Lần đầu
Lần đầu lạc bước chốn đây
Hoa thơm bướm lượn tràn đầy tiếng thơ
Làm ta nửa tỉnh, nửa mơ
Phải chăng đây chốn đợi chờ bấy lâu
Thôi thì viết tạm đôi câu
Gọi là ra mắt lần đầu với Thi
Mong Cô, Chú, Bác, Mợ, Dì
Chút lòng thơm thảo vơi đi nỗi sầu...
Xuân Thanh
17/09/2012
Trong Cơn Ảo Say
Lạc bước Thi Lâu mộng viễn du
Thiên thai điệu nhạc thoảng vi vu
Huyền hư má phấn trăng tàn ánh
Huyễn hoặc hồng nhan nguyệt bóng lu
Ngắm nhạn hơi sương phơi nổi chữ
Uyển chuyển thơ ngây trọn tuổi tròn
Nhìn em bụi cát nổi khơi từ
Kiêu sa tọa lạc đỉnh thu sơn
Thi nhân trực mộng miên man sắc
Lữ khách tầm mơ khắc khoải hồn
Bóng nước soi hình mềm liễu thắm
Lưng mây điểm dáng ửng đào non
Chao ơi má phấn vườn xuân đấy
Chạm lá khua cành gió véo von.
Thơ say rượu ủ mềm đôi lứa
Tay võng vọng tình lả gối ru.
Off Thi Ẩm 16.09.12
![[Hình: IMG_20120916_211038.jpg]](https://lh5.googleusercontent.com/-qQlaLJnSFgg/UFYBB8mZ3YI/AAAAAAAAJtI/SitDF1vtchA/s987/IMG_20120916_211038.jpg)
Lai rai Phố
![[Hình: IMG_20120913_175337.jpg]](https://lh3.googleusercontent.com/-1INkO604tDk/UFG74__EfSI/AAAAAAAAJlM/j2J2MVKA-N0/s701/IMG_20120913_175337.jpg)
![[Hình: IMG_20120913_175414.jpg]](https://lh4.googleusercontent.com/-wmFP-pGIeAU/UFG8AVAhWgI/AAAAAAAAJls/g9BjKNbwhpQ/s701/IMG_20120913_175414.jpg)
Quên và Nhớ
TƯỞNG RẰNG ĐÃ QUÊN
Tưởng rằng đã quên...nào ngờ ta vẫn nhớ
Nỗi nhớ ngọt ngào...thẫm thấu cả tâm can
Thầm khóc thương cho duyên kiếp lỡ làng
Đêm không lạnh mà sao lòng buốt giá
Tưởng rằng đã quên khi đôi người đôi ngã
Chứ nào ngờ tình chẳng thể nhạt phai
Ai tương tư thao thức suốt đêm dài
Ai lặng lẽ đếm buồn trong tiếc nhớ
Tưởng rằng đã quên cho cuộc tình lầm lở
Sẽ quên người cách trở đến trăm năm
Nào có hay dù muôn kiếp xa xăm
Ta vẫn mãi nhớ thương người tha thiết
Tưởng rằng đã quên khi nói lời chia biệt
Tưởng quên rồi...sao vẫn nhớ người ơi !
Ngỡ sẽ quên cho đến hết cuộc đời
Quên lại nhớ...thế mà ta cứ tưởng...
Một nửa nhân gian ngự chốn này!
![[Hình: 1368012384650.jpg]](http://sohanews2.vcmedia.vn/2013/1368012384650.jpg)
Thái Nhã Vân
Mưa ướt đường xưa
"Từ thủa em sang ngang
Đường về tôi lặng bước
Trời mưa chân đẫm nước
Thương phận mình long đong"
Em đi rồi bỏ mặc cả trời mưa
Cả cơn gió miên man bờ cỏ dại
Giấc mơ tình mười năm không viết lại
Cõi hoang vu bao mộng ước xa vời
Xót thương gì thân phận bọt bèo trôi
Dòng sông nhỏ oằn mình trong mộng ước
Mái chèo khua đẩy con thuyền lả lướt
Như đi tìm những hoài niệm đơn côi
Con đường ngày xưa thay đổi lắm rồi
Mưa tầm tã tôi tìm về ngõ nhỏ
Trong bâng khuâng chợt thoảng về cơn gió
Miên man như mời gọi giấc mơ xưa
Mưa chiều như đang khóc , xót lòng chưa ?
Thương lắm nhé ! cơn mưa đang nức nở
Rơi tí tách , từng hồi mưa than thở
Chuyện ngày xưa , tình cũ đã xa xôi !
Đường về chiều nay ướt đẫm người ơi
Bong bóng vỡ như tình tôi tan nát
Lòng lạnh buốt bước chân tôi phiêu bạt
Lầm lũi tìm về hoài niệm gió , mưa .
9/2012
Tiến tới một nền cộng hoà văn chương
Tiến tới một nền cộng hoà văn chương
Nguyễn Hưng Quốc
Nhìn hàng chữ "Cộng hoà văn chương thế kỷ 21" trên bìa tạp chí Việt số 5 vừa qua, rất nhiều người ngạc nhiên và không ít người phẫn nộ. Thư và email gửi tới tấp về toà soạn. Chỉ để hỏi, tại sao, một chữ:õ "cộng hoà". Dường như, với hầu hết độc giả, hàng chữ ấy chỉ gợi nhớ đến những khái niệm đầy màu sắc chính trị như "Việt Nam cộng hoà" hay "Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Ít ai nhớ đến khái niệm "cộng hoà" trong tư tưởng của Plato, triết gia cổ đại Hy Lạp cách đây hơn hai ngàn năm, người để lại tác phẩm Cộng hoà (Republic) nổi tiếng. Cũng ít ai nhớ là khái niệm "cộng hoà văn chương" đã được một triết gia người Pháp, Pierre Bayle (1647-1706) dùng để đặt tên cho một tạp chí xuất bản từ năm 1684 đến 1687: "Tin tức từ nước cộng hoà văn chương" (Nouvelles de la republique des lettres);[1] sau đó, từ năm 1997, được Saul Bellow, nhà văn Hoa Kỳ đoạt giải Nobel văn chương năm 1976, dùng lại trong một tạp chí văn học do ông cùng với Keith Botsford làm đồng chủ bút: News from the Republic of Letters.[2] Ngoài ra, cái tên "cộng hoà văn chương" ấy cũng lại được dùng để đặt tên cho một tờ báo khác, tại Paris, vào năm 1994: République Internationale des Lettres.[3] Chỉ cần nhớ đến các chi tiết vừa kể, hẳn người ta sẽ thấy ngay khái niệm "cộng hoà văn chương" trên bìa tạp chí Việt không phải là một thứ mưu đồ "lập quốc" nhảm nhí. Mà đơn giản chỉ là một thái độ.
Một thái độ thẳng thắn và dứt khoát trước những sự nhếch nhác và thảm hại đầy tính chất đình làng trong cung cách sinh hoạt cũng như trong quan hệ giữa những người cầm bút Việt Nam lâu nay. Đã có nhiều người nói và phê phán những sự nhếch nhác và thảm hại ấy.[4] Nhưng theo tôi, tất cả những sự nhếch nhác và thảm hại ấy không xuất phát từ cá tính của những con người cụ thể mà chủ yếu xuất phát từ một thứ văn hoá văn học lạc hậu: văn hoá làng. Có thể nói số phận văn học Việt Nam gắn chặt với một chữ: chữ "làng". Làng văn và làng thơ. Chữ "làng" ấy, nghe thì rất thân thương, nhưng chính vì vẻ thân thương như thế, người ta dễ quên nó là một khái niệm cũ. Không những cũ, nó còn lỗi thời. Không những lỗi thời, nó còn có hại: nó khiến chúng ta lẫn lộn giữa kỷ niệm và hiện thực, từ đó, buộc chặt tâm hồn của chúng ta vào những hình ảnh đã hoá thạch trong quá khứ, làm chúng ta mất hẳn khả năng thích nghi và thay đổi. Hậu quả là, bước sang thế kỷ 21, sinh hoạt văn học Việt Nam, từ trong lẫn ngoài nước, vẫn thấp thoáng hình ảnh của những sinh hoạt làng xã ngày xưa.
Thì cũng thói quen dị ứng với mọi cái mới. Thì cũng tâm lý chiếu trên chiếu dưới. Thì cũng những cung cách hào lý, ở những người ít nhiều thành công và thành danh; cung cách trương tuần, ở những kẻ bất tài và nhiều tham vọng; cung cách thằng mõ, ở tuyệt đại đa số những kẻ chỉ có một đam mê duy nhất: lặp lại không mệt mỏi những điều ai cũng biết. Thì cũng một thứ văn hoá: văn hoá làng.
