầu vô tội vạ
Uống nốt nửa ly kêu say quá trời
Nước chanh mà say ? anh chỉ tổ xạo
Anh xoay cái ly, cái ly quay mòng mòng
Anh nói rất nhỏ anh say y cái ly
Vì nước miếng em như chất rượu nồng
Em chới với vì lời anh quá giỏi
Em quệt môi thích anh câu tỏ tình ... **
Nghe được lời tỏ tình của chàng trai, và thích câu tỏ tình khi tuổi nàng mới mười lăm quả là quá sớm với thời buổi lúc bấy giờ. Nhưng nào có ai trách móc gì đâu mà phải phân bua ?
Tỏ tình tự nó rất thơ mộng trong bất cứ không gian hay thời gian nào giữa hai người nam và nữ. Có thương thì mới bày tỏ tình cảm thầm kín của mình với người kia...
Ngày xưa, người chủ động việc tỏ tình thường là nam giới, vì giới nữ hay có tính cả thẹn. Hơn nữa, lề lối phong tục và giáo dục của gia đình không cho phép người con gái quá sỗ sàng biểu lộ tình cảm với người khác phái. Điều này cũng đúng thôi, vì dưới mắt của anh, em càng khép nép, e thẹn (dù cho vờ vịt) thì càng làm cho anh đắm say thêm. Tình cảm sẽ gia tăng và nồng độ yêu cũng mạnh hơn để sự tỏ tình của anh càng thêm tha thiết
Cách tỏ tình càng lãng mạn thì tình cảm ban đầu khó phai nhòa. Tùy theo hoàn cảnh và giàu trí tưởng, người nam tìm cách khéo léo để bày tỏ tình yêu của mình (lén nhét vào sách bức thư thương nhớ, tặng hoa hồng v...v...) hoặc kiểu cách (quì hôn tay, kiểu tây v...v....). Người nữ biểu lộ tình cảm qua khoé mắt nhìn /nụ cười/cử chỉ nhỏ nhặt gì đó . Ôi, cái nhìn lắm lúc làm người ta chết mê chết mệt, có sức mạnh làm người ta trăn trở suốt đêm nhớ chi là nhớ ! Ôi cái cử chỉ rất đặc biệt kia của nàng sao mà quyến rũ thế, làm lòng người ta lưu luyến mãi khôn nguôi (trời cho mỗi người đàn bà có một cách diển tả tình cảm riêng tư của mình như một trademark, mà người Việt Nam gọi đó là duyên ngầm . Ai cũng có chút duyên ngầm mà nhiều khi không biết đấy thôi !)
Ngày nay, người ta đi xa hơn .... Rất bạo dạn, có lắm cô/bà đã tiên phuông trong việc biểu lộ tình yêu của mình với người kia bằng nhiều mánh mung (tiền tài, thân xác v..v...v.).. Có khi thắng vì tên nọ yếu bóng vía, thua cơ . Nhưng đa phần thì thua vì chàng sợ lọai đàn bà trơ trẻn, nên thường dùng những gì được cho rồi nếu có cơ hội sẽ co giò chạy... trốn.
Nói cho cùng, trong tình yêu mà có thắng bại thì tình yêu đó chẳng bao giờ bền lâu. Người đàn bà nên luôn luôn giữ gìn phẩm hạnh để được quí trọng. Yêu mù quáng và chết mù quáng chẳng giải quyết được gì...
Trong tình đời, có lắm trường hợp yêu một chiều nên lời tỏ tình không đúng chỗ thường đem đến những thất vọng cho kẻ tình si .Còn trường hợp hai nhân vật chính có tình cảm với nhau thì lại khác. Người tỏ tình hay người chờ đợi được tỏ tình đều mang trong lòng những xao xuyến khó tả khi giờ yêu thương đã điểm......
