Xin cứ nói thẳng: Thơ ư, có thật cần không? Hàng triệu người sống không thơ mà có sao đâu. Họ chẳng biết gì đến thơ mà vẫn hoàn toàn hạnh phúc. Họ chẳng thấy thiếu gì hết và còn tránh được khối điều phiền toái. Bởi thơ là một thể loại văn chương vô cùng đáng ngờ - và có đủ lí do để nhắc nhở ta hãy coi chừng nó. Trong văn xuôi người ta đánh bài ngửa, còn trong thơ nhiều khi lại đánh lận con đen. Thơ vốn luôn là chốn dung thân của những kẻ chẳng có gì đáng nói song lại thích được người khác nghe, những kẻ chuộng hát bởi không biết nghĩ, những kẻ buộc phải gieo vần bởi viết là thứ rào cản mà họ không sao vượt nổi.
Cái không tiêu thụ nổi trong văn xuôi lại được nhiều tác giả bày bán xổi trong thơ và cũng tìm được khách mua. Điều quá rồ dại để có thể nói xuôi thì họ lại thích đem ra để ngâm nga. Phải chăng thi sĩ là những ca sĩ giọng nam cao trong giới cầm bút? Có một điều chắc chắn là âm giai êm ái của ngôn từ – hay ít ra là cái được cho là êm ái – có thể dễ dàng che đậy sự nghèo nàn của trí tuệ. Ai trịnh trọng ngâm và xướng, kẻ đó không cần sợ bị chất vấn về ý nghĩa và mức độ thông minh trong lời lẽ của mình.
Vâng, người ta yêu cảnh mờ tỏ và cái bí ẩn hơn là sự rõ ràng và tỉnh táo, tin vào bùa chú hơn vào phân tích. Những nhà tư tưởng ở đất nước này được đánh giá cao nhất khi họ làm thơ và những nhà thơ trước hết được ca ngợi khi họ không còn biết suy nghĩ. Việc lợi dụng hình thức thơ để lẩn tránh vào sự không rõ ràng và mơ hồ, để rút lui vào một tình trạng không thể kiểm soát và xa vời đến tận các huyền thoại về Đức Thánh mẫu đã và có lúc vẫn đang còn là một tai ương cố hữu trong nền văn học của chúng ta.
Và như vậy, ở Đức, thơ là chốn ẩn mình của những tác giả có tài và bất tài, song đều chung nhau ở một điểm là ít dính dáng đến trí tuệ. Và của một công chúng dễ dãi chấp thuận yêu cầu: đến đây để hát theo, chứ không phải đến đây để cùng suy ngẫm! Sở dĩ chúng ta, dân tộc của các thi sĩ và các nhà tư tưởng, lại có được cái quan niệm rằng người ta chỉ có thể hoặc là thi sĩ, hoặc là nhà tư tưởng chứ khó lòng là cả hai, là do ảnh hưởng của một nhân vật lớn, người đã gieo rắc biết bao tai hoạ bằng vô số ý kiến của mình về văn chương, đặc biệt là về thơ và phê bình. Tôi đang nói về Goethe.
Trong tác phẩm “Phương châm và suy ngẫm” ta thấy nhận định nguy hiểm sau đây: “Thông qua tư duy người ta đạt đến nghệ thuật và khoa học; với thi ca thì không như vậy, bởi thơ là ngẫu hứng…” (1) Xin đừng tưởng bở: Đây không phải là một sơ suất ngoại lệ. Đáng tiếc là Goethe vẫn thường nhắc đi nhắc lại những điều tương tự. Chẳng hạn trong khi trò chuyện với Eckermann ông đã tuyên bố không hề ngượng ngập như sau: “Một tác phẩm thi ca càng độc nhất vô nhị và khó nắm bắt đối với trí tuệ bao nhiêu thì lại càng hay bấy nhiêu” (2).
Suốt một thể kỉ ở nước Đức những câu văn như vậy đã được trích dẫn một cách sùng kính. Nối tiếp mạch của Goethe, người ta luôn biện hộ cho cảm hứng, dè bỉu lí trí và khẳng định một cách hoàn toàn nghiêm trang rằng làm thơ sẽ gây rối mạch tư duy, và tư duy về phần nó cũng sẽ làm tổn hại nghệ thuật thi ca yêu kiều. Cơ sở cho thái độ này có lẽ là đức tin về sức mạnh giải thoát của thi ca.
Thế nhưng thi ca nào đã giải thoát được ai. Nó cũng ít phù hợp với mục tiêu sư phạm. Ai muốn khai sáng hay truyền thụ cho người cùng thời thì nên viết một bài báo hay một luận văn, thay cho việc viết một khúc tụng ca. Xin nói thêm ngay: còn ai cho rằng những vần thơ có thể tác động vào tiến trình của lịch sử, người đó theo đuổi những ảo tưởng thật ấu trĩ. Không, nhà thơ không thể nào thay đổi được thế giới. Người vẫn thường nói không mệt mỏi về điều này, Bertolt Brecht, chí ít còn có thể tự khen rằng những bài ca công nhân của mình do Hans Eisler phổ nhạc đã được lưu truyền rộng rãi vào những năm cuối của chế độ Cộng hoà Weimar. Tuy nhiên “Bài ca về tình đoàn kết” chẳng hề xây dựng nổi tình đoàn kết của giới thợ thuyền, và “Bài ca về Mặt trận thống nhất” cũng không gây được ảnh hưởng nào đến Mặt trận thống nhất, cũng như những khúc hát trong “Vở Opera ba xu” chẳng thể cải tạo được giới công chúng sân khấu tư sản Berlin.
