Sài Gòn những ngày mưa thiệt là ... hết chịu nổi! Đường xá mà cứ tưởng những dòng kênh đen đen, hết còn cái cảnh “con đường có lá me bay, chiều chiều ta lại cầm tay nhau về”. Bực mình hơn nữa, trời đang nắng bất ngờ đổ mưa, cơn mưa không hề hẹn trước bằng những đám mây đen kịt như lẽ thường tình. Nếu mưa gọi là lất phất hay nho nhỏ thì ta cứ tiếp tục vù vù, mưa bự hơn thì... thì tìm mái hiên nào mà núp chứ sao! Còn bữa nào có chuyện nhức đầu thì... mưa cũng như không mưa. Dzìa tới nhà mới bừng tỉnh vì mẹ ta đã đón chào: “Trời ơi, tui nuôi nó lớn sức dài dzai rộng để nó dầm mưa ướt mẹp dzậy đó!”
Sài Gòn sáng Chủ nhật xưa đi nghe nhạc kèn trước cửa Nhà hát thành phố. Người già, con nít, thanh niên gì cũng có... Thử tưởng tượng có một ngày, ta chỉ tình cờ ghé ngang và kiếm một chỗ cho mình ở đó, tự nhiên có một em không đẹp rực rỡ, không thời trang lắm, cũng không lót thêm dưới gót chân một khối gỗ nhọn hoắt... em khều mình để tìm một sự đồng tình nho nhỏ: “Nhạc hay hen!”. Trong khi ta chưa kịp gật đầu để ra vẻ đồng ý thì... “thử ngửa mặt nhìn lên trời một chút đi” rồi ta chỉ kịp nghe tiếp những “phát súng liên thanh”: “nhìn lên tự hiên thấy trời xanh mây trắng trên đầu, tự nhiên thấy yêu đời thiệt! Tụi mình thiệt hạnh phúc vì còn tai để nghe nhạc, có mắt để nhìn trời mây, có xe để đi long rong, có tiền trong túi để đi uống cà phê... Hạnh phúc quá bà hen!”. Trời, nghe câu cuối này ta mới biết, thì ra không phải em nói cho mình nghe – em đang nói với bạn em đó mà! Nhưng mà trời ơi, em dễ thương quá! Nghe giọng em thì biết là con gái Sài Gòn 100%...
Sài Gòn với những quán điện tử để ta và tụi bạn thử tay nghề mỗi khi rảnh rỗi... Khu cư xá Bắc Hải ngày đó là địa chỉ thường trú của ta. Có những ngày chơi đến mờ mắt, mẹ kêu cách nào cũng không chịu về ăn cơm. Con dế trong túi áo cứ tít tít liên tục làm thằng kế bên nó “quạo”... Rồi ta nhận điện thoại của em... Em tới. Và ta cũng nhất quyết không về. Vậy mà hay! Biết thằng nào có cái sung sướng như ta, chơi game mà còn có em ngồi kế bên chờ!
Sài Gòn những buổi nào ta đi nhậu chung với đám bạn chí cốt... Người Sài Gòn làm cũng dữ mà nhậu cũng tới bến. Chiều chiều thử đi dzòng dzòng phố phường mà coi... bà con mình nhậu đủ kiểu: nhà hàng cao cấp có, nhà hàng vỉa hè có, nhà hàng dở dở ương ương cũng có, nhậu từ món ngon vật lạ cho tới cóc, ổi, me, xoài... chỉ cần có chút mồi với cái thứ cay cay là bàn nhậu cũng rôm rả. Giờ thì có đủ thứ bia để lựa chọn, nhè nhẹ thì Heiniken, nặng thì Tiger, uống chơi chơi thì bia Sài Gòn chính hiệu xanh-đỏ, còn cái Foster bia phong cách Úc gì đó - quảng cáo thì thấy dzui dzui chứ dân Úc thứ thiệt đâu có nghiện bia này! Lúc quởn thì cũng hay rủ vài đứa đi uống bia Đức,bia Tiệp đầy rẫy trong thành phố... Còn có một chuyện nghe từ ông bạn “già”: đời sinh viên của ổng gắn liền với bàn nhậu, ông í có hứa chừng nào tao có “bồ” thì tao bỏ nhậu. Ai ngờ ổng có thiệt! Bi giờ nhậu với bạn bè thì ít mà nhậu với người iêu thì nhiều! ... Có lẽ ở một phương trời nào đó, mấy tiếng cụng ly cốp cốp rồi kèm theo tràng “Dzô! Chăm phần chăm!” cũng làm mủi lòng kẻ xa Sài Gòn... Nguyễn Duy có mấy câu thơ mà chắc dân nhậu nghe đọc sẽ khoái chí lắm!