Có một số anh chàng mất người mình thương vì tội... lần lữa chậm chạp, bắt nàng chờ sự tỏ tình của anh quá lâu. Cũng có một số cô lên xe hoa với người khác vì sau thời gian tỏ tình, mỗi lần gặp thì chàng thường quá đạo mạo (ví dụ như khi gặp nhau thay vì nói anh yêu em lắm, em rất hợp với anh, em dễ thương quá , anh nhớ em ngày đêm v...v... thì chàng lại nói "Đức Phật dạy rằng... Chúa dạy rằng v...v.... " làm cô gái phiền lòng không thể tưởng. Có tín ngưỡng là một điều tốt , nhưng đem tín ngưỡng ra nói không đúng lúc, không đúng chỗ hay không đúng đối tượng là một thua thiệt lớn ).
Sau khi tỏ tình với nàng và được chấp nhận, nếu anh đang trong hoàn cảnh thuận lợi, việc anh cần làm là đánh nhanh đánh mạnh đánh gọn để nàng không có thì giờ suy nghĩ : cầu hôn lập tức !
Cưới vợ xin cưới liền tay
Chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha ***
Không Gian Sông Nước Trong Truyện Ngắn Của Nguyễn Ngọc Tư Thụy Khê
Nguyễn Ngọc Tư nổi tiếng về những truyện ngắn khá hay viết theo lối truyền thống. Chị thường kể lại những nỗi u hoài trầm lặng, sự nhẫn nại chịu đựng cam phận trong tâm hồn người dân quê miền Nam, mà đời sống gắn bó với con kinh, con rạch. Giọng văn và tinh thần sông nước của chị như một truyền thống nối dài từ Bình Nguyên Lộc, người đã gắn liền hai yếu tố đất và nước, thành ý nghiã thiêng liêng của hai chữ đất nước. Tư tưởng này, truyền qua Sơn Nam, đến Nguyễn Ngọc Tư, là thế hệ thứ ba, tuy đã bớt đậm đặc đi, nhưng vẫn đem lại cho người đọc, nhất là người đọc khác miền, những cảm xúc mới. Lối viết hiện thực thô lậu của Bình Nguyên Lộc đã ảnh hưởng sâu sắc đến những cây bút cùng thời với ông như Võ Phiến, Thanh Tâm Tuyền, Nhật Tiến, Sơn Nam...
Nghệ thuật thô lậu là gì? Là ghi lại đời sống bằng giọng thô lậu, bằng ý nghĩ thô lậu của nhân vật, của động vật, đồ vật và quang cảnh xung quanh, chứ không bằng văn chương và ý nghĩ chủ quan của tác giả. Trong cách viết hiện thực thông thường, nhà văn đứng ngoài, dùng một giọng neutre, giọng vô thanh, vô hình, vô ngã để thuật truyện; chỉ khi chuyển sang đối thoại, người viết mới tìm cách làm lộ địa vị xã hội, gốc gác, bản tính, cách suy nghĩ của các nhân vật qua lời ăn tiếng nói của họ. Trong hiện thực thô lậu, tất cả những yếu tố kể trên, không cần đợi tới đối thoại mới bật ra mà chúng nằm ngay trong giọng kể, tàng trữ trong giọng kể. Giọng kể ở đây không vô thanh, vô hình, vô ngã, mà có âm, có hình, đa ngã. Thí dụ Bình Nguyên Lộc viết:
- "Gió bấc lướt trên ngọn cây, té vào giếng ấy như nước chảy vào chỗ trũng, và vì không có lối ra gió quay cuồng, càng vặn thêm lòng người vốn đã lạnh".
- "Ba cái thây sống nầy lại càng giống nhau ở chỗ nó cụt ngủn và xẵng như dùi dục chấm mắm nêm, hay là không nói gì hết, tối ngày.
- "Thằng nhỏ trên chõng chậm chạp tuột xuống, rê cái bụng binh rỉnh chằng chịt những gân xanh lại gần chị Chín". (trích truyện Thèm người của Bình Nguyên Lộc trong tập Nhốt gió).
Hai chữ: té, vặn, trong trích đoạn đầu, làm cho giọng kể mặn mòi hơn, có âm lên, có chuyển động lên, và xác định không gian miền Nam, cá tính miền Nam. Một nhà văn Bắc sẽ viết: "Gió bấc lướt trên ngọn cây, xoáy vào giếng ấy...", và ta thấy ngay tác dụng khác nhau giữa chữ té và chữ xoáy: xoáy văn chương hơn, té bình dân hơn; xoáy vô thanh, vô ngã, trong khi té có âm thanh, hình ảnh và chủ thể.