Vậy sẽ ra sao nếu nhà thơ được trao cho mình quyền lực để thay đổi thế giới? Liệu đây có thực là điều đáng mong muốn? Đã có quá nhiều lần họ phục vụ cho bạo quyền, qua bao thế kỉ họ đã truyền tụng quá nhiều điều điên rồ dưới lớp vỏ bọc không ít khi hấp dẫn để người ta – dù chỉ trong một tích tắc – có thể coi đây là một câu hỏi nghiêm túc. Ngay Platon cũng từng muốn tránh thật xa các thi sĩ. Vậy chúng ta cũng hãy nên cẩn trọng trước những kẻ sĩ ít đáng tin cậy nhất này. Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu ta có thể từ bỏ họ, liệu ta có cần đến họ ngày hôm nay, đặc biệt trong ngày hôm nay?
Nhà thơ La Mã cách đây hai nghìn năm đã không nhầm khi tự hào tuyên bố rằng với các bài tụng ca của mình đã dựng nên một tượng đài có độ bền vững hơn cả đồng. Thật vậy, các tác phẩm thi ca, những cấu trúc mong manh được chế tạo từ một thứ nguyên liệu dễ mai một nhất là lời nói, lại có thể trường tồn qua hàng thiên niên kỉ, hơn mọi thứ miếu đền và cung điện. Cũng không thể phủ nhận rằng thi ca có lúc có khả năng – cho dù không thay đổi được ngay thế giới – song có thể làm cho thế giới đó trở nên dễ chịu hơn. Vâng, nó có thể lay động con người khỏi trạng thái thờ ơ, và thậm chí có thể đánh bật nó khỏi những lối mòn tư duy cố hữu.
Thật là thừa, nếu không nói là ngớ ngẩn, khi chúng ta định tìm cách xếp thơ vào một vị trí cao hơn so với kịch hay văn xuôi. Thơ không hay hơn mà cũng chẳng sâu sắc hơn các thể loại văn chương khác. Thơ mang đặc tính khác, nó đi xa hơn. Nhà thơ không thể giấu mình, trong thơ anh ta phải đối diện với chính bản thân. Thơ là hình thức nhiều rủi ro nhất và vô liêm sỉ nhất trong mọi thể loại văn chương. Một nhà thơ – Goethe từng nói như vậy và lần này ông đã không nhầm – có tự giấu mình cũng bằng thừa, bởi “thơ tức là phản”. Nhà thơ là những kẻ khoả dục chuyên nghiệp, có khác chăng là không phải họ thi ca hoá sự loã lồ của mình, mà họ tự bóc trần bản thân trong thi ca. Chính vì vậy mà thông thường ta có thể chấp nhận một vở kịch tồi hay một cuốn tiểu thuyết trung bình hơn là một bài thơ nghèo nàn. Nhà viết kịch tìm cách kéo sự chú ý của người đọc vào nhân vật của mình, và nhà tiểu thuyết thu hút sự quan tâm của chúng ta đối với thế giới mà ông ta muốn mô tả. Còn nhà thơ ngược lại luôn luôn và trước hết chỉ hướng sự quan tâm đến chính bản thân. Thế nhưng loã thể là khiêu khích môi trường xung quanh. Tác phẩm kịch, có thể nói như vậy, là một lời mời chào và tiểu thuyết là một cuộc hẹn hò, còn thơ – đấy đã là một sự khiêu khích.
Gần đây tôi có đọc một nhận xét cho rằng nhà thơ giống như một kẻ đang bơi và hình thức chính là chiếc phao cứu hộ anh ta.(3) Hình ảnh này xem ra không được may mắn lắm. Bởi nếu vậy thì người ta cũng có thể nói rằng chiếc phao cứu của nhà vĩ cầm chính là cây đàn vi-ô-lông. Không, tác phẩm thơ không thể náu mình dưới mái nhà che chở của hình thức, bởi chính bản thân nó đã là hình thức. Và chỉ với hình thức, nó mới có lí do để tồn tại.
Mặc dù vậy người ta vẫn phải phản bác Stefan George, người từng có lần viết: “Giá trị của thi ca không được quyết định bởi nội dung (nếu vậy thì nó đã là sự thông thái, sự uyên bác), mà bởi hình thức”(4). Tôi cho rằng người ta phải tối kị việc dùng cái này để đối chọi với cái kia: Sự chia cắt thật đáng tiếc, nếu không nói là là đầy tai hại thường có trong văn chương giữa nội dung và hình thức, trở nên thừa trong thơ. Bởi hình thức – đó chính đã là nội dung của thơ. Phải chăng thế giới của chúng ta – cái vốn đem đến cho nhà tiểu thuyết, và ở một mức độ cao hơn nữa cho nhà viết kịch, những khó khăn lớn và thường là không thể nào khắc phục – lại không khước từ sự diễn đạt của thơ: Khi nhà viết kịch câm lặng và nhà tiểu thuyết dường như phải bó tay, thi sĩ chính là người mang thiên chức nói về nỗi đau của bản thân họ, nói về nỗi đau của chúng ta.
Người ta vẫn hay trách thi ca đương đại rằng nó thường quá ảm đạm, quá bi quan và thậm chí hư vô. Thế nhưng chủ nghĩa lạc quan, chủ nghĩa bi quan, chủ nghĩa hư vô – với những phạm trù như vậy ta chưa bao giờ tiếp cận nổi thi ca. Liệu Holderlin có phải là người bi quan? Heine hay Brecht là những người lạc quan chăng? Benn có phải thật sự là một kẻ hư vô? Chỉ cần đặt những câu hỏi như vậy đã đủ thấy chúng không thích hợp và tầm phào hết sức. Ngày nay chính những bài thơ ảm đạm lại hàm chứa những bước đột khẩu và đem đến cho ta những tia chớp sáng. Một cách nghịch lí, thường bóng tối chính lại là nơi khởi đầu của ánh sáng.
