<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0" xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
	<channel>
		<title><![CDATA[Thi Ẩm Lâu - Phiếm Luận Đường]]></title>
		<link>https://thiamlau.com/forum/</link>
		<description><![CDATA[Thi Ẩm Lâu - https://thiamlau.com/forum]]></description>
		<pubDate>Sat, 18 Apr 2026 13:50:10 +0000</pubDate>
		<generator>MyBB</generator>
		<item>
			<title><![CDATA[Kiêu Ngạo Luận]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-2611.html</link>
			<pubDate>Mon, 01 Feb 2021 19:01:44 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=9">Ngạo</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-2611.html</guid>
			<description><![CDATA[Kiêu Ngạo Luận <br />
<br />
Cuộc sống là chuỗi ngày đấu tranh với chính mình và chiến thắng bản thân. Muốn vậy phải Ngạo .<br />
Kiêu Ngạo hay Khiêm Nhường đều viết tắt là K.N <br />
Người đời đều ca tụng đức Khiêm mà chê đức Ngạo .<br />
Kinh Dịch có câu :<br />
<br />
謙: 亨, 君子有終．<br />
<br />
Khiêm: Hanh, quân tử hữu chung.<br />
<br />
Dịch: Nhún nhường, hanh thông, người quân tử giữ được trọn vẹn tới cuối.<br />
<br />
Giảng: Trên là đất, dưới là núi. Núi cao, đất thấp, núi chịu ở dưới đất là cái tượng nhún nhường. Khiêm hạ. Vì vậy mà được hanh thông.<br />
<br />
Thoán truyện bàn thêm: Khiêm là đạo của trời, đất và người .<br />
<br />
Trời có đức khiêm vì ở trên đi xuống chỗ thấp mà sáng tỏ; đất có đức khiêm vì chịu ở dưới mà đi lên. Đạo trời, cái gì đầy thì làm cho khuyết đi, cái gì thấp kém (khiêm) thì bù đắp cho (Thiên đạo khuy doanh nhi ích khiêm). Đạo đất, đạo quỉ thần cũng vậy. Còn đạo người thì ghét kẻ đầy, tức sự kiêu căng thỏa mãn, mà thích kẻ khiêm tốn (Nhân đạo ố doanh nhi hiếu khiêm). Hễ khiêm thì ở địa vị cao mà đạo càng sáng, ở địa vị thấp mà chẳng ai vượt mình được.<br />
<br />
Khiêm tốn hạ mình thì cũng tốt thế nhưng ở đời nó mất dạy là cứ hạ mình xuống là tự khắc có thằng leo lên đầu mình ngồi . Khiêm tốn từ chối mọi khen tặng hay vờ khiêm tốn lại bằng bốn tự cao . Thế chi bằng Kiêu Ngạo .<br />
Kiêu ngạo thường được coi là một khuyết điểm của tính cách, nhưng sự kiêu ngạo được thực hiện đúng cách có thể mang lại cho ta lợi ích không nhỏ.<br />
<br />
Sự kiêu ngạo khiến ta không thể quỳ gối trước khó khăn , không quỳ gối trước cường thế cường quyền ,kiêu ngạo không van xin tình yêu , không lạy bái thần tượng .<br />
Sự kiêu ngạo biến ngưỡng mộ thành vượt lên , biến khuyết điểm thành quyết tâm sửa lỗi . Kiêu Ngạo để mà rèn luyện bản thân ,ma luyện chính mình để trước là vượt lên chính mình và hạ gục kẻ khác một cách kiêu hãnh .<br />
<br />
Sự kiêu ngạo khiến một người cực kỳ khó thuần phục người khác nếu thấy không xứng đáng. Há chả phải Khổng Minh không kiêu ngạo khi ngồi lều cỏ mà bắt Lưu Bị tam cố thảo lư mới chịu ra giúp .<br />
<br />
Kiêu Ngạo hại ta ít bạn nhưng bạn đáng bạn còn hơn có cả đống bè hihi haha xong móc dao đâm sau lưng hồi nào không biết , giàu thì chúng nịnh , nghèo thì chúng khinh , bình bình thì chúng đạp .<br />
Kiêu Ngạo bằng bốn tự trọng , thà ta đói ăn mì gói chứ chả mấy khi chịu cúi đầu vì miếng ăn ,thà ta ngủ gầm cầu mặc áo rách còn hơn làm chó chui gầm chạn nhà người. Thà ta cơ hàn còn hơn cúi đầu dạ thưa nghe người xui khiến. <br />
<br />
Thể hiện khả năng của ta một cách công khai. Cạnh tranh thường xuyên để giữ cho kỹ năng của ta sắc bén và khao khát chiến thắng lớn. Tốt hơn nhiều là ta nên khoe khoang và khoe khoang về những điều mà người khác đã biết hoặc đã thấy ta làm, điều này khiến việc khoe khoang của ta trở nên đáng tin hơn nhiều. Hãy nỗ lực để giành được những thứ mà ta biết rằng mình có thể giành được bằng kỹ năng với tính cách kiêu ngạo của mình.<br />
<br />
Ta bắt đầu cạnh tranh càng sớm thì càng tốt. Nếu ta tạo được lợi thế cạnh tranh nghiêm túc cho bản thân ngay từ khi còn nhỏ, điều đó sẽ kéo dài qua những năm trưởng thành của ta<br />
Hãy cạnh tranh trong mọi khía cạnh của cuộc sống của bằng sự kiêu ngạo .<br />
Kiêu Ngạo để mà sống ,không phải sống để Kiêu Ngạo .<br />
Dấu sự Kiêu Ngạo trong áo khoác Khiêm Nhường để làm tổng bí thì may ra được . Khiêm nhường đúng chổ.. giỏi có quyền Ngạo chả nhẽ phải tự chê mình . Hiểu mình và sửa mình mới là chính Ngạo ..<br />
<br />
Thà là chim bay mang tiếng tiểu nhân mà leo lên đầu nhành mai đại nhân  mà đậu .<br />
<br />
Ngạo]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Kiêu Ngạo Luận <br />
<br />
Cuộc sống là chuỗi ngày đấu tranh với chính mình và chiến thắng bản thân. Muốn vậy phải Ngạo .<br />
Kiêu Ngạo hay Khiêm Nhường đều viết tắt là K.N <br />
Người đời đều ca tụng đức Khiêm mà chê đức Ngạo .<br />
Kinh Dịch có câu :<br />
<br />
謙: 亨, 君子有終．<br />
<br />
Khiêm: Hanh, quân tử hữu chung.<br />
<br />
Dịch: Nhún nhường, hanh thông, người quân tử giữ được trọn vẹn tới cuối.<br />
<br />
Giảng: Trên là đất, dưới là núi. Núi cao, đất thấp, núi chịu ở dưới đất là cái tượng nhún nhường. Khiêm hạ. Vì vậy mà được hanh thông.<br />
<br />
Thoán truyện bàn thêm: Khiêm là đạo của trời, đất và người .<br />
<br />
Trời có đức khiêm vì ở trên đi xuống chỗ thấp mà sáng tỏ; đất có đức khiêm vì chịu ở dưới mà đi lên. Đạo trời, cái gì đầy thì làm cho khuyết đi, cái gì thấp kém (khiêm) thì bù đắp cho (Thiên đạo khuy doanh nhi ích khiêm). Đạo đất, đạo quỉ thần cũng vậy. Còn đạo người thì ghét kẻ đầy, tức sự kiêu căng thỏa mãn, mà thích kẻ khiêm tốn (Nhân đạo ố doanh nhi hiếu khiêm). Hễ khiêm thì ở địa vị cao mà đạo càng sáng, ở địa vị thấp mà chẳng ai vượt mình được.<br />
<br />
Khiêm tốn hạ mình thì cũng tốt thế nhưng ở đời nó mất dạy là cứ hạ mình xuống là tự khắc có thằng leo lên đầu mình ngồi . Khiêm tốn từ chối mọi khen tặng hay vờ khiêm tốn lại bằng bốn tự cao . Thế chi bằng Kiêu Ngạo .<br />
Kiêu ngạo thường được coi là một khuyết điểm của tính cách, nhưng sự kiêu ngạo được thực hiện đúng cách có thể mang lại cho ta lợi ích không nhỏ.<br />
<br />
Sự kiêu ngạo khiến ta không thể quỳ gối trước khó khăn , không quỳ gối trước cường thế cường quyền ,kiêu ngạo không van xin tình yêu , không lạy bái thần tượng .<br />
Sự kiêu ngạo biến ngưỡng mộ thành vượt lên , biến khuyết điểm thành quyết tâm sửa lỗi . Kiêu Ngạo để mà rèn luyện bản thân ,ma luyện chính mình để trước là vượt lên chính mình và hạ gục kẻ khác một cách kiêu hãnh .<br />
<br />
Sự kiêu ngạo khiến một người cực kỳ khó thuần phục người khác nếu thấy không xứng đáng. Há chả phải Khổng Minh không kiêu ngạo khi ngồi lều cỏ mà bắt Lưu Bị tam cố thảo lư mới chịu ra giúp .<br />