Trích đoạn thứ nhì lộ thêm một khiá cạnh khác trong nghệ thuật thô lậu: Tả vợ, chồng, con, nhà người ta mà Bình Nguyên Lộc bảo là ba cái thây sống, cụt ngủn, xẵng như dùi đục chấm mắm nêm, thêm hai chữ tối ngày đi đoạn hậu như cái nhẩy cẫng: tối ngày khác hẳn suốt ngày mà những người viết văn hay dùng. Bình Nguyện Lộc chuyên xử dụng hình ảnh và âm thanh, mà âm thanh của ông là thứ âm gồ, thanh lạ, ảnh của ông là những ảnh sốc: thây sống, rê cái bụng binh rỉnh... Những nhà văn Bắc như Thanh Tâm Tuyền, Nhật Tiến, Viên Linh... sống trong Nam, cũng bắt chước Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc viết tiếng Nam, nhưng họ chỉ viết được đối thoại, còn về giọng kể, vẫn không thể kể hay như Bình Nguyên Lộc.
Sự khác biệt sâu xa giữa văn lối Bắc và văn lối Nam là người Bắc viết văn, còn người Nam kể truyện. Nhưng phải kể một cách nào đó mới thành tác phẩm.
Hiện thực thô lậu dựa trên sườn chính là giọng kể, kể phải làm sao cho bắt giọng, nghiã là phải có cái giọng tự nhiên thành thật, ăn khớp với tâm tình và bối cảnh mình kể; nếu thành công, sẽ tạo ra một bối cảnh sâu sắc hơn lối viết hiện thực thông thường. Bình Nguyên Lộc có thể hòa đồng giọng đất, giọng nước, giọng cái xa quay, giọng ma, với giọng người.
Văn Nguyễn Ngọc Tư, có nhiều chỗ cũng tạo được cái mạch xuyên suốt, nghiã là giọng người kể, tâm lý nhân vật và đối thoại chập lại thành một: "Con Thủy nói nó không lấy chồng, nó ở vậy đi bán với ba, nó nói mà giọng hơi buồn. Ông Chín nghe rồi như gió ùa về, lòng tự dưng nghe đau xót. Rồi khi hai đứa con gái ông sinh ra những đứa con, chúng lại phải sống cuộc đời lênh đênh như má chúng, ông nghĩ ". (Trích Nhớ sông, trong tập Giao thừa).
Trong trích đoạn trên đây, có vẻ như chỉ có một giọng kể, nhưng thực ra là nhiều giọng chập lại: khi giọng chị, khi giọng người kể, khi giọng cô em, khi giọng ông bố. Lối kể như vậy, tự nó đã tạo mối liên hệ nội tại giữa người kể và các nhân vật, giữa các nhân vật với nhau, khiến cho câu chuyện (mới chỉ qua giọng kể không thôi) đã trở thành một luồng giao tiếp nối nội tại giữa không gian và thời gian, giữa nhân vật và bối cảnh bên ngoài.
Là hậu duệ của một truyền thống văn nói xướng lên từ miệt sông nước, Nguyễn Ngọc Tư đã kể và kể rất hay về những mẩu đời của người dân miệt vườn, về cuộc sống bám với chiếc ghe, con nước của những con người hiền lành cam phận, những tình cảm chân thật, nối liền đất nước với con người.