Nhưng có thể quy nguyên nhân cho cuộc phục hưng của thơ mà có người đã gọi một cách dè bỉu là “đợt sóng thơ” về chỗ nào? Thời đại của chúng ta càng vô vọng bao nhiêu, viễn cảnh tương lai của chúng ta càng ảm đạm bao nhiêu, thế giới vây quanh ta càng xáo động và hỗn mang bao nhiêu, nhu cầu của chúng ta lại càng lớn hơn, nhu cầu về… Ừ, nhu cầu về cái gì nhỉ? Nhu cầu được an ủi chăng? Có thể là như vậy, song thi ca sẽ không mang đến cho chúng ta sự an ủi. Cung cấp thuốc an thần và giảm đau cho dân chúng, đó không phải là nhiệm vụ của thi ca mà là của ngành dược phẩm.
Không, thơ không thể an ủi và vỗ về lòng ta. Tuy nhiên chỉ với sự hiện hữu của nó, nó đã xác nhận sự ghê tởm của ta trước cảnh hỗn mang. Hay thậm chí ta có quyền nói rằng, nó đáp ứng nhu cầu hướng đến cái trật tự của chúng ta? Chắc chắn có một điều này: Ai làm thơ, người đó kháng cự sự hỗn mang và tuỳ tiện. Làm thơ tức là lập trật tự. Trong khúc thứ tám của “Bi ca Duineser” có câu rằng: “Ta lập trật tự. Trật tự tan rã. Ta sắp xếp lại trật tự, và chính bản thân ta cùng tan rã.” Những lời này của Rilke trước hết có ý nghĩa đối với các thi sĩ.
Một khi trật tự là phương châm của thơ thì người ta chẳng nên ngạc nhiên khi thấy những người mà nhờ có họ chúng ta có được những hình ảnh riêng tư nhất, chủ quan nhất, mong manh nhất của văn chương lại cũng chính là những kẻ không hề ngần ngại phân tích và đánh giá một cách công khai các sản phẩm thi ca của những người đồng thời và đồng nghiệp. Khác với các nhà tiểu thuyết và sáng tác kịch, thi sĩ hầu như cũng luôn luôn đồng thời là nhà phê bình thơ. Và điều đó trước tiên gắn liền với ý thức sâu sắc về hình thức của họ.
Ý thức nổi bật về hình thức của các nhà thơ của chúng ta cũng giúp cho việc những lời đơn giản như “Thơ hôm nay” hàm chứa nhiều hơn là một ước vọng hay một sự bày tỏ – nó gần như đã là một thứ cương lĩnh bướng bĩnh. Thi ca vẫn thường xuyên là sự phản kháng và chống đối. Ai làm thơ, người đó nổi loại chống lại cái vô hằng. Ngay cả khi nó báo trước về sự sụp đổ, tôn thờ cái chết và ca ngợi sự suy tàn, thi ca – dù nó muốn hay không – vẫn bác bỏ sự sụp đổ, cái chết và suy tàn. Thơ là sự khẳng định cuộc sống. Vì vậy mà hôm nay vai trò của thơ ngày càng lớn: Sự thừa thắng của nó, sự thừa thắng mang vẻ sầu muộn mà khối người chưa hề để ý hoặc chỉ miễn cưỡng ghi nhận, có nguyên do sâu sắc nhất ở đây. Rõ ràng là câu trả lời của văn chương mà chúng ta đang trông đợi giữa đe doạ và hiểm nguy dường như chỉ có thể đến từ thể loại triệt để nhất của nó – thi ca.
Tuy nhiên nhà thơ chạy theo sau thời cuộc sẽ chẳng bao giờ đuổi kịp nó mà thường sẽ bị thời cuộc nghiến nát. Còn nhà thơ nhắm mắt làm ngơ trước thời đại sẽ bỏ lơi nghĩa vụ của mình. Những người kế tục của Heym và Trakl, Benn và Brecht không để mình mắc lỗi lầm nọ hay lỗi lầm kia. Có những bài thơ Đức trong những năm tháng này chỉ hướng tới những chi tiết nhỏ nhặt của thực tại mà đã nhắm vào tâm điểm của nó. Và nếu như ngày nay ở những nhà thơ rất khác nhau, trẻ cũng như già, ngày càng thấy rõ khuynh hướng tìm đến hình thức chặt chẽ hơn – hướng tới những khuôn mẫu cổ điển của thi ca, của vần khổ, hướng tới những nguyên tắc lập trật tự của thơ, thì ta đừng hiểu đấy là sự chạy trốn khỏi thời gian, mà có lẽ đấy là phản ứng trực diện và tự tin trước sự rối ren của thời đại, trước những thảm hoạ và sự ghê rợn của nó.
Cho dù người ta nhìn nhận cách nào đi nữa thì thi ca vẫn là một thực thể hai mặt. Sự cảnh báo của Platon có những cơ sở vững vàng của nó. Vâng, thể loại văn chương lâu đời nhất, mà cũng đáng ngờ và nguy hiểm nhất này đồng thời là thể loại táo bạo và triệt để nhất, nhạy cảm nhất. Tuy nhiên ở đây ta cần phải suy nghĩ, liệu không có mặt này thì mặt kia có thể tồn tại được không. Heine có lần đặt câu hỏi rằng, liệu thi ca có phải là một căn bệnh của nhân loại, “như viên ngọc thực ra chỉ là tác nhân khiến loài trai khốn khổ.”(5) Nếu Heine có lí thì thi ca hẳn là căn bệnh lạ lùng, và có thể nói là căn bệnh đẹp nhất của nhân loại. Và có lẽ chưa bao giờ chúng ta cần đến cái đẹp nhiều hơn là ngày hôm nay. Thế nhưng liệu nó chỉ đẹp thôi, hay còn hữu ích? Thường thì thi ca cũng hữu ích, hữu ích bởi vì đẹp.