Văn hoá làng trước hết là một thứ văn hoá nông nghiệp. Trung tâm của văn hoá nông nghiệp là một thứ mỹ học nông nghiệp, trong đó, thứ nhất, ưu thế thuộc về những gì liên quan đến đồng quê: từ một cánh đồng đến một con đê, từ một bờ ao đến một giếng nước, từ một đàn cò trắng đến một bầy trâu chầm chậm về chuồng, tất cả đều dễ dàng gợi lên ấn tượng là nên thơ; trong khi những gì thuộc về đời sống đô thị và công nghiệp, từ một nhà máy đến một xa lộ, từ một cột đèn đến những sợi dây điện... đều dễ gợi cảm giác ngược lại, là thô nhám, sần sùi, và nặng chất văn xuôi. Thứ hai, trong mỹ học nông nghiệp, ưu thế cũng thuộc hẳn về cảm tính. Người ta sáng tác theo cảm tính, đã đành. Người ta viết phê bình và lý luận cũng một cách đầy cảm tính. Với người Việt Nam, cái đẹp nếu không đồng nghĩa thì ít nhất cũng nằm bên này biên giới của cảm tính. Làm thơ hay viết văn thiên về kinh nghiệm nhận thức quá: không hay. Nặng về kỹ thuật quá: không hay. Viết văn rõ ràng và khúc chiết quá: không hay. Phong cách có tính hàn lâm quá: không hay. Kiến thức bay mùi sách vở quá: không hay. Đặc điểm thứ ba của mỹ học nông nghiệp là ưu thế của truyền thống, theo đó, những thành tựu trong quá khứ, từ phú đời Hán đến thơ đời Đường, từ từ đời Tống đến tiểu thuyết đời Minh và Thanh, từ thơ lục bát của Nguyễn Du đến thơ thất ngôn bát cú của bà huyện Thanh Quan; hay "hiện đại" hơn một chút, từ thơ của Baudelaire đến truyện của Leon Tolstoi... đều là những điển phạm, những khuôn vàng thước ngọc mà mọi người phải noi theo. Tầm vóc của người cầm bút được đo lường không phải ở sức sáng tạo mà chủ yếu ở sự học tập và vận dụng những quan điểm thẩm mỹ đã có từ trước. Việc nhớ nhiều và sử dụng nhuần nhuyễn điển cố và điển phạm được xem là dấu hiệu không những của sự uyên bác mà còn của tài năng. Được biểu dương nhất, trong thơ văn, là những gì thể hiện được cái chung của xã hội: xưa, trong thời trung đại, từ cuối thế kỷ 19 trở về trước, đó là đạo và chí; sau, trong hai thập niên đầu của thế kỷ 20, là "hồn nước"; trong các thập niên kế tiếp, là tâm tình của thời đại. Người nào thể hiện được những cái chung ấy một cách sắc nét nhất, gây ấn tượng mạnh nhất và gợi cảm nhất, người nào nói được tiếng nói tiêu biểu nhất cho cái chung, người ấy sẽ được xem là những nhà thơ hay những nhà văn lớn.
Nói một cách vắn tắt, mỹ học nông nghiệp, tự bản chất, đối lập với tính hiện đại vốn đặt nền tảng trên lý tính, trên ý thức về chủ thể tính và trên truyền thống phản-truyền thống, từ đó, nó cũng đối lập với cả văn chương hiểu theo nghĩa hiện đại, như một nỗ lực sáng tạo, một khát vọng tìm kiếm cái mới, chinh phục cái lạ và đồng thời cũng là một công cuộc thám hiểm mải miết vào những cõi riêng tây của con người. Nói cách khác, mỹ học nông nghiệp là thứ mỹ học tiền-hiện đại và đáng kể hơn, tiền-văn chương: nó là thứ mỹ học dân gian, của ca dao và cổ tích, nơi văn hoá truyền khẩu lấn át văn hoá in ấn, nơi khái niệm "tác phẩm" vẫn còn được xem là cái gì trôi nổi lềnh bềnh trong ký ức tập thể chứ chưa tượng hình thành những văn bản cụ thể và cố định; cuối cùng, cũng là nơi cái gọi là bản sắc dân tộc hoàn toàn đè bẹp lên bản sắc cá nhân.
Văn hoá làng còn là văn hoá của hội hè. Văn hoá hội hè thực chất là thứ văn hoá nghiệp dư, trong đó, người ta cầm bút theo cảm hứng chứ không theo một kỷ luật nào nhất định, hơn nữa, mục tiêu của việc cầm bút phần lớn có tính chất thù tạc, chỉ cốt để tìm vui và để làm vừa lòng nhau chứ không phải để tìm cái đẹp hay cái thật. Chuyện viết hay hay viết dở đôi khi không phải là điều quan trọng. Chưa có ai bị trục xuất ra khỏi "làng" vì sự bất tài. Người ta chỉ đồng loã với nhau để tìm cách trục xuất những ai làm cho họ mất "vui". Hậu quả dễ thấy nhất của hiện tượng ấy là tính chất bè phái trong sinh hoạt văn học. Văn học Việt Nam không có trường phái mà chỉ có bè phái. Yếu tố chính tạo nên trường phái là sự đồng thuận chung quanh một số quan điểm thẩm mỹ cũng như phương pháp sáng tác. Yếu tố chính tạo nên bè phái là những yếu tố nằm ngoài văn học: tinh thần địa phương, tinh thần cầu lợi hoặc, phổ biến hơn, tinh thần bầy đàn.
Chính tinh thần bầy đàn đó đã làm nẩy nở, trong văn hoá hội hè, một thứ ý thức về tôn ti trật tự như là một thứ "đạo đức học" của tính chất bè phái, vừa biện chính vừa củng cố hiện tượng bè phái. Đó là thứ tôn ti hoàn toàn phi văn chương, thậm chí, phản văn chương. Giới cầm bút, ở những nơi khác, được phân biệt theo tầm vóc lớn hay nhỏ, theo mức độ sáng tạo nhiều hay ít; ở Việt Nam, được phân biệt, thứ nhất, theo tiêu chuẩn địa vị xã hội: nếu "lập ngôn" bao giờ cũng đứng sau "lập công" và "lập đức" thì cái "ngôn" của những kẻ đã có "công" và có "đức" (dù là huyền thoại) bao giờ cũng có thế giá cao hơn hẳn cái "ngôn" của những kẻ khác; và thứ hai, theo tuổi tác: người nào lớn tuổi và cầm bút trước, người đó là nhà văn đàn anh; người nào ra đời muộn và cầm bút sau trở thành nhà văn đàn em. Với những cách phân bậc như thế, thứ nhất, khả năng viết lách trở thành một yếu tố thứ yếu và phụ thuộc; và thứ hai, nỗ lực cách tân của thế hệ trẻ nếu không bị xem như một sự nổi loạn thì ít nhất cũng là một sự bất kính. Như thế, từ phạm trù mỹ học, nó bị đẩy vào phạm trù chính trị hoặc phạm trù đạo đức. Thực chất đó là những cách bảo vệ gian lận ưu thế của những người có quyền và những người đi trước.
Thế giới văn chương Việt Nam là một cái làng. Không những thế, lại là một cái làng thuộc địa. Mà tinh thần thuộc địa chủ yếu là tinh thần tự xem mình là kẻ ở ngoài rìa; tự cách ly mình với các trung tâm quyền lực và văn minh để có ảo tưởng là mình không bị đồng hoá. Trong tinh thần như thế, người ta dễ có khuynh hướng xem chính sự lạc hậu của mình như một thứ bản sắc độc đáo, một biểu hiện của tinh thần độc lập, một hình thức phản kháng đầy quật cường. Hậu quả là văn chương biến thành một bộ lạc, khép kín và cô lập, ở đó, người ta cắt đứt mọi mối quan hệ với thế giới bên ngoài, không thèm biết người khác đang làm gì, cứ cắm cúi và mê mải đi theo những vết chân trâu trên những con đường làng quen thuộc cũ. Để có thể an tâm sống mãi trong cái bộ lạc khép kín và cô lập của mình, người ta tự tạo nên một bảng giá trị mới, có thể gọi là bảng giá trị thuộc địa hoặc hậu thuộc địa, đại khái kiểu "Việt Nam mình... thì khác". Văn chương của người ta sao mà trí tuệ quá, sắc sảo quá, sao nặng trĩu những tư tưởng siêu hình? Ừ, thì cũng hay; nhưng Việt Nam mình thì... khác. Văn chương của người ta sao mà táo bạo và dữ dội quá? Ừ, thì cũng hay; nhưng Việt Nam mình thì... khác. Văn chương của người ta sao hết lao vào cuộc phiêu lưu này thì lại nhảy vào cuộc thử nghiệm khác, lúc nào cũng mới mẻ, cũng sôi nổi, cũng hừng hực lửa? Ừ, thì cũng hay; nhưng Việt Nam mình thì... khác.
Theo tôi, ở vào thời điểm đầu thế kỷ mới, thời đại hoàn cầu (global age) như hiện nay, khi xu hướng hoàn cầu hoá đang biến cả thế giới dần dần thành một cái làng, nói như Marshall McLuhan, ngay từ năm 1962, làng-hoàn-cầu,[5] và biến mọi cái làng thành một thế giới thu nhỏ, quan điểm Việt-Nam-mình-thì-khác là một ảo tưởng và một sự phản động cần phải đập vỡ. Theo tôi, đã đến lúc giới cầm bút Việt Nam phải thoát ra khỏi tâm lý hậu thuộc địa và cùng với nó, chủ nghĩa bộ lạc (tribalism). Đã đến lúc không ai có quyền tự xem mình như một thứ ngoại lệ của thế giới. Đã đến lúc văn học Việt Nam phải vượt qua khỏi giới hạn của những luỹ tre và những chiếc cổng làng với những hương ước tủn mủn, cũ kỹ và những đám hào mục tầm nhìn không vượt qua khỏi những cái đầu gà và những cái phao câu.
Đã đến lúc văn học Việt Nam phải trở thành một nền cộng hoà.
Sự khác nhau giữa ý niệm "làng" và ý niệm "cộng hoà" chủ yếu là sự khác nhau trong ý thức về bản chất của sinh hoạt văn học. Cũng có thể nói là sự khác nhau về "thể chế" sinh hoạt văn học cũng như văn hoá của văn học. Một sự khác biệt triệt để.