Nhớ sông có giọng kể giao hoà tâm lý nhân vật với bối cảnh xung quanh:
"Mỗi lần qua sông Cái Lớn, Giang lại nghĩ, chắc tới già, tới chết, mình sẽ chẳng bao giờ rời chiếc ghe nhỏ này đâu. Cũng khúc sông nầy, năm Giang mười tuổi, má Giang chết. Hôm đó, trời mưa nhỏ nhưng gió nhiều, gió bạt tay chèo liêu xiêu. Nước từ vàm sông cuồn cuộn đổ ra. Chiếc ghe bạt nước tấp vô xà lan chở cát. Ông Chín, ba Giang chống đằng mũi, má Giang chống đằng lái. Giang ngồi trong mui ghe, ôm con Thủy vào lòng. Giang thấy rõ ràng, lúc cây sào trong tay má đang chỏi vào thành xà lan trượt hướt lên, má ngã xuống, đầu má đập vào cái gờ sắt, đôi chân còn bíu vào ghe. Rồi má cong lại như chiếc võng, hụp vào sông. Giang khóc điếng, bồng con Thủy lồm cồm bò về đằng sau lái, Giang còn kịp nhìn thấy mái tóc má trôi xùm xoà phiêu phiêu trong làn nước, rồi mất hút". (Nhớ sông)
Cả một dĩ vãng đau thương gợi lại trong giọng kể quê mùa chất phác như tiếng than ơ hờ chẳng ra than, kể mà như khóc không thành tiếng. Sau khi người mẹ chết đuối, một thứ hạnh phúc bất diệt gắn bó ba cha con, vợ với chồng, người với đất, người với nước, người sống với người chết: "Sau nầy, khi vợ chết, không hoàn toàn vì miếng ăn mà cả nhà ông Chín trôi dạt hết dòng sông này đến con kinh kia. Ở đáy con sông nào đó, còn là nơi gởi gắm xương thịt của người đàn bà xấu số - má Giang" Ông Chín ở vậy nuôi con. Đơn thương loay hoay một mình, khi có "vấn đề", ông vẫn tiếp tục "vấn kế" vợ, hỏi vợ, bàn với vợ, tâm sự với vợ, xin lỗi vợ: "Tui biết tính sao bây giờ, bà ơi. Tui tính lầm một lần này rồi". "Bà đã thành nước, thành đất, thành cỏ thành cây, cha con tui ở đâu, xin bà theo đó."
Đời trong Nhớ sông là đời "thuở trước", con người còn nhân nghiã. Một giọng thủy chung. Người cha chung thủy với vợ, người con gái cả chung thủy với sông, nước; người con gái út chung thủy với đất, bờ. Nhớ sông toát ra một bầu không khí thủy chung như nhất trong tình đất tình người.
Thủy chung lại xuất hiện trong truyện "Cái nhìn khắc khoải", chung thủy trong tình bạn tri kỷ giữa con vịt Xiêm, tên Cộc, với ông lão chăn vịt:
" ... ông nói như chỉ nói với mình:
- Mai mốt mình đi nữa hen Cộc?
Con vịt cạp mắt cá chân ông, đi thì đi chớ gì.
- Mày đi hoài, mầy mệt không?
Nó há mỏm đốm đen cạp ngón cái chân ông, thì mệt chớ.
Tao đốn tràm, làm nhà lại, ở luôn nghen". (trích Cái nhìn khắc khoải trong tập Giao thừa).
Hai cô đơn đúc thành một khối: đối thoại câm giữa ông già và con Vịt Xiêm.
Ông già rước người phụ nữ bị phụ bạc ngồi khóc bên sông cho nàng quá giang, ông "thương" người đàn bà lỡ vận. Người miền Nam không dùng chữ Yêu mà dùng chữ Thương. Thương rộng hơn và sang hơn yêu: Thương gói ghém cả yêu lẫn thương. Yêu tỏ được nói được, diễn tả được. Thương không nói được, nhưng cảm được. Nếu nói ra, thương sẽ biến đi. Thương con, thương chồng, không nói. Nói ra là vô nghĩa. Ngọc Tư đã diễn tả được những âm thầm, nín lặng ấy, bằng cử chỉ, bằng hơi thở, bằng ánh mắt, bằng những điều không nói trong những truyện ngắn hay của chị. Ngọc Tư đã viết về những mảnh đời lam lũ chân thật với giọng đặc biệt miệt vườn của mình, đã đưa ra được những sâu lắng, những chân thật, những chung thủy, đơn chiếc, trong lòng người dân quê miền Nam, đôn hậu, và gắn bó với sông nước.
***
Trong Cánh đồng bất tận Nguyễn Ngọc Tư đã tìm một lối viết khác, như để đoạn tuyệt với lối cũ:
Chủ đề đã chuyển từ chung thủy sang ngoại tình, từ yêu thương sang tàn nhẫn, từ một xã hội nhân bản sang một xã hội dã man, hung bạo. Sự thay đổi chủ đề chứng tỏ Ngọc Tư can đảm, dám đi vào xã hội hiện tại, dám viết về bộ mặt tiêu cực của nó, và đó là lý do chính khiến cho truyện của chị bị kiểm thảo, bị lên án gắt gao, bởi Ngọc Tư là một ngòi bút Nam, gốc "ngụy".