MARCEL REICH-RANICKI
TRƯƠNG HỒNG QUANG dịch
(Từ nguyên bản tiếng Đức)
Trích dẫn:Không cần biết em là ai
Không cần biết em từ đâu
Không cần biết em ngày sau
Ta yêu em bằng mấy ngàn biển rộng
Ta yêu em qua đông tàn ngày tận
Yêu em như yêu vùng trời mênh mông
Không cần biết đêm dài sâu
Không cần biết bao gầy hao
Ta ngồi đếm tên thời gian
Nghe thương yêu dâng cao như ngọn đồi
Như xa xôi nay quay về gần gụi
Yêu em khi chỉ biết đó là em
Để rồi từ đó ta yêu em không ngại ngần
Để rồi từ đó trong bước chân nghe gần hơn
Một ngày lại đến trái tim ta dại cuồng
Rồi từng chiều đến mang nỗi buồn vô biên
Cho dù biết em rồi đi
Cho dù biết không chờ chi
Nhưng lòng vẫn nghe cuồng si
Nghe trong ta quên đi lòng sầu hận
Ta yêu em chưa bao giờ một lần
Yêu em vì chỉ biết đó là em.
Ta yêu em chưa bao giờ một lần => Tên này khỏe thật
mặc định em đàn bà nông nổi
tiếng cười u mê như nước giếng mù khơi
mặc định em đàn bà dễ tin người
nên lời thề áo cơm cũng ôm dăm năm cho mòn nước mắt
ngỡ người son sắt
em cột đời mình vào những mặc định thủy chung
mặc định tình yêu với em là vùng trái cấm khôn cùng
những bồng bột chỉ dành cho thủa thiếu thời con gái
em mang ngây ngô khờ dại ấy
rắc lên ánh mắt đàn bà đã nguội lửa yêu đương
anh thắp trong cái vùng hoang mang chập chờn
ngọn pha lê lấp lánh tứ phương
mặc định bủa vây em vòng nghê thường tiếng nhạc từ kiếp nào lay lắt
em mặc định đời mình bằng những sợi tóc nhuộm màu đã phai dấu khôi nguyên
em mặc định đàn bà muôn kiếp đã lời nguyền
nông như chiếc cơi đựng những miếng phượng têm nhàu mùi cau non hoang hoải
em ngỡ mình từng trải
ai ngờ nghèo tênh trong đáy mắt anh
mặc định tình yêu có lúc đã chẳng trong lành
man trá lùa theo những sát na yêu đương hỗn loạn
mặc định em đàn bà không oán thán
tiếng cười cũng cạn như mùa nước lúc vào đông...
Viết bởi: Dự Long
09-01-2012, 02:08 PM
Chuyên đề: Tác Văn Lâu
- Không có hồi đáp
Có cơn mưa nào qua đây, sao trời trong xanh là thế..
Mượn 1 câu trong lời bài hát để bắt đầu cho những dòng tự sự, để thấy rằng cuộc đời này vẫn còn đó những hy vọng mà con người ta có thể đặt niềm tin vào đó. Ai cũng có lúc phải trải qua những đau khổ mà cuộc sống đã mang lại, bạn cũng thế và tôi cũng thế… Dù biết rằng không có nỗi đau nào giống với nỗi đau nào, dù bắt nguồn của nó là tình yêu, tình bạn hay là vì cuộc sống.
Bạn sẽ bảo rằng “tôi là người đau khổ nhất”
Người khác lại bảo “ Sao bằng tôi được,tôi mới là người đau nhất”…
Bạn đúng, người kia đúng và tôi đây cũng đúng. Khi đã trải qua rồi thì chính bạn hay tôi là người đau khổ nhất trong câu-chuyện-của-riêng-mình. Nỗi đau bắt nguồn từ sự hạnh phúc cũng như ngược lại, vì có những khoảnh khắc đẹp đẽ mới in dấu sâu đậm trong ký ức mỗi chúng ta và đó cũng là lý do tại sao khi mất đi điều gì đẹp nhất lại khiến cho con người ta dễ dàng gục ngã trên chính đôi chân của mình…
Xa nhau rồi mới biết ta mất đi điều trân trọng nhất, mất nhau rồi ta mới biết mình cần ai nhất.
Tại sao cứ phải dùng đến hai từ “chia tay” để tự nhủ rằng hãy xem đó như là một bài học, một kinh-nghiệm-sống cho chính bản thân mình mà có thể nó sẽ cắt đứt một sợi dây yêu thương gắn liền với những điều gì đó rất là thân thuộc. Sao không đặt nó vào hoàn cảnh khác, một vị trí khác để rồi khi nhìn nhau lần cuối nước mắt có thể rơi, miệng có thể cười và nói “Hẹn gặp lại” chỉ để không làm bận lòng cho kẻ-ra-đi, người-ở-lại…Khó lắm..
Nếu được chọn giữa yêu và ghét
Giữa muôn vàn hạnh phúc và hàng vạn nỗi đau
Thì chắc ai ai cũng đều chọn một
Chẳng ai lại muốn đau khổ tự bao giờ…
Nếu bạn là người may mắn trong hàng triệu triệu người, có một tình yêu trọn vẹn để yêu, thương, nhớ và hạnh phúc bên nhau từ cuộc tình đầu tiên thì hãy cám ơn vì điều đó. Còn nếu người chỉ là một cơn gió thoảng qua đời tôi, hoặc đôi lúc rong chơi mỏi mệt người dừng chân lại nhìn tôi và mỉm cười. Tôi cũng xin cám ơn người, sẽ trân trọng những khoảnh khắc ấy. Dẫu-không-cùng-nhau đi đến cuối con đường, dẫu chỉ một lần nắm tay nhau, một lần gặp nhau và trao cho nhau những nụ cười hay là giọt nước mắt thì người cũng đã-từng-đi-qua-đời-tôi. Ký ức vẫn còn in sâu trong những lần trở mình nghe vết thương đau nhói hay đơn giản chỉ là tự mỉm cười vì hạnh phúc không dễ gì quên.