<br />
Kiêu Ngạo hại ta ít bạn nhưng bạn đáng bạn còn hơn có cả đống bè hihi haha xong móc dao đâm sau lưng hồi nào không biết , giàu thì chúng nịnh , nghèo thì chúng khinh , bình bình thì chúng đạp .<br />
Kiêu Ngạo bằng bốn tự trọng , thà ta đói ăn mì gói chứ chả mấy khi chịu cúi đầu vì miếng ăn ,thà ta ngủ gầm cầu mặc áo rách còn hơn làm chó chui gầm chạn nhà người. Thà ta cơ hàn còn hơn cúi đầu dạ thưa nghe người xui khiến. <br />
<br />
Thể hiện khả năng của ta một cách công khai. Cạnh tranh thường xuyên để giữ cho kỹ năng của ta sắc bén và khao khát chiến thắng lớn. Tốt hơn nhiều là ta nên khoe khoang và khoe khoang về những điều mà người khác đã biết hoặc đã thấy ta làm, điều này khiến việc khoe khoang của ta trở nên đáng tin hơn nhiều. Hãy nỗ lực để giành được những thứ mà ta biết rằng mình có thể giành được bằng kỹ năng với tính cách kiêu ngạo của mình.<br />
<br />
Ta bắt đầu cạnh tranh càng sớm thì càng tốt. Nếu ta tạo được lợi thế cạnh tranh nghiêm túc cho bản thân ngay từ khi còn nhỏ, điều đó sẽ kéo dài qua những năm trưởng thành của ta<br />
Hãy cạnh tranh trong mọi khía cạnh của cuộc sống của bằng sự kiêu ngạo .<br />
Kiêu Ngạo để mà sống ,không phải sống để Kiêu Ngạo .<br />
Dấu sự Kiêu Ngạo trong áo khoác Khiêm Nhường để làm tổng bí thì may ra được . Khiêm nhường đúng chổ.. giỏi có quyền Ngạo chả nhẽ phải tự chê mình . Hiểu mình và sửa mình mới là chính Ngạo ..<br />
<br />
Thà là chim bay mang tiếng tiểu nhân mà leo lên đầu nhành mai đại nhân  mà đậu .<br />
<br />
Ngạo]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Bàn về từ “Nhại” trong thơ Thanh Thí]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1993.html</link>
			<pubDate>Mon, 23 Mar 2015 07:15:09 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=1">hothiethoa</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1993.html</guid>
			<description><![CDATA[Thanh Thí là một trong Ngủ* Đại Thi Nhơn của Thi Ẩm Lầu. Bao nhiêu năm lăn lộn trên thi trường trong nước và thế giới, anh đã để lại cho đời một kho tàng thơ ca đồ sộ mà không có một cơ quan đăng kiểm nào thống kê hết. Đặc biệt là cách dùng từ lạ lẫm, giàu hình tượng của mình, không phải là “cưỡng từ đoạt lý” mà nó thong dong, như chính con người anh vậy. Nhìn bình dị mộc mạc mà ngẫm thấy sâu sắc khó dò không thua gì lỗ đen chị Dậu.<br />
Bài thơ gần đây của anh, bài “Cũng Gần Như Rứa”, với cách dùng từ “Nhại” - một từ dân dã – mà giàu hình tượng một cách lạ kỳ, tôi sẽ phân tích bên dưới, nhưng trước hết mời quý vị đọc bài thơ này<br />
<br />
Cũng gần như rứa<br />
**********************<br />
Bàn chân nhại bước phong trần<br />
từ trong lầm lũi bất cần mà đi<br />
Hoang sơ nhại nét nhu mỳ<br />
từ trong tịch mịch níu ghì dung nhan<br />
Nhớ em tôi nhại hoang đàng<br />
Đập tan tư tưởng chảy tràn lênh loang...<br />
Yêu em từ thuở mang mang<br />
Để tôi nhại cả huênh hoang sầu đời<br />
-	Thanh Thí Du Côn Thuy Sũy-<br />
<br />
Theo nghĩa thông thường từ Nhại có nghĩa là lặp… như kiểu bắt chước, nó có ý như từ “nhái”, lại có ý như từ “lắp” trong chữ lắp bắp. Nhưng túm lại nghĩa của nó có thể hiểu là gần như là lặp lại. Ở hai câu đều tiên “Bàn chân nhại bước phong trần-từ trong lầm lũi bất cần mà đi”. Chân mà phong trần, là chân không đeo bao, cứ đi ra đi vào trần trụi vậy đó! Bất cần thật vì bản thân nó là cần rồi, cần thêm gì nữa, tứ lầm lầm mà lũi thôi. Hành động lặp đi lặp lại này thật nhịp nhàng, như cơn sóng, như là con thoi. Bước phong trần đó nó đi tới đi lui, chỉ 2 câu thôi mà đủ làm người mê mẩn.<br />
.<br />
Ấy thế nhưng từ "nhại" ở hai câu kế “Hoang sơ nhại nét nhu mỳ - từ trong tịch mịch níu ghì dung nhan” lại không liên quan gì tới nghĩa là lặp đi lặp lại cả, nó xuất xứ từ từ "nhạy" viết theo cải cách, Y dài thành i ngắn nên gọi là "nhại" vậy thôi! Cái vùng hoang sơ đó, nó nhu mỳ, nó mềm lắm, Nhu là mềm, mì hay mỳ là cái bột mì ấy. Vì thế nhạy, mềm như bột mì mà lại nhạy, đụng vào cái vùng hoang sơ ấy là dính tay ngay. Câu 2 của khổ 2 càng khẳng định ý trên. Dung nhan ai cũng hiểu là cái khuôn mặt. Cái vùng nhạy đầy nét nhu mỳ ấy, cái vùng hoang sơ ấy, cái vùng tịch mịch ấy nó quyến rũ cái mặt đưa vào, ghì lấy, xiếc lấy. Thật là một cảnh tượng y như trong kinh…Tố nữ không kém bao nhiêu.<br />
.<br />
<br />
Và đúng với chủ đề “nhại”, hai câu kế tiếp nó quay về với nghĩa lặp lại như ban đầu. Nhưng trong hoàn cảnh hoàn toàn khác. Nó không lầm lũi nữa, nó mang một tinh thần tự nhại cao. “Nhớ em tôi nhại hoang đàng -  Đập tan tư tưởng chảy tràn lênh loang...” Để rồi sau khi anh nhớ, anh tự nhại đi nhại lại cái bước chân hoang, khi mà cảm giác đã đập tan được tư tưởng, thì nó lênh láng lênh loang ra. Sau đó không biết tác giả lau dọn hiện trường thế nào, nhưng khổ này theo tôi là giàu hình tượng bật nhất trong bài. Rõ ràng, chỉ có Thanh Thí mới đem về một tầm mới cho ngôn ngữ. Người ta có đồng âm khác nghĩa, dị âm khác nghĩa, nhưng Thanh Thí đã đem một cùng một từ, cùng một nghĩa vào hai hoàn cảnh khác nhau, chỉ thêm mỗi chữ nhớ em mà nó đã ra một khung cảnh khác hoàn toàn rồi.<br />
Đúng với mô tuýp Đầu thực luận kết, nhưng ứng vào thơ lục bát, Thanh Thí nhại hay nhạy ở hỗn hợp mà chung vào một từ ở hai câu cuối, dù là nhạy hay nhại đều đem về cho người sự phiêu du. Cái từ huênh hoang hay lắm quý vị ạ, nó là từ ghép “tuênh huênh”,”toang hoang”, vừa mở vừa đóng. Khi nhại ở khổ 1 thì nó toang hoang, ở 2 câu kế thì nó huênh hoang, 2 câu cuối thì tuênh huênh”<br />
Yêu em từ thuở mang mang<br />
Để tôi nhại cả huênh hoang sầu đời<br />
Vâng, chỉ có Thanh Thí mới có lối dùng chữ độc đáo vậy, chỉ một từ, trong một câu mà diễn đạt nhiều ý nghĩa, nghĩa nào cũng thâm thúy đến lạ! Và từ đây, ta biết từ “nhại” đã đi vào lịch sữ văn học Việt, cũng bao la cảm xúc không kém gì những từ Yêu, Thương, Hờn, Giận, Ghét.<br />
<br />
Hớ - 23.03.2015<br />
<br />
*ngủ #ngũ]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Thanh Thí là một trong Ngủ* Đại Thi Nhơn của Thi Ẩm Lầu. Bao nhiêu năm lăn lộn trên thi trường trong nước và thế giới, anh đã để lại cho đời một kho tàng thơ ca đồ sộ mà không có một cơ quan đăng kiểm nào thống kê hết. Đặc biệt là cách dùng từ lạ lẫm, giàu hình tượng của mình, không phải là “cưỡng từ đoạt lý” mà nó thong dong, như chính con người anh vậy. Nhìn bình dị mộc mạc mà ngẫm thấy sâu sắc khó dò không thua gì lỗ đen chị Dậu.<br />