Tinh thần cộng hoà trước hết là thứ tinh thần chuyên nghiệp. Khái niệm "chuyên nghiệp" tôi dùng ở đây không phải theo nghĩa kinh tế. Sống được bằng ngòi bút hay không, không phải là điều quan trọng. Thậm chí, trong tình hình Việt Nam hiện nay, khi thị hiếu của quần chúng nói chung khá thấp, việc sống bằng nghề cầm bút có khi là một sự nguy hiểm: người ta rất dễ trở thành rẻ tiền. Tính chất "chuyên nghiệp" tôi dùng ở đây chủ yếu nhấn mạnh vào hai khía cạnh: tay nghề và ý thức. Về tay nghề, một cây bút gọi là chuyên nghiệp nhất định phải là kẻ rất tự giác về những kỹ năng và kỹ thuật căn bản trong công việc viết lách chứ không phải chỉ là kẻ hoàn toàn cậy vào năng khiếu hay cảm hứng. Về ý thức, một cây bút chuyên nghiệp là kẻ chỉ muốn lập sự nghiệp bằng chính sáng tác của mình. Sáng tác là phương tiện duy nhất để người ta khẳng định tư cách nhà văn / nhà thơ / nhà viết kịch / nhà phê bình lý luận của mình. Sáng tác là thứ visa để người ta bước vào cửa khẩu văn chương. Người ta sẽ trở thành một kẻ gian lận nếu muốn tồn tại trong thế giới văn chương mà không phải tốn công đầu tư công sức vào sáng tác. Sau nữa, với tư cách một người cầm bút thực sự, tham vọng lớn nhất mà người ta nhắm tới là biến mỗi tác phẩm thành một công trình nghệ thuật hoàn hảo chứ không đơn giản chỉ là công cụ cho một thứ gì khác, dù là những lý tưởng thật đẹp hay những biến động thật lớn trong lịch sử. Cuối cùng, một ý thức chuyên nghiệp không cho phép người ta lẫn lộn văn chương và những gì phi văn chương ngay cả với tư cách là độc giả. Ôn lại các biến động văn học lớn nhỏ ở hải ngoại từ hơn hai mươi năm qua, chúng ta dễ dàng phát hiện tính chất nhẹ dạ trong những con người làm văn học nghiệp dư khi đối diện với những tác phẩm mang nhiều ý nghĩa chính trị, đặc biệt những tác phẩm có nội dung tố cáo những tội ác dưới chế độ cộng sản, từ thơ Nguyễn Chí Thiện đến thơ Khoa Hữu; từ Ly thân đến Đêm giữa ban ngày, và gần đây nhất, Chuyện kể năm 2000.
Là thế giới của những người chuyên nghiệp, nền cộng hoà văn chương loại trừ tính chất phong trào, một ám ảnh dai dẳng trong sinh hoạt văn học Việt Nam, ít nhất là từ năm 1945 đến nay. Nền tảng của mọi phong trào là tinh thần tập thể trong khi văn học cũng như nghệ thuật nói chung chủ yếu lại là một trò chơi mang tính cá nhân cao độ, ở đó, một bài thơ hay có thể chấp cả hàng triệu bài thơ dở, một cái riêng độc đáo có giá trị bằng triệu cái "điển hình" chung chung và sơ lược. Những người chạy đuổi theo các phong trào thường sung sướng với những con số thống kê về số lượng tác phẩm cũng như số lượng ấn bản của mỗi tác phẩm, trong khi chỉ cần đọc lại các tờ báo cũ, chúng ta dễ dàng nhận ra ngay những con số ấy hoàn toàn vô nghĩa: có những giai đoạn, sách báo được in ào ạt, nhưng cuối cùng, chỉ cần năm mười năm trôi qua, không có gì còn lại cả; trong khi, ngược lại, có những giai đoạn chỉ có năm mười cuốn sách được xuất bản nhưng đó lại là những kiệt tác: giai đoạn ấy bỗng có vẻ tấp nập và ồn ào hẳn. Một sự thật cực kỳ đơn giản: lịch sử văn học được tạo nên bởi những tác phẩm còn lại chứ không phải bởi những cuốn sách hay những tờ báo đã được in ra hay bán được.
Loại trừ tính chất phong trào, nhưng một nền cộng hoà văn chương, tự bản chất, là một thế giới dân chủ. Tính chất dân chủ ấy thể hiện đầu tiên ở các khía cạnh: đề tài, chất liệu, thể loại và ngôn ngữ. Trước đây, trong nền văn học cổ điển cũng như văn học lãng mạn chủ nghĩa, người ta có thói quen thiên vị một số đề tài và một số chất liệu: những gì gắn liền với thiên nhiên thường dễ được xem là đẹp hơn những gì gắn với kỹ thuật; những gì nhẹ nhàng hoặc mờ ảo dễ được xem là có nhiều chất thơ hơn những gì nặng nề và rõ ràng. Trong nền văn học hiện thực chủ nghĩa cũng như "hiện thực xã hội chủ nghĩa", người ta lại có khuynh hướng thiên vị những đề tài và những chất liệu gắn liền với đời sống chính trị của cả một dân tộc hoặc ít nhất của một cộng đồng đông đảo, hoặc một địa phương hoặc một giai cấp, hơn là những gì gắn liền với đời sống cá nhân và tâm linh. Những sự thiên vị ấy nếu không phải xuất phát từ, thì cũng dẫn đến, sự lẫn lộn giữa cái diễn đạt và cái được diễn đạt, giữa phong cách và đề tài, giữa nghệ thuật và hiện thực, giữa bài-thơ-về-con-cóc và bản thân con cóc. Trong nền cộng hoà văn chương, ngược lại, mọi đề tài đều được phép và mọi chất liệu đều bình đẳng với nhau: ngay chính sự phân biệt giữa cái gọi là chất thơ và chất văn xuôi trong đối tượng được miêu tả cũng trở thành vô nghĩa; tầm vóc lớn hay nhỏ của đề tài lại càng vô nghĩa hơn nữa. Người ta có thể viết về bất cứ đề tài gì và có thể sử dụng bất cứ chất liệu gì chỉ với một điều kiện duy nhất: viết thật hay. Về phương diện ngôn ngữ và thể loại cũng thế. Không có sự phân biệt giữa bình dân và cao cấp. Bất cứ ngôn ngữ và bất cứ thể loại nào cũng có thể trở thành ngôn ngữ và thể loại nghệ thuật khi, với tài năng sáng tạo của người cầm bút, nó thực sự mang tính nghệ thuật. Riêng trong phạm vi ngôn ngữ, tính chất dân chủ vừa nêu càng ngày càng mở rộng, dung hợp cả những yếu tố phi ngôn ngữ như trong thơ cụ thể hoặc thơ hình hoạ trước kia cũng như trong các sáng tác hypertext gần đây.
Nhưng tính chất dân chủ trong nền cộng hoà văn chương thể hiện rõ nhất là trong mối quan hệ giữa tác giả và độc giả. Theo Roland Barthes, trong cuốn S/Z, văn bản có thể được chia ra làm hai loại: một, văn bản khả độc (lisible/readerly), chủ yếu dựa trên các quy ước quen thuộc về thể loại và văn hoá, có cấu trúc giống với những tác phẩm đã được viết trước đó, bởi vậy, có tính chất khả đoán, rất dễ dàng cho việc diễn dịch và cảm nhận; hai, văn bản khả tác (scriptible/writerly) thường mang nhiều yếu tố thử nghiệm, vượt ra ngoài khuôn sáo, bởi vậy, rất dễ làm người đọc có cảm tưởng là khó hiểu. Với loại văn bản khả độc, người đọc chỉ cần đọc, một cách thụ động, như một người tiêu dùng, với hai khả năng lựa chọn: chấp nhận hoặc bác bỏ. Với loại văn bản khả tác, người đọc phải tích cực tham gia vào quá trình tạo nghĩa, như một người sản xuất hoặc như một đồng tác giả. Theo Roland Barthes, phần lớn các tác phẩm cổ điển mang tính chất khả độc trong khi phần lớn các tác phẩm hiện đại đều mang tính chất khả tác.[6] Bước vào các tác phẩm văn học hiện đại, người đọc như lạc vào một thế giới đa nguyên, có thật nhiều lối đi và không có lối đi nào thực sự là lối đi chính cả. Tính chất đa nguyên và tính chất khả tác ấy càng rõ rệt trong loại văn học hypertext vừa mới manh nha trong mấy năm vừa qua và không chừng sẽ là một trong các thể loại văn học chính trong thể kỷ 21. Đó là thể loại văn học được thực hiện bằng các phương tiện điện tử, ở đó, các văn bản là những liên mạng đa tâm (multicentered) và phi tuyến tính (non-linear) mà người đọc có thể bắt đầu và kết thúc ở bất cứ điểm nào họ muốn, thậm chí, có thể chọn bất cứ cách đọc nào họ thích. Có điều, như Michael Joyce đã nhấn mạnh, những sự lựa chọn ấy có thể làm thay đổi hẳn bản chất của những gì họ đọc.[7]
Biểu hiện sâu sắc nhất của tính chất dân chủ trong cộng hoà văn chương là thái độ của cả người viết lẫn người đọc đối với những cái thường được gọi là điển phạm. Trước đây hầu như mọi người đều tin là có một cái đẹp "vượt thời gian" và "vượt không gian" nào đó mà người ta có thể sử dụng như một quy phạm để sáng tác và như một thước đo để đánh giá văn học. Cha ông chúng ta, trong suốt cả hàng ngàn năm, tin tưởng một cách chân thành là cái đẹp ấy đã được kết tinh trong văn học Trung Hoa. Khen ai, người ta cũng đều lấy văn học Trung Hoa làm chuẩn: "Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán..." Nhưng chính Cao Bá Quát, người được khen là làm phú hay hơn các nhà văn đời Hán, khi lấy văn học Trung Hoa làm chuẩn, đã không dám xem loại thơ văn viết bằng chữ Nôm ở Việt Nam là văn học.[8] Sau này, kể từ thập niên 30 của thế kỷ 20, tiếp xúc với văn học phương Tây, người ta lại biến ngay một số thành tựu trong văn học phương Tây, đặc biệt là phương Tây ở thế kỷ 19, thành một thứ điển phạm, theo đó, thơ, muốn hay, phải dạt dào tình tứ như thơ lãng mạn Pháp, và truyện, muốn hay, phải giống truyện của Honoré de Balzac và của Leon Tolstoi.