Bạn sẽ dễ dàng chấp nhận làm tất cả chỉ để tình yêu trở lại, sẵn sàng tha thứ dù cho đó là những lỗi lầm lớn nhất cũng chỉ để người cũ quay về. Bạn muốn có một tình yêu thật trọn vẹn như là những gì bạn đã từng trải qua, cho nên bạn chỉ trông chờ và đặt nhầm niềm tin vào nó, mà không biết rằng có một tình yêu mới vẫn luôn chờ đợi bạn. Tự dặn lòng mình sẽ sống tốt, sống thật tốt để chứng minh mình không phải là kẻ yếu đuối, không cần người khác quan tâm, hay chỉ đơn giản là mình cần phải sống.
Để rồi đâu biết rằng nếu một ngày nào đó, người cũ có quay trở lại, khi đối diện với nhau thì người kia còn hồi hộp, lo lắng hơn chính bạn. Trong từng lời nói, nụ cười cũng chỉ là giao tiếp giữa những người bạn mà thôi.
Tự hỏi:” Tình yêu ngày ấy đâu rồi..?” Vì lâu rồi bạn đã quen sống như thế
Gửi người Yêu, Nhớ và Quên
Chiếc xe tải mất lái đâm vào một người mù đang được con chó dẫn đường. Người mù chết ngay. Con chó xông vào cứu chủ nên cũng bị chẹt chết. Linh hồn hai kẻ bị nạn bay lên trời, tới lối vào cổng thiên đường.
Thiên thần gác cổng chặn lại: “Xin lỗi, bây giờ danh sách lên thiên đường chỉ còn lại một suất. Một trong hai ngươi phải xuống địa ngục.”
Người chủ chó hỏi: “Con chó của tôi chưa hề biết thiên đường là gì, địa ngục là gì. Có thể để cho tôi quyết định ai được lên thiên đường hay không ạ ?”
Thiên thần nhìn người mù với ánh mắt khinh bỉ, chau mày nói: “Rất tiếc ! Đã là linh hồn thì đều bình đẳng với nhau. Các ngươi phải qua một cuộc thi để chọn ra kẻ được lên thiên đường.”
Người mù thất vọng hỏi: “Thi thế nào ạ ?”
“Rất đơn giản, thi chạy. Từ đây chạy tới cổng thiên đường, ai tới trước thì được lên thiên đường. Nhưng ngươi cũng đừng lo, vì ngươi đã chết rồi nên không còn là kẻ mù nữa, và tốc độ chạy của linh hồn thì không liên quan gì tới thể xác; linh hồn nào càng trong sạch lương thiện thì chạy càng nhanh.” Người mù nghĩ ngợi giây lát rồi đồng ý.
Khi tuyên bố cuộc chạy đua bắt đầu, thiên thần cứ tưởng người mù sẽ khôn ngoan ráng sức chạy thật nhanh, ai ngờ người đó vẫn đi thong thả chậm rãi. Kỳ lạ hơn là con chó dẫn đường kia cũng không chạy mà chỉ đi cùng với chủ của nó, không hề rời một bước. Bấy giờ thiên thần mới hiểu ra: bao năm nay con chó ấy đã tập được thói quen mãi mãi làm theo chủ nó, luôn luôn đi đằng trước để dẫn đường cho chủ, người chủ bảo gì thì nó nghe theo ngay. Rõ ràng, nếu là kẻ có tâm địa độc ác thì khi tới cổng thiên đường người chủ sẽ bảo con chó đứng lại để người đó dễ dàng thắng cuộc thi chạy này.
Thiên thần thương hại nhìn con chó và lớn tiếng bảo nó: “Mày đã vì cứu chủ mà hiến dâng tính mạng của mình, bây giờ chủ mày đã hết mù rồi, mày chẳng cần dẫn đường cho ông ta nữa, mày chạy nhanh lên nào !” Thế nhưng người chủ cũng như con chó, cả hai dường như chẳng nghe thấy thiên thần nói gì cả, vẫn cứ thong thả như đi dạo.
Khi tới cách cổng thiên đường vài bước chân, người chủ ra lệnh cho con chó dừng lại. Nó bèn ngoan ngoãn ngồi xuống. Thiên thần nhìn người chủ với ánh mắt khinh bỉ.
Người chủ nhoẻn miệng cười quay lại bảo thiên thần: “Tôi sắp sửa tiễn con chó của mình lên thiên đường. Bây giờ điều tôi lo nhất là nó thật sự không muốn lên đấy mà chỉ thích ở bên tôi ……Chính vì thế mà tôi muốn quyết định thay cho nó.”
Thiên thần ngạc nhiên đứng sững lại.
Người chủ nhìn con chó với ánh mắt lưu luyến, lại nói: “Thật tốt là ta có thể dùng cách chạy thi để quyết định thắng thua. Ít nhất tôi cũng có thể bảo con chó kia bước thêm vài bước nữa, như vậy nó có thể lên thiên đường được rồi. Có điều con chó này đi cùng tôi đã bao năm nay mà bây giờ lần đầu tiên tôi mới hết mù và được nhìn thấy nó bằng chính mắt của mình. Bởi vậy tôi muốn đi thong thả một chút để được nhìn nó lâu hơn. Nếu được phép thì có lẽ tôi thật sự muốn mãi mãi được nhìn thấy nó. Nhưng bây giờ đã tới cổng thiên đường rồi. Đây mới là nơi nó cần được đến. Xin thiên thần làm ơn chăm nom nó giúp tôi !”
Nói dứt lời, người chủ ra lệnh cho con chó tiến lên phía trước. Khi con chó tới cổng thiên đường thì người chủ rơi xuống địa ngục như một chiếc lá rụng. Con chó quay đầu nhìn thấy chủ nó rơi xuống bèn chạy thục mạng đuổi theo chủ.
Lúc bấy giờ, vị thiên thần lòng đầy hối hận vội giương cánh bay theo định túm lấy con chó dẫn đường. Nhưng vì con chó ấy vốn có linh hồn trong sạch nhất, lương thiện nhất, cho nên nó chạy nhanh hơn bất cứ thiên thần nào. Và thế là rốt cuộc con chó dẫn đường ấy lại trở về bên người chủ của nó. Dù là ở dưới địa ngục, nó cũng sẽ mãi mãi bảo vệ chủ của mình.