Bài thơ gần đây của anh, bài “Cũng Gần Như Rứa”, với cách dùng từ “Nhại” - một từ dân dã – mà giàu hình tượng một cách lạ kỳ, tôi sẽ phân tích bên dưới, nhưng trước hết mời quý vị đọc bài thơ này<br />
<br />
Cũng gần như rứa<br />
**********************<br />
Bàn chân nhại bước phong trần<br />
từ trong lầm lũi bất cần mà đi<br />
Hoang sơ nhại nét nhu mỳ<br />
từ trong tịch mịch níu ghì dung nhan<br />
Nhớ em tôi nhại hoang đàng<br />
Đập tan tư tưởng chảy tràn lênh loang...<br />
Yêu em từ thuở mang mang<br />
Để tôi nhại cả huênh hoang sầu đời<br />
-	Thanh Thí Du Côn Thuy Sũy-<br />
<br />
Theo nghĩa thông thường từ Nhại có nghĩa là lặp… như kiểu bắt chước, nó có ý như từ “nhái”, lại có ý như từ “lắp” trong chữ lắp bắp. Nhưng túm lại nghĩa của nó có thể hiểu là gần như là lặp lại. Ở hai câu đều tiên “Bàn chân nhại bước phong trần-từ trong lầm lũi bất cần mà đi”. Chân mà phong trần, là chân không đeo bao, cứ đi ra đi vào trần trụi vậy đó! Bất cần thật vì bản thân nó là cần rồi, cần thêm gì nữa, tứ lầm lầm mà lũi thôi. Hành động lặp đi lặp lại này thật nhịp nhàng, như cơn sóng, như là con thoi. Bước phong trần đó nó đi tới đi lui, chỉ 2 câu thôi mà đủ làm người mê mẩn.<br />
.<br />
Ấy thế nhưng từ "nhại" ở hai câu kế “Hoang sơ nhại nét nhu mỳ - từ trong tịch mịch níu ghì dung nhan” lại không liên quan gì tới nghĩa là lặp đi lặp lại cả, nó xuất xứ từ từ "nhạy" viết theo cải cách, Y dài thành i ngắn nên gọi là "nhại" vậy thôi! Cái vùng hoang sơ đó, nó nhu mỳ, nó mềm lắm, Nhu là mềm, mì hay mỳ là cái bột mì ấy. Vì thế nhạy, mềm như bột mì mà lại nhạy, đụng vào cái vùng hoang sơ ấy là dính tay ngay. Câu 2 của khổ 2 càng khẳng định ý trên. Dung nhan ai cũng hiểu là cái khuôn mặt. Cái vùng nhạy đầy nét nhu mỳ ấy, cái vùng hoang sơ ấy, cái vùng tịch mịch ấy nó quyến rũ cái mặt đưa vào, ghì lấy, xiếc lấy. Thật là một cảnh tượng y như trong kinh…Tố nữ không kém bao nhiêu.<br />
.<br />
<br />
Và đúng với chủ đề “nhại”, hai câu kế tiếp nó quay về với nghĩa lặp lại như ban đầu. Nhưng trong hoàn cảnh hoàn toàn khác. Nó không lầm lũi nữa, nó mang một tinh thần tự nhại cao. “Nhớ em tôi nhại hoang đàng -  Đập tan tư tưởng chảy tràn lênh loang...” Để rồi sau khi anh nhớ, anh tự nhại đi nhại lại cái bước chân hoang, khi mà cảm giác đã đập tan được tư tưởng, thì nó lênh láng lênh loang ra. Sau đó không biết tác giả lau dọn hiện trường thế nào, nhưng khổ này theo tôi là giàu hình tượng bật nhất trong bài. Rõ ràng, chỉ có Thanh Thí mới đem về một tầm mới cho ngôn ngữ. Người ta có đồng âm khác nghĩa, dị âm khác nghĩa, nhưng Thanh Thí đã đem một cùng một từ, cùng một nghĩa vào hai hoàn cảnh khác nhau, chỉ thêm mỗi chữ nhớ em mà nó đã ra một khung cảnh khác hoàn toàn rồi.<br />
Đúng với mô tuýp Đầu thực luận kết, nhưng ứng vào thơ lục bát, Thanh Thí nhại hay nhạy ở hỗn hợp mà chung vào một từ ở hai câu cuối, dù là nhạy hay nhại đều đem về cho người sự phiêu du. Cái từ huênh hoang hay lắm quý vị ạ, nó là từ ghép “tuênh huênh”,”toang hoang”, vừa mở vừa đóng. Khi nhại ở khổ 1 thì nó toang hoang, ở 2 câu kế thì nó huênh hoang, 2 câu cuối thì tuênh huênh”<br />
Yêu em từ thuở mang mang<br />
Để tôi nhại cả huênh hoang sầu đời<br />
Vâng, chỉ có Thanh Thí mới có lối dùng chữ độc đáo vậy, chỉ một từ, trong một câu mà diễn đạt nhiều ý nghĩa, nghĩa nào cũng thâm thúy đến lạ! Và từ đây, ta biết từ “nhại” đã đi vào lịch sữ văn học Việt, cũng bao la cảm xúc không kém gì những từ Yêu, Thương, Hờn, Giận, Ghét.<br />
<br />
Hớ - 23.03.2015<br />
<br />
*ngủ #ngũ]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Trí như bạch tuyết, tâm như ngọc]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1988.html</link>
			<pubDate>Thu, 26 Feb 2015 05:52:32 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=69">hvn</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1988.html</guid>
			<description><![CDATA[Vụ lùm xum này vui thế mà không nghe bà con  trong trấn kháo nhau nên giờ mới biết (qua <a href="https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1074822452535335&amp;set=a.489159897768263.130169.100000227722421&amp;type=1&amp;permPage=1" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Facebook của bác An Chi</a>) <img src="https://duytuan2002.github.io/mybbscr/13.gif" alt="surprise" title="surprise" class="smilie smilie_293" /><br />
<br />
Nữ hiệp Kỳ Duyên là hoa hậu VN mới đăng quang năm trước. Vũ Khiêu là đại tôn sư võ học, năm Canh Dần được Thừa Tướng tặng câu đối: “Triết gia trong cách mạng/Nghệ sỹ giữa anh hùng”. Hai người gặp nhau đầu năm lập tức trở thành sự kiện lớn của võ lâm. Nhân lúc nghỉ trưa google ra ít bài của hắc bạch lưỡng đạo:<br />
<br />
<br />
Trung lập:<br />
<a href="http://www.webtretho.com/forum/f26/hoa-hau-ky-duyen-chuc-tet-giao-su-vu-khieu-2016371/" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Hoa hậu Kỳ Duyên chúc Tết giáo sư Vũ Khiêu</a><br />
<a href="http://phunutoday.vn/giai-tri/giao-su-vu-khieu-khen-ngoi-tang-cau-doi-cho-ky-duyen-66999.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Giáo sư Vũ Khiêu khen ngợi, tặng câu đối cho Kỳ Duyên</a><br />
<br />
Tà phái:<br />
<a href="http://www.tinmoi.vn/cau-doi-gs-vu-khieu-tang-hoa-hau-ky-duyen-la-tho-tinh-trung-quoc-011346999.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Câu đối GS Vũ Khiêu tặng hoa hậu Kỳ Duyên là thơ tình Trung Quốc?</a><br />
<a href="http://vozforums.com/showthread.php?t=4122609" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Câu đối của giáo sư Vũ Khiêu</a><br />
<a href="http://xuandienhannom.blogspot.com/2015/02/cu-soc-thu-2-kieu-hon-va-oi-cau-oi-goi.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Kiểu hôn và đôi câu đối gợi dục của cụ Vũ Khiêu</a><br />
<br />
Chính phái:<br />
<a href="http://baodatviet.vn/van-hoa/goc-nhin-van-hoa/co-nen-gay-gat-anh-gs-vu-khieu-thom-ma-ky-duyen-3233943/" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Có nên gay gắt ảnh GS Vũ Khiêu 'thơm' má Kỳ Duyên?</a><br />
<a href="http://www.baogiaothong.vn/thom-ma-hoa-hau-ky-duyen-la-co-toi-d97101.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Thơm má hoa hậu Kỳ Duyên là có tội?</a><br />
<a href="http://tintuc.vn/giai-tri/gs-vu-khieu-hon-ma-ky-duyen-chi-la-nu-hon-nguoi-ong-danh-cho-chau-gai-32051" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">GS Vũ Khiêu hôn má Kỳ Duyên: Chỉ là nụ hôn người ông dành cho cháu gái</a><br />
<br />
<br />