“Qua nghĩ chán sống nghĩa là xả láng
Ăn hết nhiều chứ ở hết bao nhiêu!
Nhà cửa tà tà che lá dừa lá mía,
Nón áo khỏi lo nhưng nhậu phải đều đều “
Những ngày xưa yêu dấu
Nhà tôi ngay chợ Bàn Cờ
Con đường nhỏ, tên Bàn Cờ dễ thương
Những ngày đó, cứ nhớ hoài
Mùi thơm mực tím trong bài Giáo Khoa
Nhớ sao là những hàng quà
Cổng trường, bánh cuốn hay là bánh kem
Trôi qua ngày tháng êm đềm
Những chiêù đi bắt dế mèn đá chơi
Tạt hình, la hét om trời
Bắn bi, nút phéng, ơi vui kể gì
Nhà tôi vốn gốc bắc kỳ
Lũ con nít chọc nhiêù khi mích lòng
Chúng kêu là "bắc kỳ con"
Rồi đòi bắt "bỏ vô lon" cho đầy
Đánh nhau tại "Cá rô cây"
Bây giờ nhớ lại, thường hay tức cười
Nhớ sao khẩu súng đâù đời
Cuốn bằng giâý trắng, vụng ơi vụng là
Tuổi thơ xa đã bao năm
Một thời thơ âú vẫn hằn trong tim
Tìm đâu được thưở thơ ngây
Được chăng những lúc êm đềm khi xưa …
Mượn tạm tên một bài hát (mà ta không nhớ là ai hát nữa) để nói về một thời quậy như quỷ sứ của ta và đám bạn chung xóm. Hơn hai mươi năm trước, cái xóm nhỏ ấy đâu có bao nhiêu nhà. Đất đai hồi đó ... một chỗ đồng không mông quạnh như chỗ ta ở, đêm đêm nghe tiếng ếch nhái rõ mồn một - trị giá có 2 chỉ một lô. Giờ thì 20 – 30 triệu gì đó một m2. Mắc cứa cổ! Làm ta tiếc hùi hụi, phải chi hồi xưa ba mẹ ta mua luôn mấy lô thì đỡ quá! Mà thôi, chuyện đất đai hông phải là chuyện ta muốn bàn ở đây vì ta không làm nghề cò nhà đất. Những ngày đó, ta và mấy thằng hàng xóm quậy tưng bừng: chơi quay ( ngoài Bắc gọi là chơi gụ) – tới phiên thằng nào tang quay là tụi nó táng thẳng cánh cò bay, đố thằng nào can đảm đứng gần, mắc công ôm mặt mà không được khóc huhu như đám con gái; cái trò bắn bi hình như là trò mà xóm ta đứng vô hàng thiện nghệ. Hồi ấy, có một thằng nhà giàu dọn tới gần xóm. Nó khoe khoang hết chỗ nói, có nhiều tiền nên nó có nhiều bi - vậy mà nó cũng tự hào. Chân lý của của những bi thủ đích thực là phải chiến đấu bằng mấy đầu ngón tay cộng thêm mấy cục bi “chiến” của mình. Nó không hiều điều này nên bị “dập” là lẽ đương nhiên. Nếu không sớm dọn đi chỗ khác, có lẽ nó sẽ tốn tiền mua bi dài dài vì cỡ nó thì chỉ xếp vô hàng đệ tử nhập môn!
Có ai mà không biết cái cà kheo chứ! Vấn đề là có ai giống tụi xóm ta, nghĩ ra trò dùng cà kheo làm phương tiện di chuyển... nó gần như là một phong trào lúc đó... đứa nào cũng có một cặp cà kheo trừ đám con gái... Đi qua nhà đứa nào trong xóm chơi, tụi nó cũng vác chiến mã của mình ra; tới nhà người ta, tụi nó lí lắc tìm một “chỗ đậu” cho chiến mã. Chuyện cầm nhầm chiến mã của đứa khác rất hi hữu vì cặp cà kheo nào cũng có dấu hiệu riêng hết, giống như bảng số xe dzậy đó...