Thiên thần đứng rất lâu nhìn theo hai linh hồn đáng thương kia và lẩm bẩm: “Ngay từ đầu ta đã phạm sai lầm. Hai linh hồn ấy là một thể thống nhất không thể tách rời nhau. Được cùng ở bên nhau thì dù là thiên đường hay địa ngục chúng cũng bằng lòng.”
Lời đầu tiên chúng tôi gửi đến các bạn là lời chúc mừng năm mới. Happy new year, Thi ẩm trấn!
Mùa đông không chỉ là mùa của cô đơn giá lạnh. Khi trong lòng ta mang ngọn lửa yêu thương, thì mùa đông cũng ấm áp nồng nàn. Đó là cảm nhận chung của tôi khi đọc những tác phẩm dự thi "Event Mùa Đông & Giáng Sinh" năm nay. Và điều đáng mừng là chúng ta đã có thêm một số cây bút mới tham gia tranh giải. Các bạn được nhiệt liệt chào đón ở đây.
Tôi rất ấn tượng với bút lực của bạn Lãng, 11 bài dự thi, trong đó nhiều bài có tứ thơ hay, ý tưởng lạ, nhưng tiếc rằng tác giả đã không kiên nhẫn chau chuốt câu chữ để đạt tới sự hoàn thiện. Yêu cầu đầu tiên đối với một tính cách nghệ sĩ, đó là khát khao hướng đến sự hoàn mĩ. Tỉ mỉ trong từng câu chữ không phải để đánh mất tự do, mà ngược lại, đó là sự tìm kiếm cái Đẹp, hi sinh thời gian và công sức cho cái Đẹp không bao giờ là uổng phí.
Trong 11 bài của bạn Lãng, "Vào đông" là một điểm sáng.
Gốc gạo già vào Đông xa vắng
Cô đơn phơi rễ mỏi mòn
Hình ảnh thơ này đẹp quá! Đọc lên là cảm nhận ngay một niềm hoài cảm man mác. Phải suy tư về dĩ vãng nhiều lắm mới có được cái thời khắc để viết ra hai câu thơ như vậy. Gốc gạo già cô đơn đó có thể là ảo cảnh, có thể là sự lồng ghép từ những thước phim đời khác nhau mà nên, nhưng nó đã lột tả thành công một dòng cảm thức chân thành của người viết đối với những gì thuộc về miền ký ức riêng, mà lẽ ra, nếu không có thơ, anh ta sẽ phải giấu kín trong lòng mãi mãi. Thơ là câu chuyện giữa trực giác và tiềm thức. Xin đọc tiếp 4 câu khác trong bài :
Nỗi nhớ dài như hai mảnh sông quê
Đã bên bồi, bên lở
Khoảng thời gian xa anh đổ vỡ
Em xếp nhọc nhằn trôi trên thớ miên du…
Khổ thơ phác họa một không gian sống trầm lặng, hoang buồn và những lát cắt mộng mị, lê thê, ám ảnh. Để rồi từ đó, nỗi nhớ nhung vô hình dằng dặc phút chốc hiện ra, làm cho người đọc như sờ được tận tay, bất chấp tính chất hướng siêu hình của cái được miêu tả. Một đoạn thơ giản dị nhưng có thể gợi cảm hứng cho bất cứ họa sĩ ấn tượng nào.
Bạn Lãng có một bài khác cũng rất hay là "Tiếng cười ai treo giữa mùa Đông?". Nhưng vì phải chọn một, nên tôi xét giải nhì cho tác phẩm "Vào đông".
Giải Ba của event xin dành cho nữ thi sĩ Tiểu Chiêu với bài "Hẹn Noen". Tôi cảm nhận từ đây những ý tình mà bạn muốn gửi gắm. Bài thơ đã nói lên một phần, không phải tất cả, chân tình của một người con gái hiền lương mà trước mặt "người ấy", có lẽ bạn chẳng thể nào thốt được thành lời. Bởi thế, khi những hoài nghi và khát vọng, những chờ đợi và sợ hãi trong lòng bạn được bày tỏ, hiển hiện ra dưới hình thức thơ, chúng không chỉ là thơ mà thực sự là tiếng lòng của người con gái đang nôn nao, lo lắng trong buổi chiều hò hẹn. Anh ấy có đến như lời hứa? Và nếu anh đến thì mọi chuyện sẽ diễn ra có như mình tưởng tượng không? Rồi ngày sau, sau nữa, liệu tình yêu có suôn sẻ, hai tâm hồn có gặp gỡ và hai đứa mình có thể nắm tay nhau đi tới bến bờ hạnh phúc hay không? Tất cả những câu hỏi mà bạn không nói ra được trong thơ, nếu tôi đã nhận thấy thì có lẽ người ấy của bạn cũng nhận thấy. Đừng bao giờ đánh mất niềm tin vào tình yêu nhé!
Tác giả Nhuợc Thủy có bài thơ "Đông về..." cũng khá hay, nhưng chúng tôi quyết định giành cho bạn một giải Ba với bài viết về người cha thật cảm động. Cách mà câu chuyện kết thúc bất ngờ đã gây ấn tượng lạ lùng, khiến tôi phải trở lên trên đọc lại thêm hai lần nữa. Dù rằng ai đó có thể nói motif câu chuyện không mới, nhưng lối viết truyện ngắn như thế tôi cho là đạt, và có sáng tạo. Chỉ mong bạn về sau trình bày văn bản như mọi người khác, không nên màu mè và để font chữ to quá, làm mất đi phần nào cái duyên của tác phẩm.
Như vậy, event này chúng ta có 2 tác giả đồng giải Ba, mong ban tổ chức lưu ý để lo tiền thưởng cho đủ.