Các cụ có ở không rỗi hơi thì chém thêm cho rộn trấn rộn làng <img src="https://duytuan2002.github.io/mybbscr/21.gif" alt="laughing" title="laughing" class="smilie smilie_301" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Vụ lùm xum này vui thế mà không nghe bà con  trong trấn kháo nhau nên giờ mới biết (qua <a href="https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1074822452535335&amp;set=a.489159897768263.130169.100000227722421&amp;type=1&amp;permPage=1" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Facebook của bác An Chi</a>) <img src="https://duytuan2002.github.io/mybbscr/13.gif" alt="surprise" title="surprise" class="smilie smilie_293" /><br />
<br />
Nữ hiệp Kỳ Duyên là hoa hậu VN mới đăng quang năm trước. Vũ Khiêu là đại tôn sư võ học, năm Canh Dần được Thừa Tướng tặng câu đối: “Triết gia trong cách mạng/Nghệ sỹ giữa anh hùng”. Hai người gặp nhau đầu năm lập tức trở thành sự kiện lớn của võ lâm. Nhân lúc nghỉ trưa google ra ít bài của hắc bạch lưỡng đạo:<br />
<br />
<br />
Trung lập:<br />
<a href="http://www.webtretho.com/forum/f26/hoa-hau-ky-duyen-chuc-tet-giao-su-vu-khieu-2016371/" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Hoa hậu Kỳ Duyên chúc Tết giáo sư Vũ Khiêu</a><br />
<a href="http://phunutoday.vn/giai-tri/giao-su-vu-khieu-khen-ngoi-tang-cau-doi-cho-ky-duyen-66999.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Giáo sư Vũ Khiêu khen ngợi, tặng câu đối cho Kỳ Duyên</a><br />
<br />
Tà phái:<br />
<a href="http://www.tinmoi.vn/cau-doi-gs-vu-khieu-tang-hoa-hau-ky-duyen-la-tho-tinh-trung-quoc-011346999.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Câu đối GS Vũ Khiêu tặng hoa hậu Kỳ Duyên là thơ tình Trung Quốc?</a><br />
<a href="http://vozforums.com/showthread.php?t=4122609" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Câu đối của giáo sư Vũ Khiêu</a><br />
<a href="http://xuandienhannom.blogspot.com/2015/02/cu-soc-thu-2-kieu-hon-va-oi-cau-oi-goi.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Kiểu hôn và đôi câu đối gợi dục của cụ Vũ Khiêu</a><br />
<br />
Chính phái:<br />
<a href="http://baodatviet.vn/van-hoa/goc-nhin-van-hoa/co-nen-gay-gat-anh-gs-vu-khieu-thom-ma-ky-duyen-3233943/" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Có nên gay gắt ảnh GS Vũ Khiêu 'thơm' má Kỳ Duyên?</a><br />
<a href="http://www.baogiaothong.vn/thom-ma-hoa-hau-ky-duyen-la-co-toi-d97101.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Thơm má hoa hậu Kỳ Duyên là có tội?</a><br />
<a href="http://tintuc.vn/giai-tri/gs-vu-khieu-hon-ma-ky-duyen-chi-la-nu-hon-nguoi-ong-danh-cho-chau-gai-32051" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">GS Vũ Khiêu hôn má Kỳ Duyên: Chỉ là nụ hôn người ông dành cho cháu gái</a><br />
<br />
<br />
Các cụ có ở không rỗi hơi thì chém thêm cho rộn trấn rộn làng <img src="https://duytuan2002.github.io/mybbscr/21.gif" alt="laughing" title="laughing" class="smilie smilie_301" />]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Đánh giá một nhà phê bình văn học]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1977.html</link>
			<pubDate>Wed, 17 Dec 2014 15:30:34 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=12">lanhdien</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1977.html</guid>
			<description><![CDATA[<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Đánh giá một nhà phê bình văn học - Nguyễn Hưng Quốc</span><br />
<br />
Đánh giá một nhà phê bình, người ta hay tập trung vào chỗ người ấy thích ai và không thích ai. Tuy nhiên, người ta quên: nhà phê bình, trước hết, là một người đọc, và là người đọc, hắn cũng có quyền yêu thích hay không yêu thích một tác giả hay một tác phẩm nào đó. Trước đây, khi viết cuốn Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh tỏ vẻ yêu thích đặc biệt đối với một số nhà thơ như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, v.v... Đó là cái quyền của ông. Sau này, trong cuốn Thơ Miền Nam 1954-75, Võ Phiến cũng tỏ vẻ yêu thích đặc biệt đối với một số người như Tô Thuỳ Yên, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Bắc Sơn, thậm chí, Giản Chi, Đỗ Tấn, Trần Bích Tiên, v.v... Đó cũng là cái quyền của ông. Những cái quyền ấy cần phải được tôn trọng.<br />
<br />
Những cái quyền ấy đầy tính chủ quan. Mà phê bình thì không thể không chủ quan. Donald A. Stauffer có lần khẳng định: "Nhà phê bình không thể là một nhà phê bình lý tưởng nếu hắn tự cho mình là tiếng nói vô ngã của chân lý; hắn cũng không thể là nhà phê bình lý tưởng nếu mối quan tâm hàng đầu của hắn không phải là tác phẩm nghệ thuật." Không phải ai cũng đồng ý với quan điểm ấy. Một số người, như Northrop Frye, muốn loại trừ tính chất chủ quan bằng cách loại trừ các loại phán đoán giá trị ra khỏi phê bình. Nhưng người ta không có cách nào loại hết các phán đoán giá trị được: nó hiện diện ngay ở việc chọn lựa đề tài và chọn lựa tư liệu. Đó là số mệnh của phê bình.<br />
<br />
Tính chất chủ quan làm phê bình vĩnh viễn không thể là một lời phán quyết chung thẩm cho bất cứ một hiện tượng văn học nào cả. Mọi hành động phê bình đều là những hành động cô đơn và bất định, ở đó, người ta biết là không có gì bảo hiểm chắc chắn cho việc phát ngôn của mình, trừ kiến thức, kinh nghiệm và quan trọng hơn, trực giác thẩm mỹ của mình.<br />
<br />
Có lẽ đây là điểm khác biệt chủ yếu giữa một phán đoán thẩm mỹ và các loại phán đoán khác. Đánh giá ai đó có tội hay không có tội, chúng ta căn cứ vào điều khoản này hay điều khoản nọ trong luật pháp, hoặc, đơn giản hơn, căn cứ vào những nguyên tắc đạo lý phổ quát trong xã hội. Đánh giá một nhận định nào đó có chính xác hay không, chúng ta có thể căn cứ vào luận lý học hoặc các dữ kiện thu thập được từ thực nghiệm hay thực tế.<br />
<br />
Còn đánh giá cái hay, cái đẹp của một tác phẩm văn học?<br />
<br />
Chúng ta không có một căn cứ nào vững chắc cả. Không thể căn cứ vào các nguyên lý, các quy luật hay các khuôn mẫu trong lịch sử văn học bởi vì chúng chỉ hiện hữu trong một không gian và một thời gian giới hạn nào đó mà thôi. Cũng không thể căn cứ vào các thành tựu và các giá trị được xem là vĩ đại trong quá khứ và được xem là những điển phạm trong lịch sử vì lý do đơn giản là, những thành tựu, những giá trị và những điển phạm ấy là những gì mọi người cầm bút chân chính đều muốn phủ nhận hoặc muốn vượt qua trong cuộc hành trình sáng tạo của chính họ.<br />
<br />