Cho đến tận cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, mỗi lần mơ đến tác phẩm lớn, dường như người Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi ám ảnh của Chiến tranh và hoà bình. Ít ai chú ý Chiến tranh và hoà bình chủ yếu là tác phẩm lớn của thế kỷ 19 hơn là của thế kỷ 20. Xem Chiến tranh và hoà bình như thứ chuẩn mực muôn đời của văn chương, người ta cứ bị buộc chặt hoài vào loại đề tài chính trị và xã hội; vào phương pháp sáng tác hiện thực lỗi thời của thế kỷ 19; và vào phong cách mang tính chất sử thi, muốn bao quát toàn bộ diện mạo của cả một giai đoạn lịch sử rộng lớn, như một biểu hiện của cái nhìn đại tự sự (grand narrative) của thời hiện đại chủ nghĩa[9] vốn đã thuộc về quá khứ, đã xa.
Trong thời đại ngày nay, một mặt, do ảnh hưởng của xu hướng hoàn cầu hoá, mặt khác, do ảnh hưởng của các trào lưu phê bình hậu cấu trúc luận hay giải cơ cấu, người ta biết, thứ nhất, trong văn học thế giới có vô số điển phạm khác nhau chứ không phải chỉ có một số mẫu mực như trong văn học Trung Hoa, văn học Pháp hay văn học Nga trước đây; thứ hai, những cái gọi là điển phạm thực chất chỉ là sản phẩm của lịch sử và của văn hoá, có thể thay đổi theo thời gian. Nhận thức thứ nhất dẫn đến một thứ chủ nghĩa đa văn hoá trong văn học, trong khi nhận thức thứ hai dẫn đến phản-duy bản luận (anti-foundationalism), một quan niệm cho những nguyên tắc căn bản trong đạo đức cũng như nhận thức luận của con người xuất phát từ thực tiễn xã hội hơn là từ một luật lệ phổ quát và vĩnh cửu nào đó. Từ quan niệm đa văn hoá, người cầm bút thoát khỏi sự sùng bái có tính chất tín ngưỡng đối với một điển phạm nhất định, từ đó, có thể dung hợp mọi thử nghiệm từ mọi vùng đất khác nhau trên thế giới. Chỉ với thái độ như thế, người ta mới có thể tiến hành những cuộc giao lưu thực sự, hiểu theo nghĩa: một, giữa những người đồng thời (ngược lại, chỉ có nghĩa là học tập hay mô phỏng một chiều và thụ động), hai, một cách chọn lọc (trong đó ưu tiên bao giờ cũng dành cho những giá trị còn sức sống chứ không phải là những giá trị đã hoá thạch từ xưa); và ba, trong ý hướng sáng tạo (mục tiêu nhắm tới là tạo nên một cái gì mới chứ không phải chỉ là một sự lặp lại). Từ quan niệm phản-duy bản, người cầm bút có thể sáng tác với tâm thế không chấp nhận bất cứ cái gì là điển phạm, và như vậy, hắn sẽ sáng tác trong tư thế của kẻ đang trên đường tìm kiếm cho chính mình một điển phạm chưa từng có. Sáng tác không còn là cách tìm kiếm chi tiết để lấp đầy một câu chuyện hay tìm kiếm câu chữ để lấp đầy một bài thơ trong đó cái gọi là "câu chuyện" hay "bài thơ" đã có một định nghĩa cố định với những đặc điểm cấu trúc cũng như mỹ học đã được nhìn nhận. Sáng tác, ngược lại, trở thành một cuộc thử nghiệm những cách viết mới để từ đó làm nảy sinh những khả tính mới cho chính cái ý niệm gọi là thơ hay truyện.
Một nền cộng hoà văn chương, do đó, thực chất là cộng hoà của những kẻ muốn thăm dò và thử nghiệm tất cả những khả tính của văn chương và của ngôn ngữ; những người không bao giờ chịu tin vào bất cứ một định nghĩa nào gọi là chung quyết về văn chương cũng như về ngôn ngữ. Nói cách khác, một nền cộng hoà văn chương bao giờ cũng là một cái gì đó đang trong tiến trình hình thành.
17.5.2000
_________________________
[1]Về Pierre Bayle có thể xem website: http://www.orst.edu/instruct/ph1302/phil...bayle.html
[2]News From the Republic of Letters ra mỗi năm bốn số. Mỗi số phát hành khoảng 2000 cuốn. Ðịa chỉ: 120 Cushing Avenua, Boston, Ma 02125, USA. Ðịa chỉ trên internet: htp://www.bu.edu/trl/credits.html.
[3]Homepage: http://www.republique-des-lettres.com/
[4]Ví dụ bài "Bệnh hoang tưởng" của Nguyễn Mộng Giác trên Văn Học số 76 (8.1992), tr. 22-26; bài "Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ" của Nguyễn Minh Châu trên báo Văn Nghệ số 49-50 (5.12.1987); bài "Cái hèn của người cầm bút" của Phạm Xuân Nguyên trên Sông Hương số 31 (5&6.1988), tr. 55-58. Ðược viết không phải bởi cảm hứng phê phán nhưng lại cung cấp rất nhiều chi tiết sinh động về sự nhếch nhác và thảm hại trong sinh hoạt văn học Việt Nam là các cuốn hồi ký Cát bụi chân ai và Chiều chiều của Tô Hoài; Chân dung và đối thoại của Trần Ðăng Khoa.
[5]Xem cuốn The Gutenberg Galaxy của Marshall McLuhan, do Toronto University Press xuất bản tại Toronto năm 1962.
[6]Roland Barthes (1974), S/Z, bản dịch từ tiếng Pháp của Richard Miller, Richard Howard viết tựa, Hill and Wang xuất bản tại New York, đặc biệt các trang 4-5.
[7]Michael Joyce (1997), "Nonce Upon Some Times: Rereading Hypertext Fiction", Modern Fiction Studies 43.3; tr. 579-597 (Tôi đọc theo ấn bản điện tử lưu hành trong Muse Project).
[8]Trong lời tựa Cao Bá Quát viết cho cuốn Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự, Cao Bá Quát viết: "Than ôi! Lấy quốc ngữ [tức chữ Nôm] mà làm văn chương thì ta chưa dám". Xem Thơ chữ Hán Cao Bá Quát, nxb Văn Học, Hà Nội, 1976, tr. 350.
[9]Xem cuốn La condition postmoderne: rapport sur le savoir của Jean-Francois Lyotard, Editions de Minuit xuất bản tại Paris năm 1979; bản dịch tiếng Anh The Postmodern Condition: A Report om Knowledge của Geoff Bennington và Brian Massumi, University of Minnesota Press xuất bản năm 1984. Về khái niệm "đại tự sự" có thể xem thêm bài viết "Viết: từ hiện đại đến hậu hiện đại" của Hoàng Ngọc-Tuấn trên tạp chí Việt số 5 (đầu năm 2000), tr. 108-110.
Thơ hay, thơ dở, cái hay của thơ dở và cái dở của thơ hay
Thơ hay, thơ dở, cái hay của thơ dở và cái dở của thơ hay
Nguyễn Hưng Quốc
Trước hết, xin nói ngay, nhan đề bài viết này không được đặt ra với dụng ý khiêu khích. Cảm giác khiêu khích, nếu có, chủ yếu xuất phát từ ấn tượng nghịch lý giữa hai chữ “hay” và “dở”. Tuy nhiên, đó không phải là một nghịch lý. Theo tôi, cái hay trong thơ dở cũng như cái dở trong thơ hay là những hiện tượng phổ biến trong cả không gian lẫn thời gian. Ở đâu và thời nào cũng có. Chỉ khác ở mức độ. Có thể nói một cách vắn tắt và khái quát thế này: Bất cứ một bài thơ hay một khuynh hướng thơ nào chúng ta xem là hay hiện nay cũng từng có lúc bị xem là dở; và ngược lại, bất cứ một khuynh hướng thơ nào từng có lúc được xem là hay, đến một lúc nào đó, chỉ sản xuất ra toàn thơ dở.
Cứ nhìn vào lịch sử thơ Việt Nam, chúng ta cũng có thể thấy ngay điều đó.