Còn giải Nhất của cuộc thi, tôi rất hân hạnh được trao cho một thành viên mới và tương đối ít tham gia thảo luận trên diễn đàn. Bài thơ bạn ấy gửi tới event vốn không có tiêu đề, tôi tạm lấy câu đầu làm tiêu đề cho tác phẩm : “Thị trấn mùa đông”, đây cũng chính là tên của thí sinh đoạt giải, bạn thitranmuadong. Bài thơ này có lẽ được viết từ trước, và cái thị trấn mùa đông mà bạn nói tới chắc hẳn phải chiếm một vị trí rất quan trọng trong cuộc đời bạn, thì bạn mới dùng nó làm nick name và rồi gửi bài thơ tới event như một sự ngẫu hứng bất chợt.
Mời các bạn đọc lại bài thơ này, một bài thơ nhỏ nhắn, dễ thương mà đọc lên, tôi hình dung ngay bóng dáng của một nàng thiếu nữ miền sơn cước, và cái nhịp thơ ngắn, nhanh, như phản chiếu từng bước chân yêu kiều nhún nhảy tinh nghịch của nàng.
Thị trấn mùa đông
Thị trấn mùa đông
Mờ sương trắng
Con đường không nắng
Em co ro
Ruộng lúa bậc thềm
Xanh xanh ngọt
Líu lo chim hót
Giọt trong veo
Ngơ ngác chạy theo
Đàn mây trắng
Em gom gió tặng
Ngọn cỏ đùa
Đông sắp tàn mùa
Em có thích?
Thị trấn cổ tích
Mãi lung linh.
Bài thơ có người đẹp nguyên sơ, có cảnh đẹp nguyên sơ, và diễn tiến của nó như ngầm tuân thủ quy luật xa gần trong hội họa. Đầu tiên, tác giả trải rộng trước mắt chúng ta khung cảnh một thị trấn miền núi nhìn từ xa. Thị trấn ấy đang chìm trong sương trắng mùa đông. Rồi khi đến gần, chúng ta bắt gặp một cô gái. Cô gái ấy dẫn chúng ta dạo chơi, qua những con ngõ, những khoảng đồi, những đồng lúa. Ở đó, trong thanh lặng, ta được nhìn mây trắng và lắng nghe tiếng chim hót trong trẻo. Khổ thơ thứ tư gợi tả hình ảnh cô bé đang hồn nhiên tung tăng giữa vùng không gian bao la, thuần khiết. Nhưng đột nhiên, tất cả bỗng trở nên lung linh huyền ảo, thu lại qua một cái nhìn đầy thơ mộng, trinh nguyên.
Đấy thực sự là thơ. Rất thơ. Hãy cảm nhận.
"Event Mùa Đông & Giáng Sinh" năm nay là một event mà số lượng bài nhiều hơn hẳn do với dự kiến, khiến chúng tôi không kịp xử lý trước 1/1/2012. Chúng tôi xin nhận lỗi với ban tổ chức và tất cả các bạn. Riêng cá nhân tôi xin nhận hình thức kỷ luật "tự phê bình".
Kính chúc ban tổ chức và các bạn cùng toàn thể gia quyến năm mới an khang, thịnh vượng, và đặc biệt là, có thêm nhiều tác phẩm hay hơn nữa.
Hẹn gặp lại quý vị trong event “Tình xuân” sẽ được mở trong những ngày cuối năm âm lịch sắp tới.
[font=Verdana][size=small]Có bao giờ bạn khóc trong vô thức không? Có bao giờ lòng bạn đột nhiên trùng xuống? Và có không.. một lúc nào đó.. bạn chợt cảm thấy một cái khoát tay như một điểm tựa để bạn an tâm nức nở trong lòng một ai..
Có một chú cá nhỏ, sống vô tư, vô lo vô nghĩ.. Ngày ngày ca hát, múa vui bên bạn bè.. Bỗng một ngày, chú cá đó cảm thấy bồi hồi trước một con cá khác. Con cá đó rất đẹp, nó lấp lánh đến mức toả sáng dưới ánh trăng .. có rất nhiều nàng cá yêu nó.. Cô cá nhỏ của chúng ta cũng thế.. nhưng cô chưa từng tiến đến để thổ lộ cho chàng cá đó biết..
Hàng ngày, nàng cá nhỏ chỉ biết dõi theo bóng hình của chàng cá kiêu hãnh kia.. Chàng ta lâu ngày cũng quen với việc có một con cá nhỏ cứ bơi theo mình mỗi ngày, .. nhắc nhở chàng, hỏi thăm chàng, cố gắng đem tiếng cười đến cho chàng, và tình nguyện .. làm kẻ thế thân nếu chàng bắt đầu thấy chán một mối tình nào..
Những khi chàng ta ôm nàng vào lòng để giả vờ đuổi khéo một nàng cá khác đi.. Nàng cá nhỏ của chúng ta luôn cảm thấy rất hạnh phúc.. Cứ ôm siết lấy chàng, để rồi chàng nhẹ nhàng gỡ tay nàng ra và nói :"Đi thôi cô bé, em muốn ăn gì nào?"
Có giấc mơ nào thành hiện thực đâu nàng cá ngu ngốc? Nàng chỉ là một cô em gái bé bỏng, một vật thế thân mà thôi..
Đến một ngày.. nàng cá của chúng ta hoàn toàn trưởng thành.. Trút bỏ lớp ngoài trẻ con và biến chuyển thành một nàng thiếu nữ.. Nàng vẫn yêu chàng.. vẫn yêu mãi..
Đến một ngày.. chàng cá nhận ra cô bé lẽo đẽo theo mình ngày nào giờ đây đã trở nên xinh đẹp hơn.. ánh mắt vô tư của nàng, hay khi nàng giận dỗi chàng đều toát lên một nỗi buồn chất chứa.. Có một hồi trống ngân vang trong ngực chàng.. Có giống không? Hồi trống lòng một năm về trước của nàng..!?