Thành ra, trong thế giới văn học, chúng ta không thể nhân danh ai khác ngoài chính mình. Nhân danh mình, chúng ta yêu tác phẩm này và ghét bỏ tác phẩm nọ. Trong cuốn Thi nhân Việt Nam, khi cho bài "Ông đồ" là kiệt tác của Vũ Đình Liên, "Gửi Trương Tửu" là kiệt tác của Nguyễn Vỹ, "Màu thời gian" là kiệt tác của Đoàn Phú Tứ, hay khi cho lời văn của Xuân Diệu có cái gì như chơi vơi, đằng sau câu thơ của Nguyễn Nhược Pháp dường như có một tiếng cười khúc khích, đằng sau câu thơ của Huy Cận có một nỗi buồn rười rượi và đằng sau câu thơ của Thâm Tâm thấp thoáng những nỗi bâng khuâng khó hiểu của thời đại, v.v... Hoài Thanh cũng không nhân danh cái gì khác ngoài trực quan của bản thân ông.<br />
<br />
Và chúng ta, khi đồng ý với những nhận định vừa nêu của Hoài Thanh, chúng ta cũng chỉ nhân danh chúng ta mà đồng ý. Bất cứ khi nào chúng ta không nhân danh chính mình mà lại nhân danh một thứ quyền lực nào đó, bất cứ là quyền lực gì, chẳng hạn như danh tiếng hay uy tín của một trào lưu hay một bậc tiền bối, chúng ta đều đi ra ngoài cơ chế sáng tạo và bị rớt vào cơ chế hành chánh của văn học, ở đó, văn học đã bị xơ cứng thành những kiến thức phổ thông, và ở đó, chúng ta không còn là những chủ thể cảm xúc và tư duy nữa mà chỉ là một đơn vị trong một tập thể đã bị điều kiện hoá. Nói cách khác, ở đó, chúng ta hoàn toàn bị tha hoá. Một cách đọc như thế thực chất là một sự phản bội lại bản chất của văn học, một hình thức sinh hoạt văn hoá tồn tại trước hết là để con người trở về với cái tôi của họ, với thế giới riêng tư và thầm kín của họ.<br />
<br />
Phê bình là chủ quan. Tuy nhiên, tính chất chủ quan ấy phải có giới hạn thì mới có thể có đối thoại, và do đó, mới có thể có phê bình được. Cái giới hạn ấy chủ yếu xuất phát từ hai yếu tố.<br />
<br />
Thứ nhất, đối tượng của phê bình: văn học. Một sự yêu thích chỉ có tính văn học khi tác phẩm được đọc như một công trình văn học chứ không phải như bất cứ một thứ gì khác, từ một phương tiện để tuyên truyền đến một phương tiện để giải trí. Những sự lẫn lộn phạm trù như vậy thực chất là một biểu hiện của tính chất thiếu chuyên nghiệp, nơi mọi ranh giới đều nhoà lẫn vào nhau: nhoà lẫn giữa văn học và phi văn học, giữa phê bình và đàm tiếu.<br />
<br />
Thứ hai, mặc dù trong các phán đoán thẩm mỹ, người ta chỉ có thể nhân danh chính mình, nhưng cái "mình" mà người ta nhân danh ấy thực chất bao giờ cũng là một cái "mình" tập thể: nó là kết quả của vô số sự tương tác trong quá trình giáo dục và xã hội hoá của từng cá nhân. Không ai có thể thực sự đọc một mình. Đọc bao giờ cũng là cùng đọc với những người khác, trong đó có vô số những người đã chết. Khi chúng ta đọc Truyện Kiều, chẳng hạn, chúng ta luôn luôn "đọc chung" với Phạm Quý Thích, Chu Mạnh Trinh, Tản Đà, Phạm Quỳnh, Trương Tửu; hơn nữa, chúng ta còn "đọc chung" với cả những tác giả ngoại quốc, từ những lý thuyết gia Nho học ở Trung Hoa đến các lý thuyết gia thuộc các trường phái hiện thực, lãng mạn, phân tâm học, hiện sinh, hiện tượng luận, Mác-xít ở Tây phương, v.v... Chính những mối quan hệ chằng chịt này làm cho bất cứ cái đọc nào cũng có tính lịch sử, và tính lịch sử này, đến lượt nó, trở thành một giới hạn của tính chủ quan trong phán đoán thẩm mỹ: phán đoán ấy có thể được/bị đánh giá trên cơ sở một sự đối chiếu với những ý kiến đã có.<br />
<br />
Tính chất chủ quan làm mọi lời phát biểu của nhà phê bình chỉ nên được xem như những lời đề nghị, một hình thức tiến cử với công chúng và với lịch sử những tác phẩm hắn xem là có giá trị và xứng đáng được bảo tồn. Tính chất tương đối trong những sự chủ quan ấy làm nhà phê bình bị buộc phải đối diện với nhu cầu tăng cường sức thuyết phục cho những phán đoán của mình: trong lúc không thể đoan chắc về tính chính xác của những nhận định ấy, hắn phải tự chứng minh những nhận định ấy là đúng đắn, ít nhất so với một phương pháp luận và một quan điểm thẩm mỹ nào đó mà hắn đã lựa chọn. Điều này có nghĩa là nhà phê bình phải bạch hoá quá trình cảm thụ và đánh giá của mình. Hắn không thể là kẻ nói theo kiểu "thánh phán". Hắn phải có bổn phận, dưới hình thức này hoặc hình thức khác, tự chứng minh cho các luận điểm của mình.<br />
<br />
Hành động tự chứng minh ấy là một biểu hiện của tinh thần trách nhiệm. Có thể nói nhà phê bình chỉ vượt lên khỏi tư cách độc giả để thực sự trở thành nhà phê bình khi ít nhiều chứng minh được những gì mình cho là hay, là đẹp. Một độc giả bình thường, trong một lúc ngà ngà men rượu hay men tình, có thể cho một bài thơ nào đó của Nguyên Sa là hay nhất Việt Nam, chẳng hạn. Không sao cả. Nhưng một nhà phê bình thì khác. Bằng sự phân tích, nhà phê bình phải mô tả những cái hay trong bài thơ ấy, và bằng sự so sánh, làm cho người đọc thấy được cái hay ấy quả là một cái hay lớn, hơn nữa, lớn hơn hẳn những cái lớn khác.<br />
<br />
Gắn liền với những sự yêu thích có tính chất cá nhân, tất cả các công trình phê bình đều, trước hết, là một sự phản ánh khẩu vị văn học (taste) của nhà phê bình, sau đó, may ra, với một mức độ nào đó, mới là một sự phản ánh của tình hình sinh hoạt văn học một thời đại. Gắn liền với tinh thần trách nhiệm, mọi công trình phê bình nghiêm túc đều có tham vọng từ vương quốc chủ quan vươn tới vương quốc khách quan, từ những cảm nhận xuất phát từ trực giác và kinh nghiệm đến những phân tích mang tính khái niệm.<br />
<br />
Đánh giá một nhà phê bình, chúng ta không đánh giá ở chỗ hắn giống với những người đọc bình thường, tức ở chỗ hắn thích hay không thích một tác giả, tác phẩm nào đó. Đó là cái quyền của hắn, thuộc phạm vi cá nhân của hắn. Việc đánh giá một nhà phê bình chỉ nên bắt đầu từ chỗ nhà phê bình ấy biến tác phẩm được mình yêu thích thành một mô hình nghệ thuật, hơn nữa, còn có tham vọng thuyết phục người đọc chấp nhận mô hình nghệ thuật ấy là một sự sáng tạo có giá trị; nói cách khác, từ chỗ nhà phê bình biến cái yêu cái ghét của mình thành một thứ quan điểm thẩm mỹ và có tham vọng biến quan điểm thẩm mỹ ấy thành một giá trị thẩm mỹ có tính phổ quát. Lúc ấy, hắn đã vượt ra ngoài phạm vi cá nhân. Hắn đã xuất hiện như một nhân vật công cộng (public figure).<br />
<br />
Việc đánh giá ở đây chủ yếu xoay quanh ba nội dung chính:<br />
<br />