Ngày xưa, từ đầu thế kỷ 20 trở về trước, văn học Việt Nam bao gồm hai bộ phận chính: Hán Việt và Nôm. Bộ phận văn học Hán Việt xuất hiện sớm, ngay từ thế kỷ thứ 10, kéo dài rất lâu, hơn một ngàn năm, có khối lượng tác phẩm khá đồ sộ, bao gồm nhiều thể loại khác nhau, từ trữ tình đến tự sự và chính luận, phần lớn nặng tính học thuật, lúc nào cũng gắn liền với trường quy và triều chính. Bộ phận văn học bằng chữ Nôm, ngược lại, xuất hiện muộn hơn, với những thể loại khá hạn chế, chủ yếu là văn vần, từ đề tài đến nội dung và cảm xúc đều rất gần gũi với đời sống hàng ngày. Hiện nay, chúng ta đánh giá bộ phận văn học bằng chữ Nôm cao hơn hẳn bộ phận văn học bằng chữ Hán. Tất cả những tác phẩm được xem là điển phạm và là những thành tựu xuất sắc nhất của nền văn học cổ điển Việt Nam, từ Chinh phụ ngâm (bản dịch), Cung oán ngâm khúc và Truyện Kiều đến thơ của Hồ Xuân Hương, bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Công Trứ và Tú Xương đều được viết bằng chữ Nôm. Tất cả đều bằng chữ Nôm. Một số tác phẩm Hán Việt có giá trị về tư tưởng và lịch sử, như Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo và Bình Ngô đạo cáo của Nguyễn Trãi được truyền tụng và nhắc nhở, trước hết, các bản dịch hơn là nguyên tác và được nhấn mạnh ở khía cạnh tư liệu hơn là nghệ thuật. Vậy mà, ngày xưa, dường như không ai xem những tác phẩm bằng chữ Nôm ấy là hay cả. Chúng bị xem là dở. Thậm chí, còn tệ hơn cả dở: chúng không được xem là văn chương. Năm 1663, Trịnh Tạc ra lệnh tịch thu và đốt tất cả các cuốn sách bằng chữ Nôm vì cho là “[…] truyện cũ nôm na / […] / Tiếng dâm dễ khiến người say / Chớ cho đem bán hại nay thói thuần”. Đến đầu thế kỷ 19, trong cuốn Vũ trung tùy bút, Phạm Đình Hổ (1768-1839) còn miệt thị chữ Nôm, đặt các tác phẩm chữ Nôm ngang hàng với những trò chơi thanh sắc, vốn dưới quan điểm đạo đức học Nho giáo, bị xem là xấu xa: “Có người đem những sách truyện Nôm và những trò chơi thanh sắc, nghề cờ bạc, rủ rê chơi đùa, thì ta bịt tai lại không muốn nghe. Ta đã học vỡ được ít kinh sử, thế mà chữ Nôm ta không biết hết, câu ca, bản đàn thoảng qua ngoài tai rồi lại lờ mờ không hiểu gì cả.”[1] Đến tận giữa thế kỷ 19, Cao Bá Quát, một trong những nhà thơ lớn nhất của thế kỷ, dù đánh giá rất cao tiếng nói dân tộc và rất mê hai truyện Nôm Hoa Tiên và Truyện Kiều, vẫn chưa tin là với chữ Nôm, người ta có thể tạo nên cái gọi là “văn chương”: “Than ôi! Lấy quốc ngữ [tức chữ Nôm] mà làm văn chương thì ta chưa dám.”[2]
Đó cũng là suy nghĩ của nhiều người, nếu không muốn nói, của hầu hết giới cầm bút Việt Nam trước thế kỷ 20. Có ba bằng chứng chính. Một, phần lớn các tuyển tập thơ chung của nhiều người xuất bản từ giữa thế kỷ 19 trở về trước, ngay cả khi mang tên là “Việt âm” hay “Việt thi”, đều loại trừ phần văn học bằng chữ Nôm. Hai, hầu hết những nhận định về văn học rải rác đây đó trong các cuốn sử chính thống đều chỉ nhắc đến dòng văn học bằng chữ Hán và cũng loại trừ hẳn những người viết bằng chữ Nôm. Và ba, hầu như không có người nào viết bằng chữ Nôm, dù tài hoa cao ngất đến mấy, được ghi nhận một cách xứng đáng. Hãy nhìn lại các nghi án văn học Việt Nam ngày xưa mà xem. Có ba nghi án lớn nhất: dịch giả bản Chinh phụ âm hiện hành, tiểu sử Hồ Xuân Hương và tiểu sử bà Huyện Thanh Quan. Lý do chính khiến cả ba trở thành nghi án chắc chắn là vì những người cùng thời không hề quan tâm đến họ. Không quan tâm vì, một mặt, họ là phụ nữ, mặt khác, có khi quan trọng hơn, vì họ viết bằng chữ Nôm. Đoàn Thị Điểm viết Truyền kỳ tân phả bằng chữ Hán thì người ta nhớ. Nhưng khi bà dịch Chinh phạm ngâm sang chữ Nôm thì người quên. Quên nên bây giờ chúng ta mới bối rối cãi cọ nhau về chuyện ai thực sự là tác giả bản dịch hiện hành.
Có thể nói, trong mấy chục năm đầu của thế kỷ 20, khi chữ quốc ngữ thay thế chữ Hán trong tư cách một văn tự chính thức trong hệ thống giáo dục và sinh hoạt văn hóa, và khi văn học chuyển từ thời Trung đại sang hiện đại, văn học Việt Nam đã có mấy sự hoán chuyển triệt để và ngoạn mục:
Thứ nhất, hoán chuyển về vị trí: Cái trung tâm (văn học Hán Việt) biến thành ngoại biên và cái ngoại biên (văn học Nôm), ngược lại, lại biến thành trung tâm.
Thứ hai, hoán chuyển về giá trị: Cái được xem là hay, hơn nữa, tinh túy của cái hay lại biến thành dở, hoặc nếu không, cũng không còn là hay lắm nữa, ngược lại, cái vốn bị xem là dở, thậm chí, không phải là văn chương, lại được xem là hay; những cái được gọi là “Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán / Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường” bỗng chìm hết vào quên lãng và những cái bị xem là “nôm na mách qué” lại trở thành những thành tựu lớn trong lịch sử.
Những hoán chuyển giữa cái hay và cái dở, giữa trung tâm và ngoại biên như vậy không chỉ dừng lại ở nền văn học Trung đại. Ngay cả phong trào Thơ Mới thời 1932-45 vốn được xem là một thời đại phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử văn học Việt Nam và vốn được Hoài Thanh, trong Thi nhân Việt Nam, khen ngợi nhiệt liệt:
“Đừng lấy một người sánh với một người. Hãy sánh thời đại cùng thời đại. Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên… và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu.” (tr. 32)
Vậy mà, khi Thơ Mới mới xuất hiện, đã có vô số người lên tiếng chê bai đấy. Người ta chê các nhà thơ mới là một bọn mù và dốt: “Chẳng khác anh mù lại nói mơ / Chẳng qua một bọn dốt làm thơ” hoặc một bọn bất tài: “Nghĩa lý vơ vơ rồi vẩn vẩn / Thanh âm ngẩn ngẩn lại ngơ ngơ / So với Á học như dưa đắng / Sánh với Âu văn tựa mít xơ” rồi nài nỉ họ đừng làm thơ nữa: “Lạy bác xin đừng mó đến thi / Nghĩa thi chưa hiểu hãy im đi.” Trong Thơ Mới, không ai tiêu biểu cho bằng Xuân Diệu, nhưng cũng không có ai bị chê bai nhiều như Xuân Diệu. Người ta chê Xuân Diệu “Tây” quá. Chê Xuân Diệu “viết văn tựa trẻ con học nói hay như người ngoại quốc mới võ vẽ tiếng Nam.” (Hoài Thanh, tr. 109). “Người ta” ở đây là ai? Là rất đông người đọc bình thường. Hơn nữa, họ còn là những tên tuổi lớn, những trí thức lớn và những văn nghệ lớn. Như Huỳnh Thúc Kháng. Như Phan Bội Châu. Và cả Tản Đà nữa. Không ai xem Thơ Mới là thơ hay cả.
Chưa hết. Trong phong trào Thơ Mới, người tiêu biểu hơn hết là Xuân Diệu, nhưng ba người đi xa nhất, xa hơn hẳn Xuân Diệu, lại là Bích Khê, Hàn Mặc Tử và Nguyễn Xuân Sanh. Xa chủ yếu về phương pháp sáng tác. Trong khi Xuân Diệu chủ yếu dừng lại ở phương pháp lãng mạn, cả Bích Khê lẫn Hàn Mặc Tử và Nguyễn Xuân Sanh đều vượt khỏi chủ nghĩa lãng mạn để lấn dần sang chủ nghĩa tượng trưng, và trong trường hợp của Hàn Mặc Tử, thỉnh thoảng còn đến mấp mé bên bờ của chủ nghĩa siêu thực. Sau này, Chế Lan Viên và nhiều nhà phê bình khác đánh giá rất cao Bích Khê, Hàn Mặc Tử và Nguyễn Xuân Sanh, cho họ táo bạo và có tinh thần cách tân hơn hẳn những nhà thơ cùng thời; cho họ, chính họ chứ không phải bất cứ ai khác, kể cả Xuân Diệu hay Huy Cận, là những kẻ bắc cầu sang nền thơ hậu-Geneva với nhóm Nhân Văn Giai Phẩm ở miền Bắc và nhóm Sáng Tạo ở miền Nam. Thế nhưng, trong một thời gian khá dài, cả ba nhà thơ kể trên đều bị chê là kém, thậm chí, lập dị hoặc điên khùng.