Về mặt bút pháp, trong những trang đầu, chị đã bỏ giọng kể đặc biệt theo lối Nam, đây cũng là một cố gắng khác của chị, nhưng cố gắng này có đôi điều cần bàn lại, vì nó gây thương hại đến nghệ thuật của tác phẩm.
Tuy giọng kể là giọng người chị, nhưng đã chuyển sang một "ton neutre", vô sắc, vô cảm, không phải là giọng quê mùa của người con gái thất học từ bé đến lớn sống trên sông nước nữa:
"Con kinh nhỏ nằm vắt qua một cánh đồng rộng. Và khi chúng tôi quyết định dừng lại, mùa hạn hung hãn dường như cũng gom hết nắng đổ xuống nơi này. Những cây lúa chết non trên đồng, thân đã khô cong như tàn nhang chưa rụng, nắm vào bàn tay là nát vụn. Cha tôi tháo cái khung tre chắn dưới sàn ghe, bầy vịt lúc nhúc chen ra, cuống quýt, nháo nhào quẫy ngụp xuống mặt nước váng phèn. Một lớp phèn mới, vàng sẫm quánh lại trên bộ lông của những con vịt đói, nhớp nháp bám lên vai Điền khi nó trầm mình bơi đi cặm cọc, giăng lưới rào bầy vịt lại. Tôi bưng cái cà ràng lên bờ, nhóm củi"
Một giọng "chuẩn", rất văn chương, mà lại là giọng tả cảnh "lối Bắc" của một người khá sành sỏi, có chất thành thị (nhiều chỗ dùng những từ thời thượng như trầm nghịch, ảo giác, miên viễn, hoang dã...). Nếu không có hai chữ cà ràng, thì không thể biết cảnh này ở đâu: giọng văn mới này đã xoá cái "không khí" sông lạch, miệt vườn. Nhưng cái "không khí" đó chính là cái mà Bakhtine gọi là Thời không gian (Chronotope) trong tiểu thuyết. Thời không gian trong tiểu thuyết của Flaubert là tỉnh lỵ; thời không gian trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh là Hà Nội, Yên Tử, thời Trần mạt. Thời không gian trong Cánh đồng bất tận là vùng lục tỉnh ngày nay. Khi Ngọc Tư biến giọng kể của một cô gái miệt vườn thành một giọng lơ lớ thành thị, lơ lớ Bắc, thì chị đã làm nhạt không khí truyện, khiến người đọc bị lạc. Một mất mát đáng tiếc, có thể tránh được.
Tại sao giọng kể của Ngọc Tư lại biến đổi? Vì chị muốn "Bắc hoá" giọng văn của mình chăng? Vì chị muốn dùng chữ cho "chuẩn" chăng? Nếu quả như vậy, thì sự "thống nhất ngôn ngữ" đang đi trong chiều đáng ngại: nó đẩy nhà văn đến chỗ chối bỏ bản ngã của mình. Trái ngược với thời điểm sau 1954, các nhà văn Bắc di cư vào Nam, ngoài giọng văn Bắc, họ còn tập viết đối thoại tiếng Nam và họ đã làm giầu thêm ngôn ngữ của họ: văn chương luôn luôn cộng vào, khi trừ là mất đi.
Nhưng oái oăm là với cái giọng mới này, Ngọc Tư chinh phục được nhiều độc giả Bắc, phần đông thích đọc giọng chuẩn hơn giọng miền, và đó là lý do khiến cho Cánh đồng bất tận trở thành tác phẩm được đọc, được mến mộ nhất trong năm qua.