Thứ nhất, việc phân tích và chứng minh cái hay, cái đẹp của nhà phê bình có đủ sức thuyết phục hay không? Hắn khen một tác phẩm nào đó là hay? Được thôi. Nhưng cái cách hắn chứng minh cái hay ấy ra sao, đó mới là điều quan trọng. Hắn thành công nếu sau khi đọc xong, người đọc thấy tác phẩm ấy tự nhiên hay hơn hẳn, mới hơn hẳn và sâu sắc hẳn; nếu người đọc thấy rằng việc đọc quả là một cuộc khám phá thú vị và bổ ích, ở đó, họ bắt gặp những điều hoàn toàn bất ngờ trong lãnh thổ của nghệ thuật và cái đẹp. Ngược lại, hắn sẽ thất bại thảm hại nếu đọc xong, người đọc thấy tác phẩm ấy vẫn cũ mèm và thế giới thơ văn vẫn không rộng thêm một chút xíu nào cả. Tuy nhiên, ở đây, chúng ta cần cẩn thận: phần lớn những gì có vẻ như giàu sức thuyết phục thường là những cái đã cũ, do đó, chưa chắc đã có giá trị thực sự. Để kiểm tra tính thuyết phục của một luận điểm đôi khi cần khá nhiều thời gian và cần một tầm nhìn rộng, bao quát cả một hay nhiều trào lưu văn học trong một hay nhiều thời đại khác nhau, không những trong quá khứ hay trong hiện tại mà cả trong hướng vận động của văn học từ hiện tại chuyển đến tương lai. Nói cách khác, ở đây, khi đánh giá một sự đánh giá, người ta không những cần kiến thức mà còn cần cả viễn kiến và sự nhạy bén nữa.<br />
<br />
Thứ hai, quan điểm thẩm mỹ nào làm nền tảng để dựa theo đó nhà phê bình đánh giá cái hay và cái lớn của văn học? Không có một nhà phê bình nghiêm túc nào lại không xuất phát từ một quan điểm thẩm mỹ nhất định. Chính quan điểm ấy làm cho ý kiến của nhà phê bình tránh được nguy cơ trở thành bất nhất và rỗng tuếch. Quan điểm ấy, một cách tự giác hay tự phát, thể hiện qua hai hình thức khác nhau.<br />
<br />
Một, những lời phát biểu trực tiếp dưới dạng khái niệm về văn học. Hình như hiếm có nhà phê bình nào lại không có những lời phát biểu trực tiếp như thế, hoặc thành bài riêng hoặc xen kẽ trong các bài phê bình. Ngay cả ở những nhà phê bình có khuynh hướng hoài nghi lý thuyết hay chống lại lý thuyết như hầu hết các nhà phê bình Việt Nam, chúng ta cũng dễ dàng bắt gặp những đoạn ít nhiều mang tính lý thuyết như thế.<br />
<br />
Hai, quan điểm mỹ học thể hiện rõ hơn và đáng tin cậy hơn qua những tác giả hoặc tác phẩm mà nhà phê bình yêu thích. Chắc chắn không phải ngẫu nhiên mà Hoài Thanh lại nhiệt liệt khen ngợi thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Vũ Hoàng Chương... hơn hẳn những người khác. Cũng chắc chắn không phải ngẫu nhiên mà Võ Phiến lại cảm thơ của một số người này mà lại không thể cảm nổi thơ của một số người khác. Loại bỏ tất cả những lý do phi văn học, đằng sau những sự lựa chọn ấy là những quan niệm khá nhất quán về thơ, về cái đẹp trong thơ và về chức năng của thơ, cơ sở để tạo nên sự đồng điệu, và từ đó, của sự ưu ái của họ. Đi sâu vào những quan niệm ấy, có khi chúng ta sẽ bắt gặp, chẳng hạn, giữa Hoài Thanh và Võ Phiến, tuy có khá nhiều dị biệt trong văn phong cũng như tư tưởng, lại có những tương đồng khá sâu sắc và bất ngờ khi họ đối diện với thơ: cả hai đều là những nhà lãng mạn chủ nghĩa hồn nhiên và chân thành. Đi sâu vào những quan niệm như thế, công việc phê bình phê bình có nhiều hứa hẹn mở ra những khám phá thú vị hơn và nhất là, có cơ sở hơn: trong khi chúng ta rất khó đánh giá một sự yêu thích thì chúng ta lại dễ dàng đánh giá một quan điểm bởi vì, thứ nhất, nó thuộc phạm trù nhận thức, thứ hai, nó có tính lịch sử, nhờ đó, chúng ta có thể tiến hành việc so sánh để nhận ra tính chất đúng/sai và mới/cũ trong quan điểm ấy.<br />
<br />
Cuối cùng, điều chúng ta có thể làm và nên làm là đánh giá xem quan điểm thẩm mỹ của nhà phê bình có gì mới lạ và có làm phong phú thêm cách hiểu của chúng ta về văn học hay không? Chính câu hỏi thứ ba này không chừng mới là câu hỏi quan trọng nhất. Nó phân biệt những công trình phê bình mang tính sáng tạo và những sự nhai lại. Một công trình phê bình chỉ có thể được xem là có đôi chút giá trị khi nó phát hiện một cái gì mới hoặc trong cách đọc hoặc trong tác phẩm được đọc; những phát hiện mà trước đó chưa ai biết hoặc một số người đã biết nhưng lại chưa tự giác hẳn về cái biết của mình. Ví dụ, không có công trình phê bình nào về Truyện Kiều có thể được xem là có giá trị nếu nó chỉ lẩn quẩn với việc chứng minh lại những kiến thức phổ thông; nếu nó không làm cho Truyện Kiều có một diện mạo mới, khác với những gì chúng ta đã quen nghĩ; nếu nó không giúp mở rộng vốn hiểu biết của chúng ta về Truyện Kiều, từ đó, giúp mở rộng, dù chỉ một chút, địa dư của cái gọi là văn học.<br />
<br />
Có thể nói tầm vóc của công trình phê bình chủ yếu tuỳ thuộc vào tầm vóc của những phát hiện ấy: phát hiện cái hay ở đơn vị câu, chữ khác với việc phát hiện cái hay ở tổng thể của tác phẩm, và việc phát hiện cái hay của tác phẩm khác với việc phát hiện một cách nhìn hoặc một góc độ nhìn để từ đó không những tác phẩm được đề cập mà còn nhiều tác phẩm khác nữa tự nhiên trở thành khởi sắc và giàu có hẳn.<br />
<br />
Nói tóm lại, đánh giá một nhà phê bình, chúng ta không thể không đọc những gì hắn viết. Trong những gì hắn viết, chúng ta cần tôn trọng cái quyền yêu ghét chủ quan, tức cái quyền thích tác giả này và không thích tác giả nọ, yêu tác phẩm này và không yêu tác phẩm kia của hắn. Xâm phạm vào quyền cá nhân ấy bao giờ cũng là một hành động thô bạo. Điều chúng ta cần làm và có thể làm là: thứ nhất, phê bình các luận điểm của hắn; thứ hai, phê bình việc chứng minh các luận điểm ấy của hắn; cuối cùng, thứ ba, phê bình cái hệ mỹ học mà hắn bênh vực hay khen ngợi. Theo tôi, nếu biết dừng lại ở những giới hạn như thế, chúng ta có thể bảo vệ được văn hoá phê bình, giúp phê bình giữ được tính chất trí thức và trách nhiệm của nó, đồng thời, trong đời sống, giảm thiểu được vô số những cuộc cãi cọ lằng nhằng vừa vô duyên vừa vô ích.<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Nguyễn Hưng Quốc</span>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Đánh giá một nhà phê bình văn học - Nguyễn Hưng Quốc</span><br />
<br />
Đánh giá một nhà phê bình, người ta hay tập trung vào chỗ người ấy thích ai và không thích ai. Tuy nhiên, người ta quên: nhà phê bình, trước hết, là một người đọc, và là người đọc, hắn cũng có quyền yêu thích hay không yêu thích một tác giả hay một tác phẩm nào đó. Trước đây, khi viết cuốn Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh tỏ vẻ yêu thích đặc biệt đối với một số nhà thơ như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, v.v... Đó là cái quyền của ông. Sau này, trong cuốn Thơ Miền Nam 1954-75, Võ Phiến cũng tỏ vẻ yêu thích đặc biệt đối với một số người như Tô Thuỳ Yên, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Bắc Sơn, thậm chí, Giản Chi, Đỗ Tấn, Trần Bích Tiên, v.v... Đó cũng là cái quyền của ông. Những cái quyền ấy cần phải được tôn trọng.<br />
<br />