Chúng ta có thể nêu lên vô số ví dụ khác kể từ sau năm 1945, tức sau phong trào Thơ Mới. Thời kháng chiến chống Pháp, những bài thơ không vần của Nguyễn Đình Thi cũng từng bị chê là dở trước khi được công nhận là những cách tân độc đáo. Sau năm 1954, thơ Thanh Tâm Tuyền cũng bị chê là dở, là tối tăm, hũ nút trước khi ông được nhìn nhận là một trong vài nhà thơ xuất sắc nhất của miền Nam; thơ Bùi Giáng cũng bị chê là dở và là điên khùng trước khi có người nhận thấy trong thơ ông đã thấp thoáng có dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại. Sau năm 1975, những bài thơ mới được công bố của Trần Dần, Lê Đạt và Đặng Đình Hưng cũng bị chê là dở trước khi người ta nhận thấy những giá trị sáng tạo rất lớn ở chúng.
Khi tôi nói đến cái hay của thơ dở và cái dở của thơ hay là tôi muốn nói đến cái hay và cái dở như thế. Cái hay của những tác phẩm người ta ngỡ là dở. Điều này có nghĩa là có hai kiểu dở khác nhau: Một, những cái dở thật, vĩnh viễn dở, với ai và ở thời nào cũng bị xem là dở; và hai, những cái dở hàm chứa một số giá trị thẩm mỹ mà người ta, ở vào một thời điểm hoặc một giai đoạn nào đó, chưa thấy được. Có thể gọi đó là những cái-bị-xem-là-dở. Chứ chưa chắc đã là dở thật.
Xin lưu ý là ở đây tôi không nói đến chuyện hay hay dở ở phạm vi cá nhân. Với cá nhân, chuyện thích hay không thích, đánh giá cao hay đánh giá thấp một tác phẩm cụ thể nào đó chỉ là chuyện bình thường. Ngay cả những nhà thơ lớn cũng có thể không thích nhau. Tôi chỉ bàn đến cái thích của cộng đồng văn học, trong cả một thời đại, có khi là một thời đại dài dằng dặc.
Lại xin lấy Truyện Kiều làm ví dụ. Khi Truyện Kiều mới xuất hiện, có vô số người thích thú và khen ngợi. Rất nhiều nho sĩ, từ Phạm Quý Thích, Chu Mạnh Trinh, Đào Nguyên Phổ đến Mộng Liên đường và Phong Tuyết chủ nhân đều mê Truyện Kiều. Nghe nói giá giấy ở Hà Nội lúc bấy giờ tăng vọt vì có quá nhiều người mua để chép lại cái tác phẩm được xem là “khúc Nam âm tuyệt xướng”[3] ấy. Tuy nhiên, ở đây có hai điều cần chú ý.
Thứ nhất, có thể người ta mê Truyện Kiều như mê một thú tiêu khiển chứ chưa chắc đã mê như một tác phẩm văn học. Câu ca dao nổi tiếng một thời “Mê gì? – Mê đánh tổ tôm / Mê ngựa Hậu bổ, mê Nôm Thúy Kiều” cho thấy điều đó.
Thứ hai, ngay chính Nguyễn Du cũng chưa chắc đã đánh giá thật cao tác phẩm của mình. Lâu nay, nhắc đến hai câu cuối trong bài “Độc Tiểu Thanh ký”: “Bất tri tam bách dư niên hậu / Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”, không hiểu sao người ta lại hay liên tưởng đến Truyện Kiều. Nhưng theo tôi, không có bằng chứng nào cho thấy Nguyễn Du có hy vọng, với Truyện Kiều, đời sau sẽ thông cảm và thương cảm cho mình. Niềm hy vọng ấy, nếu có, có khi gắn liền với các bài thơ bằng chữ Hán mà Nguyễn Du sáng tác rất nhiều và khá liên tục, kéo dài gần như cả đời, sau, được tập hợp trong ba tập: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục. Còn với Truyện Kiều, tác giả chỉ kết thúc một cách khiêm tốn: “Lời quê chắp nhặt dông dài / Mua vui cũng được một vài trống canh.” Không nên nghĩ đó là một lời nói khiêm vờ vĩnh. Khiêm, có thể có; nhưng vờ thì không. Kiểu kết thúc như thể xuất hiện ở hầu hết các truyện thơ Nôm khác. Trong Nhị Độ Mai: “Biết bao lời kệch tiếng quê / Thôi thôi bất quá là nghề mua vui”. Trong Phù dung tân truyện: “Lời quê chắp chảnh nên câu / Chép làm một truyện để sau mua cười.” Trong Bích câu kỳ ngộ: “Cũng xin góp một hội cười / Cùng mua mấy trống canh vui gọi là”, v.v. Theo tôi, đó là một mặc cảm có thật. Mặc cảm của những người đứng ngoài lề của thế giới văn chương. Mặc cảm ấy xuất phát từ một quan điểm phổ biến trong suốt thời kỳ Trung đại của văn học Việt Nam.
Như vậy, hiện tượng nhiều bài thơ, thậm chí, cả nguyên một khuynh hướng thơ hay nhưng bị xem là dở không phải chỉ gắn liền với sở thích. Mà là với quan niệm.
Thơ không bao giờ chỉ là thơ. Đằng sau thơ bao giờ cũng có một cái gì khác. Cái khác ấy, xưa, ở Tây phương, từ ảnh hưởng của Plato, người ta xem là thế giới lý tưởng, và từ ảnh hưởng của Aristotle, là tự nhiên; ở Trung Hoa và Việt Nam, là đạo hay chí; sau, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn, người ta cho là cảm xúc, lại là thứ cảm xúc phóng túng, tràn trề, lênh láng; và dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu thực, là vô thức; gần đây hơn, người ta cho đó là ngôn ngữ. Chỉ là ngôn ngữ. Rất ít người đề cập đến vai trò của quan niệm. Có thể đó là ảnh hưởng hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đến từ Emmanuel Kant, người gắn liền việc thưởng thức cái đẹp (kể cả cái đẹp trong nghệ thuật, dĩ nhiên) với lạc thú (pleasure). Lạc thú ấy có bốn đặc điểm chính: Một, khác với các loại lạc thú khác, lạc thú do cái đẹp mang lại có tính chất vô tư và vô vị lợi (disinterested); hai, cũng khác với các loại lạc thú khác, nó không dựa trên ý niệm: đó là loại lạc thú phi ý niệm (non-conceptual pleasure); ba, đó cũng là loại lạc thú của tính mục đích vô mục đích (purposiveness without a purpose): ở đó cái đẹp thể hiện một trật tự bên trong thay vì tuân theo bất cứ một mục đích ngoại tại nào khác; và bốn, đó là loại lạc thú cần được chia sẻ và muốn nhận được sự đồng thuận của mọi người. Nó là sự chủ quan mang tính phổ quát hoặc một sự phổ quát chủ quan (subjective universality).
Có điều, chính Kant cũng thấy những phân tích của ông là bất cập nên ông lại chia cái đẹp thành hai loại: một cái đẹp tự do (free beauty) và một cái đẹp lệ thuộc (dependent beauty). Sự khác biệt chính là, trong khi cái đẹp tự do có tính phi ý niệm, cái đẹp lệ thuộc lại gắn liền với một ý niệm nhất định. Hoa là cái đẹp tự do của thiên nhiên. Để thưởng thức cái đẹp của hoa, người ta không cần bất cứ kiến thức nào về thảo mộc. Cũng vậy, để thưởng thức cái đẹp của một số vật trang trí, người ta cũng không cần biết ý nghĩa của chúng, hơn nữa, chúng cũng chẳng có ý nghĩa gì, chúng không biểu hiện cho một cái gì. Chúng chỉ là hình thức. Và chúng tự tại. Nhưng cái đẹp của một con người, một con ngựa hay một tòa nhà (ví dụ nhà thờ, lâu đài, cung điện) thì lại được đặt trên tiền đề về tính cứu cánh và quan niệm về tính hoàn hảo để làm chuẩn mực cho nhận thức và đánh giá. Đó là những cái đẹp lệ thuộc.[4]
Khi áp dụng quan điểm thẩm mỹ của Kant vào thơ, người ta chỉ chăm chăm tập trung vào cái đẹp tự do mà quên đi, với ông, phần lớn nghệ thuật, nhất là các loại hình nghệ thuật ngôn ngữ, trong đó có thơ, nếu không muốn nói, đặc biệt là thơ, vốn, tự bản chất, là những cái đẹp lệ thuộc: Chúng gắn liền với ý niệm. Cái ý niệm ấy không những quy định cách đánh giá thơ hay và thơ dở mà còn, xa và sâu hơn, ảnh hưởng đến cách phân biệt thơ và những gì không phải thơ. Bắt chước cách nói nổi tiếng của Jean-Paul Sartre, “đằng sau kỹ thuật của một cuốn tiểu thuyết bao giờ cũng là một siêu hình học của tác giả”, chúng ta có thể nói, đằng sau mỗi bài thơ bao giờ cũng có một mỹ học thơ. Đằng sau thơ Đường là một mỹ học của thơ Đường. Đằng sau Thơ Mới là mỹ học của Thơ Mới, chủ yếu đó là mỹ học của chủ nghĩa lãng mạn. Đằng sau thơ tự do, cũng vậy, cũng có mỹ học của thơ tự do. Kéo nhận định này dài ra thêm, chúng ta cũng có thể nói, ngay cả với thơ phản-thơ, hay thứ thơ sau này được nhóm Mở Miệng mệnh danh là thơ cắt dán, thơ dơ, thơ rác, thơ nghĩa địa cũng có một mỹ học riêng của nó.