Hình như con nít đứa nào cũng khoái trời mưa... Tắm mưa là cái thú dzui từ hồi nào hổng biết. Hễ trời mưa là tụi nó í ới réo nhau ra đường. Đứa nào gọi là “nhóc nhóc, chưa có nhận thức cao cấp” thì cứ “cuổng trời” thoải mái...
Nếu tắm mưa là chuyện mà tụi con nít nào cũng cực kì khoái thì con nít xóm này lại khoái chơi trò kéo co,rồng rắn lên mây trong những ngày mưa.Giành giật nhau,đuổi bắt nhau,rồi té lăn đùng ra đó… Chân tay trầy trụa là chuyện cơm bữa...Chưa kể những trận “thư hùng” vì tranh cãi nhau kẻ thắng người thua.Và thế rồi thề “cạch mặt” nhau suốt đời…Nhưng rồi có lâu được đâu khi ngày mưa tiếp theo lại vừa kéo đến…
Vì xóm đông con trai, ít con gái nên nhỏ em ta cũng luyện món bắn bi. Xét trong phạm vi con gái thì nó thuộc hàng hảo thủ, con trai như kiểu thằng nhà giàu không thể là đối thủ của nó. Tuy nhiên, nhỏ lại sành chuyện bẻ trộm hoa nhất. Mấy cái bông, cái lá bứt về sẽ được tụi con gái đem ra chơi bán đồ hàng. Thi nấu ăn.Ôi thôi đủ thứ món: hủ tiếu xào, phở gà, phở bò, bánh cuốn (có thịt và không thịt đàng hoàng)... Có lần, nó đang thò tay qua hàng rào nhà người ta bứt mấy cái bông vàng anh thì sau lưng có tiếng hỏi: "con bứt bông làm chi dzậy con?". Nó tỉnh bơ vừa bứt vừa trả lời mà hông thèm quay lại nhìn coi ai: "con đem dzề chơi nấu ăn,bán đồ hàng". "Con muốn bứt thì xin bác chứ đứng cheo leo như dzậy coi chừng lọt xuống mương nha con". Thì ra nó bứt theo kiểu giang hồ nửa mùa, bứt lén mà hổng thèm tìm hiểu trước hay quan sát hiện trường.
Con nít bi giờ không biết sướng hơn hay thiệt thòi hơn con nít hai mươi năm trước. Nhưng dĩ nhiên là khác nhau nhiều! Tụi nó không biết con quay,con gụ là cái gì, cũng ít đứa nào biết bắn bi, tạt dép, cà kheo... Tụi nó cũng đâu còn nếm được cái hồi hộp, thích thú, dzui nứt trời khi một đám nhóc cùng rủ nhau đi bẻ trái nhà hàng xóm, đi giựt bánh trái mỗi lần người ta cúng cô hồn... mà có lẽ khổ nhất là con nít Sài Gòn giờ phải học nhiều quá, nhiều mà hổng biết hiểu bi nhiêu???
................................................................................................................................................................
Ở những nền giáo dục tiên tiến như phương Tây, giới "nhất quỷ nhì ma" cũng sáng tạo ra những cách giải toán hết sức độc đáo, khiến không ai có thể nhịn được cười.
1. Khai căn
Cách khai căn mà các thầy cô giáo chắc cũng không nghĩ ra nổi.
2. Khai triển nhị thức
Yêu cầu của đề bài là "Expand", nghĩa là "khai triển", nhưng còn một nghĩa khác của từ này là "mở rộng". Xét theo nghĩa đó, thì cậu học sinh này đã làm rất tốt yêu cầu mà đề bài đặt ra.
3. Tìm x
"X ở ngay đây, còn phải tìm gì nữa. Đề bài này buồn cười quá". Có lẽ bạn học sinh này nghĩ như vậy khi nhìn thấy đề bài.
4. Tính sin x
Bài học về cách "triệt tiêu" được áp dụng một cách "triệt để".
5. Toán khó
Khó thế này khác gì treo cổ người ta.
6. Tính giới hạn
Giới hạn từ x-8 cho kết quả là một số 8 ngược (dương vô cực). Từ đó suy ra...