Ngoài sự đổi giọng đáng trách ở những trang đầu, dần dần, Ngọc Tư tìm lại được không gian trăng nước cũ và Cánh đồng bất tận trở nên lôi cuốn hơn, xứng đáng được yêu chuộng, bởi đây là một tác phẩm hay. Trái ngược với Giao thừa, nhẹ nhàng viết về thời trước, Cánh đồng bất tận phũ phàng đi vào thực tại xã hội hôm nay, trình bày những nhân vật thui, chột, đui, mù cả thể xác lẫn tâm hồn, những con người đã bị những bi kịch trong quá khứ làm cho tê liệt, không còn khả năng yêu thương, xúc cảm.
Một người đàn bà làm điếm bị hành hung một cách dã man. Người đàn bà vượt thoát, chạy xuống chiếc ghe của ba cha con sống trên thuyền, làm nghề chăn vịt, đang đỗ trên bến. Sự tàn ác trong màn đầu thực ra chỉ để mở màn cho những bi kịch khác, sâu hơn, tiềm ẩn trong gia đình ba cha con: bi kịch của người đàn ông bị vợ phụ bạc, tìm cách trả thù tàn nhẫn trên những người đàn bà khác.
Đi vào bối cảnh đời sống xã hội hiện tại, Ngọc Tư dường như còn đang bỡ ngỡ: thảm kịch của người phụ nữ làm điếm bị "làng" xử: đổ keo dán sắt vào cửa mình hơi gượng ép, tựa như một thảm kịch thời phong kiến, khó tưởng tượng ở thời nay (mặc dù có thể đã xẩy ra). Chính cái vụng về của tác giả đã làm cho người ta có cớ trù ép tác phẩm; nhưng một mặt nó lại gây háo hức trong lòng một quần chúng đọc đang cần một cái gì mạnh mẽ, một tác phẩm kịch liệt lên án xã hội, bởi những tác phẩm như thế đang quá hiếm trong văn học (được chính thức in ấn) ở Việt nam.
Cái hay của tác phẩm chìm lắng và thâm trầm hơn: Mầm chính của bi kịch là hận thù. Người cha trong truyện là một phóng ảnh của hận thù mù quáng, hận thù khôn nguôi, hận thù tàn phá hạnh phúc và lẽ sống của con người. Từ việc vợ bỏ nhà theo trai, ông xây dựng cuộc đời còn lại trên sự trả thù: ông tàn phá tất cả những người đàn bà khác đến sau người vợ. Đóng kín trong lãnh cảm, ông quay mặt với các con, không thèm biết tuổi thơ của chúng, biến chúng thành những chòi măng thui chột, bệnh hoạn.
Hai chị em bị bỏ bê, như thuyền không lái, rịt lấy nhau trong một thứ trực giác hoang dại: tự mày mò chống lại những yếu kém tinh thần, tự dạy dỗ nhau, tự bảo vệ nhau, tự trấn những dồn nén, đòi hỏi của cơ thể. Hai chị em như những đứa trẻ bị bỏ hoang trên bãi chiến trường nguyên thủy, chúng chơi với những hố bom già, em hỏi chị: "người ta thương mẹ ra làm sao?", chúng phải tưởng tượng ra tình yêu, chúng phải sáng tác ra da thịt, chúng thiếp đi trong những cơn mộng mị "nằm co quắp, hai tay kẹp giữa đùi".
Người đàm bà điếm, với sức sống mãnh liệt, với tấm lòng trắc ẩn sâu xa, là nhân tố duy nhất có thể đem lại cân bình cho cuộc sống ba cha con, nhưng chị đã thất bại: hận thù vẫn ngự trị trong trái tim khô héo của người cha, không cách gì tẩy được.
Qua phông nền ấy, con đò Ngọc Tư xuôi vào đời sống hiện tại mà những giá trị đạo đức đã bị đảo ngược, để khuấy lên bộ mặt chìm của một xã hội mà hận thù, sau hơn ba mươi năm chiến tranh chấm dứt, vẫn còn làm chủ; mà sự tàn nhẫn, không nhân nhượng trở thành nội dung cuộc sống hàng ngày, mà môi trường sa ngã trong dịch cúm, dịch tham nhũng; với những tâm hồn không thông cảm nhau, cha con đứt đoạn như những kẻ xa lạ, với những con người bán trôn nuôi miệng bị xã hội hành hung, với những hạnh phúc chưa kịp nẩy sinh đã bị tiêu diệt.