Những cái quyền ấy đầy tính chủ quan. Mà phê bình thì không thể không chủ quan. Donald A. Stauffer có lần khẳng định: "Nhà phê bình không thể là một nhà phê bình lý tưởng nếu hắn tự cho mình là tiếng nói vô ngã của chân lý; hắn cũng không thể là nhà phê bình lý tưởng nếu mối quan tâm hàng đầu của hắn không phải là tác phẩm nghệ thuật." Không phải ai cũng đồng ý với quan điểm ấy. Một số người, như Northrop Frye, muốn loại trừ tính chất chủ quan bằng cách loại trừ các loại phán đoán giá trị ra khỏi phê bình. Nhưng người ta không có cách nào loại hết các phán đoán giá trị được: nó hiện diện ngay ở việc chọn lựa đề tài và chọn lựa tư liệu. Đó là số mệnh của phê bình.<br />
<br />
Tính chất chủ quan làm phê bình vĩnh viễn không thể là một lời phán quyết chung thẩm cho bất cứ một hiện tượng văn học nào cả. Mọi hành động phê bình đều là những hành động cô đơn và bất định, ở đó, người ta biết là không có gì bảo hiểm chắc chắn cho việc phát ngôn của mình, trừ kiến thức, kinh nghiệm và quan trọng hơn, trực giác thẩm mỹ của mình.<br />
<br />
Có lẽ đây là điểm khác biệt chủ yếu giữa một phán đoán thẩm mỹ và các loại phán đoán khác. Đánh giá ai đó có tội hay không có tội, chúng ta căn cứ vào điều khoản này hay điều khoản nọ trong luật pháp, hoặc, đơn giản hơn, căn cứ vào những nguyên tắc đạo lý phổ quát trong xã hội. Đánh giá một nhận định nào đó có chính xác hay không, chúng ta có thể căn cứ vào luận lý học hoặc các dữ kiện thu thập được từ thực nghiệm hay thực tế.<br />
<br />
Còn đánh giá cái hay, cái đẹp của một tác phẩm văn học?<br />
<br />
Chúng ta không có một căn cứ nào vững chắc cả. Không thể căn cứ vào các nguyên lý, các quy luật hay các khuôn mẫu trong lịch sử văn học bởi vì chúng chỉ hiện hữu trong một không gian và một thời gian giới hạn nào đó mà thôi. Cũng không thể căn cứ vào các thành tựu và các giá trị được xem là vĩ đại trong quá khứ và được xem là những điển phạm trong lịch sử vì lý do đơn giản là, những thành tựu, những giá trị và những điển phạm ấy là những gì mọi người cầm bút chân chính đều muốn phủ nhận hoặc muốn vượt qua trong cuộc hành trình sáng tạo của chính họ.<br />
<br />
Thành ra, trong thế giới văn học, chúng ta không thể nhân danh ai khác ngoài chính mình. Nhân danh mình, chúng ta yêu tác phẩm này và ghét bỏ tác phẩm nọ. Trong cuốn Thi nhân Việt Nam, khi cho bài "Ông đồ" là kiệt tác của Vũ Đình Liên, "Gửi Trương Tửu" là kiệt tác của Nguyễn Vỹ, "Màu thời gian" là kiệt tác của Đoàn Phú Tứ, hay khi cho lời văn của Xuân Diệu có cái gì như chơi vơi, đằng sau câu thơ của Nguyễn Nhược Pháp dường như có một tiếng cười khúc khích, đằng sau câu thơ của Huy Cận có một nỗi buồn rười rượi và đằng sau câu thơ của Thâm Tâm thấp thoáng những nỗi bâng khuâng khó hiểu của thời đại, v.v... Hoài Thanh cũng không nhân danh cái gì khác ngoài trực quan của bản thân ông.<br />
<br />
Và chúng ta, khi đồng ý với những nhận định vừa nêu của Hoài Thanh, chúng ta cũng chỉ nhân danh chúng ta mà đồng ý. Bất cứ khi nào chúng ta không nhân danh chính mình mà lại nhân danh một thứ quyền lực nào đó, bất cứ là quyền lực gì, chẳng hạn như danh tiếng hay uy tín của một trào lưu hay một bậc tiền bối, chúng ta đều đi ra ngoài cơ chế sáng tạo và bị rớt vào cơ chế hành chánh của văn học, ở đó, văn học đã bị xơ cứng thành những kiến thức phổ thông, và ở đó, chúng ta không còn là những chủ thể cảm xúc và tư duy nữa mà chỉ là một đơn vị trong một tập thể đã bị điều kiện hoá. Nói cách khác, ở đó, chúng ta hoàn toàn bị tha hoá. Một cách đọc như thế thực chất là một sự phản bội lại bản chất của văn học, một hình thức sinh hoạt văn hoá tồn tại trước hết là để con người trở về với cái tôi của họ, với thế giới riêng tư và thầm kín của họ.<br />
<br />
Phê bình là chủ quan. Tuy nhiên, tính chất chủ quan ấy phải có giới hạn thì mới có thể có đối thoại, và do đó, mới có thể có phê bình được. Cái giới hạn ấy chủ yếu xuất phát từ hai yếu tố.<br />
<br />
Thứ nhất, đối tượng của phê bình: văn học. Một sự yêu thích chỉ có tính văn học khi tác phẩm được đọc như một công trình văn học chứ không phải như bất cứ một thứ gì khác, từ một phương tiện để tuyên truyền đến một phương tiện để giải trí. Những sự lẫn lộn phạm trù như vậy thực chất là một biểu hiện của tính chất thiếu chuyên nghiệp, nơi mọi ranh giới đều nhoà lẫn vào nhau: nhoà lẫn giữa văn học và phi văn học, giữa phê bình và đàm tiếu.<br />
<br />
Thứ hai, mặc dù trong các phán đoán thẩm mỹ, người ta chỉ có thể nhân danh chính mình, nhưng cái "mình" mà người ta nhân danh ấy thực chất bao giờ cũng là một cái "mình" tập thể: nó là kết quả của vô số sự tương tác trong quá trình giáo dục và xã hội hoá của từng cá nhân. Không ai có thể thực sự đọc một mình. Đọc bao giờ cũng là cùng đọc với những người khác, trong đó có vô số những người đã chết. Khi chúng ta đọc Truyện Kiều, chẳng hạn, chúng ta luôn luôn "đọc chung" với Phạm Quý Thích, Chu Mạnh Trinh, Tản Đà, Phạm Quỳnh, Trương Tửu; hơn nữa, chúng ta còn "đọc chung" với cả những tác giả ngoại quốc, từ những lý thuyết gia Nho học ở Trung Hoa đến các lý thuyết gia thuộc các trường phái hiện thực, lãng mạn, phân tâm học, hiện sinh, hiện tượng luận, Mác-xít ở Tây phương, v.v... Chính những mối quan hệ chằng chịt này làm cho bất cứ cái đọc nào cũng có tính lịch sử, và tính lịch sử này, đến lượt nó, trở thành một giới hạn của tính chủ quan trong phán đoán thẩm mỹ: phán đoán ấy có thể được/bị đánh giá trên cơ sở một sự đối chiếu với những ý kiến đã có.<br />
<br />
Tính chất chủ quan làm mọi lời phát biểu của nhà phê bình chỉ nên được xem như những lời đề nghị, một hình thức tiến cử với công chúng và với lịch sử những tác phẩm hắn xem là có giá trị và xứng đáng được bảo tồn. Tính chất tương đối trong những sự chủ quan ấy làm nhà phê bình bị buộc phải đối diện với nhu cầu tăng cường sức thuyết phục cho những phán đoán của mình: trong lúc không thể đoan chắc về tính chính xác của những nhận định ấy, hắn phải tự chứng minh những nhận định ấy là đúng đắn, ít nhất so với một phương pháp luận và một quan điểm thẩm mỹ nào đó mà hắn đã lựa chọn. Điều này có nghĩa là nhà phê bình phải bạch hoá quá trình cảm thụ và đánh giá của mình. Hắn không thể là kẻ nói theo kiểu "thánh phán". Hắn phải có bổn phận, dưới hình thức này hoặc hình thức khác, tự chứng minh cho các luận điểm của mình.<br />
<br />