Bắc bảo kỳ, Nam kêu cọ (gọi là Kỳ Cọ)
Bắc gọi lọ, Nam kêu chai
Bắc mang thai, Nam có chửa
Nam xẻ nữa, Bắc bổ đôi
Ôi! Bắc quở gầy, Nam than ốm
Bắc cáo ốm, Nam khai bịnh
Bắc định đến muộn, Nam liền la trễ
Nam mần Sơ Sơ, Bắc nàm Nấy Nệ
Bắc lệ tuôn trào, Nam chảy nước mắt
Nam bắc vạc tre, Bắc kê lều chõng
Bằc nói trổng thế thôi, Nam bâng quơ vậy đó
Bằc đan cái Rọ, Nam làm giỏ Tre
Nam không nghe nói dai, Bắc chẳng mê lải nhải
Nam cãi bai bãi, Bắc lý sự ào ào
Bắc vào ô tô, Nam vô xế hộp
Hồi hôp Bẳc hãm phanh, trợn tròng Nam đạp thắng
Khi nắng Nam mở dù, Bằc lải xòe ô
Điên rồ Nam đi trốn, nguy khốn Bắc lánh mặt
Chưa chắc Nam nhắc từ từ, Bắc khuyên gượm lại
Bắc là quá dại, Nam thì ngu ghê
Nam sợ ghê, Bắc hãi quá
Nam thưa tía má, Bẳc bẩm thầy u
Nam nhủ ưng ghê, Bằc mê hài lòng
Nam chối lòng vòng, Bắc bảo dối quanh
Nhanh nhanh Nam bẻ bắp, hấp tấp Bắc vặt ngô
Bắc thích cứ vồ, Nam ưng là chụp
Nam rờ bông bụp, Bắc vuốt Tường Vi
Nam nói: mày đi! Bắc hô: cút xéo
Bắc bảo:cứ véo, Nam:ngắt nó đi
Bắc gửi phong bì, bao thơ Nam gói
Nam kêu: muốn ói, Bắc bảo: buồn nôn
Bắc gọi tiền đồn, Nam kêu chòi gác
Bắc hay khoác lác, Nam bảo xạo ke
Mưa đến Nam che, gió ngang Bắc chắn
Bắc khen gỏi mắng, Nam nói chửi hay
Bắc nấu thịt cầy, Nam thui thịt chó
Bắc vén búi tó, Nam bới tóc lên
Anh Cả Bắc quên, anh Hai Nam lú
Nam: ăn đi chú! Bắc mời anh xơi!
Bắc mới tập bơi, Nam thời đi lội
Bắc đi phó hội, Nam tới chia vui
Thui thủi Bằc kéo xe lôi, một mình xích lô Nam đạp
Nam thời mập mạp, Bắc cho là béo
Khi Nam khen béo, Băc bảo là ngậy
Bắc quậy sướng phê, Nam rên đã quá
Bắc khoái đi phà, Nam thường qua bắc
Bắc nhắc môi giới, Nam liền giới thiệu
Nam ít khi điệu, Bắc hay làm dáng
Tán mà không thật, Bắc bảo là điêu
Giỡn hớt hơi nhiều, Nam kêu là xạo
Bắc nạo bằng gươm, Nam thọt bằng kiếm
Nam mê phiếm, Bắc thích đùa
Bắc vua bia bọt, Nam chúa la-de
Bắc khoe bùi bùi lạc rang, Nam: thơm thơm đậu phọng
Bắc xơi Na vướng họng, Nam ăn Mãng Cầu mắc cổ
Khi khổ Nam tròm trèm ăn vụng, Bắc len lén ăn vèn
Nam toe toét "hổng chịu đèn", Bắc vặn mình "em chả"
Bắc giấm chua "cái ả", Nam bặm trợn "con kia"
Nam mỉa "tên cà chua", Bắc rủa 'đồ phải gió"
Nam nhậu nhẹt thịt chó, Bắc đánh chén cầy tơ
Bắc vờ vịt lá mơ, Nam thẳng thừng lá thúi địt
Khi thấm, Nam xách thùng thì Bắc bê sô
Nam bỏ trong rương, Bắc tuôn vào hòm
Nam lết vô hòm, Bắc mặc áo quan
Bắc xuýt xoa "Cái Lan xinh cực!"
nam trầm trồ "Con Lan đẹp hết chê"
Phủ phê Bắc trùm chăn, no đủ Nam đắp mền
Tình Nam duyên Bắc có thế mới bền mới lâu...
(sưu tầm)
Đi lang thang trên mạng, thấy cái ni của Cao Chánh Cương cũng hay hay nên lôi zìa nghiên kíu. Một phần "cải thiện" bớt tình trạng sai lỗi "trính tả" trầm trọng của mình...