Mỹ học thơ bao gồm nhiều khía cạnh, trong đó, theo tôi, có bốn khía cạnh này là quan trọng nhất: một, quan niệm về ngôn ngữ; hai, quan niệm về chức năng của thơ; ba, các quy ước liên quan đến thể loại, và bốn, quan niệm về cái đẹp. Ở mỗi khía cạnh, một cách tự giác hay tự phát, người ta đều có một bảng giá trị chung, như ý niệm về sự hoàn hảo, để dựa theo đó, người ta cảm nhận và đánh giá thơ hay văn học nói chung.
Ví dụ, về phương diện ngôn ngữ, ngày xưa cha ông chúng do sùng bái chữ Hán nên cho chỉ những gì được viết bằng chữ Hán, thứ chữ của thánh hiền và của văn chương, với những mẫu mực của “tiền Hán” và “thịnh Đường” mới là thơ; từ đó, họ loại trừ toàn bộ những gì được viết bằng chữ Nôm. Nếu trước kia, Plato đòi đuổi các nhà thơ ra khỏi nước Cộng hòa Lý tưởng của ông, cha ông chúng ta cũng đã từng đuổi các nhà thơ viết bằng chữ Nôm ra khỏi nước Cộng hòa Thơ của dân tộc trong cả gần một ngàn năm. Sau này, ngôn ngữ không còn đồng nhất với văn tự; nó lại được nhìn góc độ xã hội học: thơ với lớp từ vựng thuần Việt dân dã, có chút gì như sù sì thô nhám của đời sống hàng ngày được đề cao hơn hẳn loại thơ sử dụng lớp từ vựng Hán Việt đầy những điển cố và điển tích nặng nề. Do đó, bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành được đánh giá cao hơn Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều; và trong thơ Nguyễn Gia Thiều, những câu như “Khạc chẳng ra cho, nuốt chẳng vào / Miếng tình nghẹn mãi biết làm sao” hay “Cam, tốc ra thăm gốc hải đường / Hái hoa về để kết làm tràng / Những cành mới nánh đừng vin nặng / Mấy đoá còn xanh chớ bứt quàng…” được nhiều người yêu quý hơn hẳn những câu đài các kiểu “Trải vách quế gió vàng hiu hắt / Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng...”
Cũng từ sự phân biệt này, khái niệm sáo hay sáo ngữ càng ngày càng trở thành phổ biến và được sử dụng như một sự đánh giá ngôn ngữ thơ: sáo là dở, thoát sáo, ngược lại, là hay. Cái gọi là “thoát sáo” ấy cũng thay đổi theo thời đại: Có thời nó bao hàm tính chất đời thường và dân dã; thời khác, nó dung hợp cả cái tục lẫn cái xấu, từ đó, người ta nói đến mỹ học của cái tục và mỹ học của cái xấu (aesthetics of ugliness).
Về phương diện chức năng, khi đề cao chức năng tải đạo hay ngôn chí, những bài thơ thiên về tình cảm rất dễ bị xem là “tiếng dâm” và cần bị tước quyền công dân trong nước thơ. Ngược lại, thời Thơ Mới, khi người ta nhấn mạnh vào chức năng bộc lộ cảm xúc, đặc biệt những cảm xúc sôi nổi nhưng vu vơ kiểu “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” hay “tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”, những bài thơ tải đạo và ngôn chí lại bị chê là khô khan, thậm chí, không có chút gì là thơ cả: Khái niệm “chất thơ” được ra đời để chỉ những cái đẹp dịu dàng, nhẹ nhàng và đầy thơ mộng, không những không gắn liền với đạo lý mà cũng không gắn liền với cả chất văn xuôi sần sùi của đời sống hàng ngày.
Các quy ước thể loại thay đổi theo từng thời đại và từng trường phái. Ở bình diện rộng lớn, bao quát toàn cũng cảnh văn học, ngày xưa, khi chưa xây dựng được một quy ước chung về tiểu thuyết, tiểu thuyết rất bị rẻ rúng, như những chuyện ngồi lê đôi mách; rẻ rúng đến độ Kim Thánh Thán bị người đương thời khinh bỉ chỉ vì cái tật mê tiểu thuyết của ông dù trên thực tế, với tật ấy, sau này ông được xem là nhà phê bình lỗi lạc nhất của Trung Quốc thời nhà Minh và nhà Thanh, nếu không muốn nói là trong cả lịch sử văn học Trung Quốc trước thời hiện đại nói chung. Giới hạn trong thơ, ngày xưa, cả một thời gian rất dài, hàng ngàn năm, người ta xem thơ thì phải có luật, có niêm, đối, và đặc biệt, có vần nên khi loại thơ mới, và nhất là thơ tự do, ra đời, phản ứng chung là phủ định: người ta không xem đó là thơ.
Cuối cùng là quan niệm cái đẹp. Cái đẹp nào liên quan đến con người, nghĩa là thuộc phạm trù nghệ thuật, cũng đều có tính quy ước và cũng đều là sản phẩm của một nền văn hoá nhất định. Trung tâm của cái đẹp trong thơ là vai trò của con người. Xưa, ở cả Tây phương lẫn Đông phương, người ta xem vẻ đẹp thiên nhiên là chuẩn mực của vẻ đẹp ở con người. Chính từ đó mới nảy sinh các ẩn dụ kiểu “khuôn trăng”, “tóc mây”, “mày liễu”, “da tuyết” như cách Nguyễn Du mô tả nhan sắc Thuý Vân: “Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang / Hoa cười ngọc thốt đoan trang” hay Thuý Kiều: “Làn thu thuỷ nét xuân sơn.” Sau này, với phong trào Thơ Mới, một số nhà thơ đảo ngược lại trật tự ấy: Người ta so sánh cái đẹp của thiên nhiên với cái đẹp của con người, nghĩa là, nói cách khác, xem cái đẹp của con người mới là chuẩn mực cho cái đẹp của thiên nhiên. Như trong thơ Xuân Diệu: “Hơi gió thở như ngực người yêu dấu / Mây đa tình như thi sĩ đời xưa” hay “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.” Hay trong thơ Hàn Mặc Tử: “Mới lớn lên trăng đã thẹn thò / Thơm như tình ái của ni cô.” Đến sau năm 1954, ở miền Nam, Nguyên Sa còn đi xa hơn nữa, nâng con người lên địa vị thống trị cả thiên nhiên: Con người yêu thiên nhiên cũng chỉ vì yêu con người: “Áo nàng vàng, anh về yêu hoa cúc / Áo nàng xanh, anh mến lá sân trường” hoặc “Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát / Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông.”
Nếu thơ bao giờ cũng gắn liền với một mỹ học nào đó về thơ, theo tôi, chính cái mỹ học ấy sẽ trở thành tiêu chí đầu tiên để đánh giá và đặc biệt, để phân loại thơ, từ đó, chúng ta sẽ có những bài thơ hay và những bài thơ dở. Trong thơ hay, có hai cấp chính: hay vừa và hay lớn. Thơ dở cũng có hai loại: dở - dở và dở - hay. Dở - dở là dở thật; còn dở - hay là chỉ dở tạm thời, từ cách nhìn cũ, tuy nhiên, khi thay đổi cách nhìn, từ một hệ mỹ học khác, chúng lại trở thành hay. Lửng lơ giữa hai phạm trù hay và dở ấy là một số bài không thật hay và cũng không thật dở nhưng lại đóng một vai trò nhất định trong việc thúc đẩy sự vận động của thơ khiến thơ bước sang một thời đại khác với một hệ mỹ học khác.
Trước khi phân tích các loại thơ kể trên, xin được nhấn mạnh thêm điều này: Từ mấy chục năm nay, các lý thuyết phê bình trên thế giới đều né tránh việc đánh giá và xếp hạng các tác phẩm văn học cụ thể, kể cả thơ. Họ chỉ tập trung vào việc diễn dịch và phân tích, hết phân tích văn bản đến phân tích các yếu tố liên văn bản cũng như các yếu tố ngoại văn bản, từ tư tưởng của tác giả đến chính trị và văn hóa, nhất là văn hóa, gắn liền với những khung nhận thức như nữ quyền luận hoặc hậu thực dân luận. Tuy nhiên, người ta chỉ né chứ không thể tránh được. Né vì tính chất phức tạp của vấn đề và cũng vì không muốn sa vào cái bẫy của chủ quan và cảm tính. Nhưng không thể tránh được vì phê bình, dù muốn hay không, cũng phải bắt đầu bằng sự chọn lựa: chọn đề cập đến tác phẩm hoặc tác giả này thay vì một tác phẩm hay một tác giả nào khác. Mà chọn lựa tức là so sánh. Khi chúng ta chọn bước vào tiệm ăn này thay vì tiệm ăn khác, chọn quán cà phê này thay vì quán cà phê khác, cũng như chọn loại rượu này thay vì một loại rượu nào khác bày đầy trong tủ hay trên kệ, chúng ta đều so sánh với vô số các tiệm ăn khác, các quán cà phê khác và các loại rượu khác. Như vậy, sự so sánh bao hàm sự đánh giá và phân bậc. Chính vì vậy Harold Bloom mới cho câu hỏi “cái gì làm cho bài thơ này hay hơn những bài thơ khác?”[5] bao giờ cũng là một câu hỏi trung tâm của nghệ thuật đọc thơ.