Có một hôm, khi nàng cá đang ca hát bên bạn bè và chàng dưới ánh trăng rằm huyền hoặc.. Một anh cá đáng yêu, lí lắc y hệt tính tình của nàng đã đến bên và nói lời yêu nàng.. Bất giác nàng thẹn thùng đỏ mặt.. hơi nóng từ đôi má toả ra làm làn nước như có hơi thở..
Tất cả im lặng chờ nghe lời trả lời của nàng..
Im lặng đến đáng sợ ..
Nàng lén nhìn chàng, chàng đang múa cùng một chị cá rất kiều diễm..
Phút đau đớn.. nàng khẽ cám ơn anh cá đáng yêu và .. cũng thật nhẹ nhàng, nàng gật đầu đồng ý..
Thời khắc đó, đọng lại trong lòng mỗi người một nỗi niềm..
Chàng cá chết lặng trong giai điệu du dương của sóng
Nàng cá đau đớn ôm chặt lấy đôi môi khô
Anh cá thở hắt ra..
-------------------------------------
Một năm nữa lại trôi qua, nàng cá sống bên cạnh anh cá.. Cùng anh ca, cùng anh hát.. nhưng nàng chưa bao giờ đặt vào tay anh cá một tình yêu nào cả.. Tội nghiệp anh cá.. tội nghiệp tình yêu của họ..
Nàng cá gặp lại chàng cá ngày xưa.. chàng giờ đây trông thật tiều tuỵ.. bên chàng giờ đây cũng không còn ai nữa.. Chàng mỉm cười nhìn nàng, bao mệt mỏi chợt tan biến..
Nàng khóc, nhưng nước mắt hoà vào nước, nên nàng chẳng nhận ra đâu là nước biển, đâu là nước mắt.. Họ ôm nhau, như những cái ôm ngày xưa..
Anh cá tất tả tìm nàng cá của mình.. Anh không biết nàng bỏ đi đâu cả một buổi chiều.. Lòng anh đau như cắt khi con sóng mỗi ngày một lớn.. Anh liều lĩnh tiến vào bờ để xem nàng có bị sóng đánh dạt vào không.. Suýt chút anh bị đám trẻ con bắt đc.. Anh liều mình băng qua sóng lớn, con sóng đánh anh bay vút lên trời xanh rồi rơi tự do xuống..
Anh tựa mình vào một rặng san hô.. Khẽ gọi tên người con gái anh yêu..
Ở nơi đấy, anh đã tìm ra đc chiếc đuôi xinh đẹp của nàng.. Anh vội vã tiến đến.. và anh chợt nhận ra "ngừơi anh" mà nàng đã kể năm xưa.. Họ.. đang hôn nhau.. tha thiết đến quên cả đất trời.. quên không nhìn thấy có ai đó đang muốn chết ngay trước họ..
---------------------------
Anh cá rời xa nàng cá.. Trả lại cho nàng mối tình bao năm mà nàng vun đắp..
Nàng cá cùng chàng cá tiếp tục hạnh phúc bên nhau.. Một hạnh phúc thật sự.. Nhưng đâu đó trong ký ức và hịện tại, nàng vẫn vô thức gọi tên anh cá, khiến chàng cá từ chịu đựng đến bùng nổ..
Họ đã cãi nhau.. Nàng cá buồn bã tìm về rặng san hô ngày xưa, nơi đó có một dòng chữ :"Nếu em buồn, hãy đến đây, anh đã nhờ san hô gọi hạnh phúc về cùng em rồi.. Anh mãi mãi bên em.. mãi mãi.. em có biết từ mãi mãi không?"
-----------------------------
Chàng cá lại chứng nào tật nấy, lại yêu hết lòng thêm nhiều nàng cá khác.. Mặc cho những giọt nước mắt của nàng cá mỗi ngày làm cho nước biển mặn hơn.. Ánh mắt của chàng nhìn nàng thật sắc lạnh..
Nàng cá bỏ đi.. không một lời từ biệt.. Nàng sống cô đơn lạnh lẽo suốt những năm tháng tiếp theo.. Mỗi khi buồn đau, nàng lại lén tìm về rặng san hô ngày nào.. nơi đã chôn vùi rất nhiều kỷ niệm mà nàng từng có..
Đến một ngày đông u uất.. nàng trở về nơi xưa và gặp lại một người bạn
- Cậu đã đi đâu suốt thời gian qua vậy?
- Mình có việc đi xa..
- ...
- Cậu có khỏe không? Sao trông cậu xanh xao thế?
- Cá nhỏ à.. mình cho cậu biết một việc..
- Chuyện gì thế?
- Về Cá lớn..
- Đừng! Mình chẳng muốn nghe bất cứ điều gì về anh ấy..
Nói rồi nàng cá quay đi.. Người bạn hét lớn trong nước mắt..
- Cá nhỏ! Cậu sẽ hối hận nếu lần này lại ra đi. Cá lớn sắp xa chúng ta mãi mãi rồi.. cậu có biết mãi mãi là nghĩa gì không?
Nàng cá của chúng ta chết lặng trong làn nước lạnh lẽo.. Nàng đã phải nghe lại câu chuyện ngày ấy một lần nữa trong tiếng nấc nghẹn ngào của người bạn..
Ngày ấy, chàng cá biết mình đã mắc một căn bệnh hiểm nghèo.. Chàng không muốn gây đau khổ cho nàng, nên đã chọn cách hành xử tàn nhẫn ấy.. Ngày ấy, khi bạn bè định nói ra để giữ nàng lại, chàng đã sống chết không chịu và để nàng ra đi.. Ngày ấy, chàng đã nhìn qua khung cửa và rớt nước mắt gọi tên nàng, mãi đến khi bóng dáng nhỏ nhắn của nàng khuất dần..
--------------------------------------------
Nàng cá của chúng ta, tâm hồn bé nhỏ đó đã chết mãi mãi.. Chẳng biết mai này có ai có thể đặt vào tay nàng hai chữ hạnh phúc không..
Chàng cá.. Anh cá.. tất cả đều để lại trong nàng một hồi ức đẹp lẫn đau lòng..