Dấu "Hỏi Ngã" Trong Văn Chương Việt Nam
Dấu hỏi ngã được căn cứ vào ba qui luật căn bản: Luật bằng trắc, chữ Hán Việt và các qui luật ngoại lệ.
A. LUẬT BẰNG TRẮC
Qui luật bằng trắc phải được hiểu theo ba qui ước sau.
1. Luật lập láy
Danh từ lập láy tức là một chữ có nghĩa nhưng chữ ghép đi theo chữ kia không có nghĩa gì cả. Thí dụ: vui vẻ, chữ vui có nghĩa mà chữ vẻ lại không nghĩa, chữ mạnh mẽ, chữ mạnh có nghĩa nhưng chữ mẽ lại không hề mang một ý nghĩa nào hết, hoặc chữ lặng lẽ, vẻ vang...
2. Luật trắc
Không dấu và dấu sắc đi theo với danh từ lập láy thì chữ đó viết bằng dấu hỏi (ngang sắc hỏi).
Thí dụ:
Hớn hở: chữ hớn có dấu sắc, thì chữ hở phải là dấu hỏi.
Vui vẻ: chữ vui không dấu, thì chữ vẻ đương nhiên phải dấu hỏi.
Hỏi han: chữ han không dấu, như thế chữ hỏi phải có dấu hỏi.
Vớ vẩn: chữ vớ là dấu sắc thì chữ vẩn phải có dấu hỏi.
Tương tự như mắng mỏ, ngớ ngẩn, hở hang, ...
3. Luật bằng
Dấu huyền và dấu nặng đi theo một danh từ lập láy thì được viết bằng dấu ngã (huyền nặng ngã).
Thí dụ:
Sẵn sàng: chữ sàng có dấu huyền thì chữ sẵn phải là dấu ngã.
Ngỡ ngàng: chữ ngàng với dấu huyền thì chữ ngỡ phải để dấu ngã.
Mạnh mẽ: chữ mãnh có dấu nặng, do đó chữ mẽ phải viết dấu ngã.
Tương tự như các trường hợp lặng lẽ, vững vàng,...
B. CHỮ HÁN VIỆT
Văn chương Việt Nam sử dụng rất nhiều từ Hán Việt, chúng ta hay quen dùng hằng ngày nên cứ xem như là tiếng Việt hoàn toàn. Thí dụ như các chữ thành kiến, lữ hành, lãng du, viễn xứ, ... tất cả đều do chữ Hán mà ra.
Đối với chữ Hán Việt được sử dụng trong văn chương Việt Nam, luật về đánh dấu hỏi ngã được qui định như sau:
Tất cả những chữ Hán Việt nào bắt đầu bằng các chữ D, L, V, M và N đều viết bằng dấu ngã, cá chữ Hán Việt khác không bắt đầu bằng năm mẫu tự này sẽ được viết bằng dấu hỏi.
Thí dụ:
Dĩ vãng: hai chữ này phải viết dấu ngã vì dĩ vãng không những là hán tự mà còn bắt đầu bằng chữ D và V.
Vĩ đại: vĩ có dấu ngã vì chữ vĩ bắt đầu với mẫu tự V.
Ngẫu nhiên: chữ ngẫu dấu ngã vì áp dụng qui luật Hán Việt nói trên.
Lẽ phải: lẽ dấu ngã vì chữ L, phải dấu hỏi vì có chữ P.
Tư tưởng: chữ tưởng phải viết dấu hỏi vì vần T đứng đầu.
Tương tự như: lữ hành, vĩnh viễn,...
Để thể nhớ luật Hán tự dễ dàng, chúng tôi đặt một câu châm ngôn như thế này:
"Dân Là Vận Mệnh Nước"
để dễ nhớ mỗi khi muốn sử dụng qui luật Hán tự nói trên.
C. CÁC QUI ƯỚC KHÁC
1. Trạng từ (adverb)
Các chữ về trạng từ thường viết bằng dấu ngã.
Thí dụ:
Thôi thế cũng được. Trạng từ cũng viết với dấu ngã.
Xin anh đừng trách em nữa. Trạng từ nữa viết với dấu ngã.
Chắc anh đã mệt lắm rồi. Trạng từ đã viết với dấu ngã.
2. Tên họ cá nhân và quốc gia
Các họ của mỗi người và tên của một quốc gia thường được viết bằng dấu ngã.