Muốn đánh giá chính xác cần có hai điều kiện tiên khởi: phải có diện so sánh rộng và phải bám chặt vào một tiêu chí nhất định.
Về điểm trên, trong Văn tâm điêu long, Lưu Hiệp có nói một câu rất hay: “Phải đàn ngàn khúc rồi mới hiểu được âm thanh, phải nhìn một ngàn thanh kiếm rồi mới hiểu được vũ khí. Cho nên muốn thấy sáng được toàn bộ tác phẩm thì, trước hết, phải nhìn rộng. Xem núi lớn rồi mới tả được gò đống, ra biển khơi rồi mới hiểu được ngòi rạch.”
Về điểm thứ hai, trong phạm vi văn học cũng như thơ nói riêng, người ta có thể sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau để đánh giá và phân bậc. Có những tiêu chí văn chương và những tiêu chí ngoài văn chương. Tiêu chí ngoài văn chương bao gồm ba khía cạnh chính: thương mại (ví dụ, bán sách được nhiều hay ít), xã hội (có đông độc giả hay nhiều người ái mộ hay không) và chính trị (mức độ ảnh hưởng nhiều hay ít, sâu hay cạn). Ngoài văn chương, những tiêu chí ấy, dù thông dụng đến mấy, vẫn không có ý nghĩa gì đáng kể. Chúng ta chỉ cần tập trung vào tiêu chí đầu. Tuy nhiên, cái gọi là tiêu chí văn chương ấy cũng rất phức tạp. Trong cuốn The Art of Reading Poetry, Harold Bloom cho cái lớn trong thơ tùy thuộc vào hai yếu tố: sự rực rỡ của ngôn ngữ hình tượng và quyền lực nhận thức.[6] Giản dị, nhưng hai tiêu chí do Bloom nêu lên lại làm nảy sinh ra nhiều vấn đề, ví dụ, thế nào là sự rực rỡ (splendour) và tại sao phải là ngôn ngữ hình tượng? Từ giữa thế kỷ 20 đến nay, nhiều nhà thơ thuộc nhiều trường phái khác nhau, từ thơ cụ thể (concrete poetry) đến thơ tạo hình (visual poetry) và thơ ý niệm (conceptual poetry), không những phủ nhận vai trò của hình tượng mà còn giảm thiểu đến tối đa vai trò của ngôn ngữ. Đối với cả sự phủ nhận lẫn sự giảm thiểu ấy, cái gọi là “sự rực rỡ” trở thành một điều hoàn toàn vô nghĩa. Đó là chưa kể đến cái gọi là “quyền lực nhận thức” cũng rất mơ hồ. Quyền lực nhận thức của một nhà thơ có khác quyền lực nhận thức của một triết gia, một nhà tư tưởng hay một nhà tiểu thuyết? Nếu khác, nó khác như thế nào?
Bởi vậy, như trên đã trình bày, ở đây, tôi chỉ chọn một tiêu chí: đó là hệ mỹ học đằng sau một bài thơ hoặc một khuynh hướng thơ. Điều này có hai ý nghĩa: thứ nhất, đánh giá một bài thơ, chúng ta phải nhìn từ góc độ mỹ học của bài thơ ấy. Ví dụ, đối với một bài thơ Đường luật, chúng ta không nên sử dụng mỹ học của Thơ Mới vốn dựa trên nền tảng của chủ nghĩa lãng mạn để đòi hỏi ở bài thơ Đường luật ấy những thứ, tự bản chất, chúng không thể có: chẳng hạn, sự phá cách về hình thức và sự dào dạt của cảm xúc. Cũng vậy, để đánh giá một bài thơ tự do, chúng ta cũng không thể sử dụng các tiêu chí của thơ Đường luật với những vần điệu và nhịp điệu khắt khe để làm cơ sở cho việc phân tích hay phán đoán. Thứ hai, để đánh giá tầm vóc của một bài thơ, chúng ta phải phân tích những đóng góp của nó đối với cái mỹ học mà nó đại diện. Dựa trên đặc điểm thứ hai này, tôi chia thơ thành nhiều cấp độ: lớn, hay, dở, dở - hay, và không dở không hay nhưng có ý nghĩa lịch sử.
Trước hết, xin nêu lên vài định nghĩa ngắn gọn:
Trong quan hệ với hệ mỹ học của thơ, những bài thơ lớn, theo tôi, là những bài thơ góp phần định hình nên cái mỹ học ấy hoặc nếu không, cũng được xem là tiêu biểu cho cái mỹ học ấy.
Những bài thơ hay là những bài nằm trong phạm trù mỹ học ấy nhưng có một số sáng tạo so với mặt bằng chung trước hoặc cùng thời với nó.
Những bài thơ dở là những bài chưa đạt đến tiêu chuẩn tối thiểu của cái mỹ học ấy.
Những bài thơ hay nhưng bị cộng đồng văn học xem là dở mà chúng ta đang bàn trong bài này chính là những bài nằm trên ranh giới giao thoa giữa hai hệ mỹ học: Chúng được sáng tác theo một hệ mỹ học khác, mới manh nha, còn xa lạ, thậm chí, còn bị thù nghịch trong hệ mỹ học cũ, do đó, từ hệ mỹ học cũ ấy, chúng bị xem là dở, tuy nhiên, khi hệ mỹ học mới chiến thắng, hoặc ít nhất, được công nhận, chúng lại trở thành hay.
Và, bên cạnh các loại thơ kể trên, còn có một loại khác nữa: những bài thơ lớn nhưng không thực sự hay. Lớn vì chúng đóng vai trò động lực thúc đẩy quá trình chuyển tiếp giữa hai hệ mỹ học, từ đó, góp phần tạo nên sự thay đổi, có khi là cách mạng trong lịch sử nhưng không hay vì chúng chưa thoát hẳn khỏi hệ mỹ học cũ trong khi chưa thực nhuần nhuyễn trong hệ mỹ học mới.
(còn tiếp)
Lượm lặt từ HỘI CHẾ MON
![[Hình: 599281_496058127088932_536775879_n.jpg]](http://a5.sphotos.ak.fbcdn.net/hphotos-ak-ash3/599281_496058127088932_536775879_n.jpg)
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
![[Hình: 526134_495953467099398_258019267_n.jpg]](http://a5.sphotos.ak.fbcdn.net/hphotos-ak-prn1/526134_495953467099398_258019267_n.jpg)
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
![[Hình: 223886_495112920516786_2051413151_n.jpg]](http://a2.sphotos.ak.fbcdn.net/hphotos-ak-snc6/223886_495112920516786_2051413151_n.jpg)
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
![[Hình: 533082_493796023981809_2140361463_n.jpg]](http://a8.sphotos.ak.fbcdn.net/hphotos-ak-prn1/533082_493796023981809_2140361463_n.jpg)
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Chủ đề Mới nhất |
|
Hơn 3.000 bài thơ tìn...
-Chuyên đề: Thi Ẩm Lâu-Đăng bởi lần cuối: phambachieu-03-09-2026, 09:30 AM-
» Bài trả lời: 2,225-
» Lượt xem: 221,696
|
|
aydada thử
-Chuyên đề: Luyện võ trường-Đăng bởi lần cuối: hothiethoa-20-01-2026, 04:56 PM-
» Bài trả lời: 4-
» Lượt xem: 449
|
|
Truyện Thỏ Bông bị...
-Chuyên đề: Thi Ẩm Lâu-Đăng bởi lần cuối: hothiethoa-23-05-2025, 04:04 PM-
» Bài trả lời: 1-
» Lượt xem: 2,628
|
|
Thơ vui sưu tầm
-Chuyên đề: Tàng thi viện-Đăng bởi lần cuối: hothiethoa-15-02-2025, 09:36 AM-
» Bài trả lời: 0-
» Lượt xem: 77
|
|
Những vần thơ bất ...
-Chuyên đề: Thi Ẩm Lâu-Đăng bởi lần cuối: aydada-13-01-2025, 10:21 PM-
» Bài trả lời: 1,001-
» Lượt xem: 428,921
|
|
Gửi cho Áo tím
-Chuyên đề: Tàng thi viện-Đăng bởi lần cuối: hothiethoa-22-11-2024, 08:42 AM-
» Bài trả lời: 69-
» Lượt xem: 31,504
|
|
Riêng một góc trời....
-Chuyên đề: Thi Ẩm Lâu-Đăng bởi lần cuối: Long Giao Anh-25-10-2024, 08:18 PM-
» Bài trả lời: 51-
» Lượt xem: 24,504
|
|
TRANG THƠ JENNY HO
-Chuyên đề: Thi Ẩm Lâu-Đăng bởi lần cuối: phambachieu-17-10-2024, 07:53 AM-
» Bài trả lời: 495-
» Lượt xem: 45,494
|
|
Nhật ký Thi ẩm lâu ...
-Chuyên đề: Tác Văn Lâu-Đăng bởi lần cuối: hothiethoa-11-10-2024, 10:31 AM-
» Bài trả lời: 1,755-
» Lượt xem: 684,949
|
|
TRANG THƠ CHÂM BIẾM P...
-Chuyên đề: Thi Ẩm Lâu-Đăng bởi lần cuối: phambachieu-13-08-2024, 12:22 PM-
» Bài trả lời: 8-
» Lượt xem: 325
|
| Diễn đàn Thống kê |
|
» Thành viên: 1,151-
» Thành viên mới nhất: bongdalupl-
» Diễn đàn chủ đề: 1,949-
» Diễn đàn bài viết: 32,999
-Thống kê đầy đủ
|
| | | | | | | | | |