Thí dụ:
Đỗ đình Tuân, Lữ đình Thông, Nguyễn ngọc Yến...
Các chữ Đỗ, Lữ, Nguyễn đều viết bằng dấu ngã vì đây là danh xưng họ hàng.
Nước Mỹ, A phú Hãn,...
Các chữ Mỹ và Hãn phải viết bằng dấu ngã vì đây là tên của một quốc gia.
3. Thừa trừ
Một qui ước thừa trừ ta có thể dùng là đoán nghĩa để áp dụng theo luật lập láy và bằng trắc nói trên.
Thí dụ:
Anh bỏ em đi lẻ một mình. Chữ lẻ viết dấu hỏi vì từ chữ lẻ loi mà ra, chữ loi không dấu nên chữ lẻ viết với dấu hỏi.
Anh này trông thật khỏe mạnh, chữ khỏe ở đây có dấu hỏi vì do từ khỏe khoắn mà ra, khoắn dấu sắc thì khỏe phải dấu hỏi.
D. KẾT LUẬN
Văn chương là linh hồn của nền văn hóa, viết sai dấu hỏi ngã có thể làm sai lạc cả câu văn, đó là chưa kể đến nhiều sự hiểu lầm tai hại cho chính mình và người khác cũng như các việc trọng đại. Không gì khó chịu cho bằng khi đọc một cuốn truyện hay nhưng dấu hỏi ngã không được chỉnh tề.
Một ký giả người miền Nam trong câu chuyện thân mật tại một quán phở thuộc vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn đã thành thật công nhận điều thiếu sót và tầm quan trọng của dấu hỏi ngã trong văn chương Việt Nam. Và cũng chính vị ký giả lão thành nói trên đã khuyến khích chúng tôi viết bài này trong mục đích làm sống lại sự phong phú của nền văn chương, văn hóa Việt Nam chúng ta, nhất là đối với những thế hệ trẻ hiện đang lưu lạc trên xứ người.
Kính thưa ban tổ chác,
Kính thưa các vị khách mời,
Kính thưa quý vị đại biểu và toàn thể thần dân Thi Ẩm lầu
Hôm nay, 30 tháng 9 năm 2011, được sự nhất trí của ban tổ chác và sự đồng thuận của các cấp ủy đảng chính quyền Thành phố Đà Nẵng, ban cấm khẩu chúng tôi gồm :
- Đồng chí Hớ Thiệt thi vương, chủ tịch ban tổ chác kiêm cấm khẩu viên vòng sơ loại
- Đồng chí Bốn Lành, chính tổng cấm khẩu
- Và tôi, HVN, trợ lý cấm khẩu
Xin long trọng tuyên bố :
Lễ Tổng kết "Event Sinh Nhật TAL – Chủ đề Hội Ngộ" bắt đầu
Sau rất nhiều ngày đêm căng thẳng bên bàn đèn, nghiên cứu từng câu từng chữ, phân tích từng ý thơ, tranh luận từng vần từng nhịp, ban cấm khẩu chúng tôi đã đi đến quyết định cuối cùng về kết quả cuộc thi, như sau :
Giải đặc biệt được trao cho Bài thơ ba phần tư của tác giả Lãnh Diện Thi Thánh
"Nếu trái đất ba phần tư là nước" thì bài thơ này có ba phần tư là cảm xúc. Không ai gắn bó với Thi ẩm lầu trong thời gian dài mà không xúc động khi đọc những dòng thơ của Thi thánh. Tác giả đã chọn thể tự do để thoải mái phơi bày tất cả những gì riêng tư thầm kín nhất của ông mà không bị các luật lệ ràng buộc gò bó, nhờ thế, tính cách phóng đãng của ông đã thể hiện một cách triệt để trong suốt mạch bài thơ.
Nhận xét về phần thi này, Thi vương phán : "Bài thơ với những quãng ngắt nhịp gây hiệu ứng cảm xúc khá đặc biệt. Đọc những câu cuối, chính tôi cũng không kìm được cảm xúc của mình!". Như thế, chúng ta có thể thấy sức cảm hóa của tác phẩm này quả là vĩ đại, khiến cho một người cùng đẳng cấp với Thi thánh phải dẹp bỏ hết những đố kị về tài năng để thốt lên lời tán thưởng. Mị lực của nghệ thuật chân chính thật ghê gúm biết bao!
Các giải Nhất, Nhì và Ba lần lượt được trao cho những tác giả/tác phẩm sau :