Hành động tự chứng minh ấy là một biểu hiện của tinh thần trách nhiệm. Có thể nói nhà phê bình chỉ vượt lên khỏi tư cách độc giả để thực sự trở thành nhà phê bình khi ít nhiều chứng minh được những gì mình cho là hay, là đẹp. Một độc giả bình thường, trong một lúc ngà ngà men rượu hay men tình, có thể cho một bài thơ nào đó của Nguyên Sa là hay nhất Việt Nam, chẳng hạn. Không sao cả. Nhưng một nhà phê bình thì khác. Bằng sự phân tích, nhà phê bình phải mô tả những cái hay trong bài thơ ấy, và bằng sự so sánh, làm cho người đọc thấy được cái hay ấy quả là một cái hay lớn, hơn nữa, lớn hơn hẳn những cái lớn khác.<br />
<br />
Gắn liền với những sự yêu thích có tính chất cá nhân, tất cả các công trình phê bình đều, trước hết, là một sự phản ánh khẩu vị văn học (taste) của nhà phê bình, sau đó, may ra, với một mức độ nào đó, mới là một sự phản ánh của tình hình sinh hoạt văn học một thời đại. Gắn liền với tinh thần trách nhiệm, mọi công trình phê bình nghiêm túc đều có tham vọng từ vương quốc chủ quan vươn tới vương quốc khách quan, từ những cảm nhận xuất phát từ trực giác và kinh nghiệm đến những phân tích mang tính khái niệm.<br />
<br />
Đánh giá một nhà phê bình, chúng ta không đánh giá ở chỗ hắn giống với những người đọc bình thường, tức ở chỗ hắn thích hay không thích một tác giả, tác phẩm nào đó. Đó là cái quyền của hắn, thuộc phạm vi cá nhân của hắn. Việc đánh giá một nhà phê bình chỉ nên bắt đầu từ chỗ nhà phê bình ấy biến tác phẩm được mình yêu thích thành một mô hình nghệ thuật, hơn nữa, còn có tham vọng thuyết phục người đọc chấp nhận mô hình nghệ thuật ấy là một sự sáng tạo có giá trị; nói cách khác, từ chỗ nhà phê bình biến cái yêu cái ghét của mình thành một thứ quan điểm thẩm mỹ và có tham vọng biến quan điểm thẩm mỹ ấy thành một giá trị thẩm mỹ có tính phổ quát. Lúc ấy, hắn đã vượt ra ngoài phạm vi cá nhân. Hắn đã xuất hiện như một nhân vật công cộng (public figure).<br />
<br />
Việc đánh giá ở đây chủ yếu xoay quanh ba nội dung chính:<br />
<br />
Thứ nhất, việc phân tích và chứng minh cái hay, cái đẹp của nhà phê bình có đủ sức thuyết phục hay không? Hắn khen một tác phẩm nào đó là hay? Được thôi. Nhưng cái cách hắn chứng minh cái hay ấy ra sao, đó mới là điều quan trọng. Hắn thành công nếu sau khi đọc xong, người đọc thấy tác phẩm ấy tự nhiên hay hơn hẳn, mới hơn hẳn và sâu sắc hẳn; nếu người đọc thấy rằng việc đọc quả là một cuộc khám phá thú vị và bổ ích, ở đó, họ bắt gặp những điều hoàn toàn bất ngờ trong lãnh thổ của nghệ thuật và cái đẹp. Ngược lại, hắn sẽ thất bại thảm hại nếu đọc xong, người đọc thấy tác phẩm ấy vẫn cũ mèm và thế giới thơ văn vẫn không rộng thêm một chút xíu nào cả. Tuy nhiên, ở đây, chúng ta cần cẩn thận: phần lớn những gì có vẻ như giàu sức thuyết phục thường là những cái đã cũ, do đó, chưa chắc đã có giá trị thực sự. Để kiểm tra tính thuyết phục của một luận điểm đôi khi cần khá nhiều thời gian và cần một tầm nhìn rộng, bao quát cả một hay nhiều trào lưu văn học trong một hay nhiều thời đại khác nhau, không những trong quá khứ hay trong hiện tại mà cả trong hướng vận động của văn học từ hiện tại chuyển đến tương lai. Nói cách khác, ở đây, khi đánh giá một sự đánh giá, người ta không những cần kiến thức mà còn cần cả viễn kiến và sự nhạy bén nữa.<br />
<br />
Thứ hai, quan điểm thẩm mỹ nào làm nền tảng để dựa theo đó nhà phê bình đánh giá cái hay và cái lớn của văn học? Không có một nhà phê bình nghiêm túc nào lại không xuất phát từ một quan điểm thẩm mỹ nhất định. Chính quan điểm ấy làm cho ý kiến của nhà phê bình tránh được nguy cơ trở thành bất nhất và rỗng tuếch. Quan điểm ấy, một cách tự giác hay tự phát, thể hiện qua hai hình thức khác nhau.<br />
<br />
Một, những lời phát biểu trực tiếp dưới dạng khái niệm về văn học. Hình như hiếm có nhà phê bình nào lại không có những lời phát biểu trực tiếp như thế, hoặc thành bài riêng hoặc xen kẽ trong các bài phê bình. Ngay cả ở những nhà phê bình có khuynh hướng hoài nghi lý thuyết hay chống lại lý thuyết như hầu hết các nhà phê bình Việt Nam, chúng ta cũng dễ dàng bắt gặp những đoạn ít nhiều mang tính lý thuyết như thế.<br />
<br />
Hai, quan điểm mỹ học thể hiện rõ hơn và đáng tin cậy hơn qua những tác giả hoặc tác phẩm mà nhà phê bình yêu thích. Chắc chắn không phải ngẫu nhiên mà Hoài Thanh lại nhiệt liệt khen ngợi thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Vũ Hoàng Chương... hơn hẳn những người khác. Cũng chắc chắn không phải ngẫu nhiên mà Võ Phiến lại cảm thơ của một số người này mà lại không thể cảm nổi thơ của một số người khác. Loại bỏ tất cả những lý do phi văn học, đằng sau những sự lựa chọn ấy là những quan niệm khá nhất quán về thơ, về cái đẹp trong thơ và về chức năng của thơ, cơ sở để tạo nên sự đồng điệu, và từ đó, của sự ưu ái của họ. Đi sâu vào những quan niệm ấy, có khi chúng ta sẽ bắt gặp, chẳng hạn, giữa Hoài Thanh và Võ Phiến, tuy có khá nhiều dị biệt trong văn phong cũng như tư tưởng, lại có những tương đồng khá sâu sắc và bất ngờ khi họ đối diện với thơ: cả hai đều là những nhà lãng mạn chủ nghĩa hồn nhiên và chân thành. Đi sâu vào những quan niệm như thế, công việc phê bình phê bình có nhiều hứa hẹn mở ra những khám phá thú vị hơn và nhất là, có cơ sở hơn: trong khi chúng ta rất khó đánh giá một sự yêu thích thì chúng ta lại dễ dàng đánh giá một quan điểm bởi vì, thứ nhất, nó thuộc phạm trù nhận thức, thứ hai, nó có tính lịch sử, nhờ đó, chúng ta có thể tiến hành việc so sánh để nhận ra tính chất đúng/sai và mới/cũ trong quan điểm ấy.<br />
<br />
Cuối cùng, điều chúng ta có thể làm và nên làm là đánh giá xem quan điểm thẩm mỹ của nhà phê bình có gì mới lạ và có làm phong phú thêm cách hiểu của chúng ta về văn học hay không? Chính câu hỏi thứ ba này không chừng mới là câu hỏi quan trọng nhất. Nó phân biệt những công trình phê bình mang tính sáng tạo và những sự nhai lại. Một công trình phê bình chỉ có thể được xem là có đôi chút giá trị khi nó phát hiện một cái gì mới hoặc trong cách đọc hoặc trong tác phẩm được đọc; những phát hiện mà trước đó chưa ai biết hoặc một số người đã biết nhưng lại chưa tự giác hẳn về cái biết của mình. Ví dụ, không có công trình phê bình nào về Truyện Kiều có thể được xem là có giá trị nếu nó chỉ lẩn quẩn với việc chứng minh lại những kiến thức phổ thông; nếu nó không làm cho Truyện Kiều có một diện mạo mới, khác với những gì chúng ta đã quen nghĩ; nếu nó không giúp mở rộng vốn hiểu biết của chúng ta về Truyện Kiều, từ đó, giúp mở rộng, dù chỉ một chút, địa dư của cái gọi là văn học.<br />
<br />
Có thể nói tầm vóc của công trình phê bình chủ yếu tuỳ thuộc vào tầm vóc của những phát hiện ấy: phát hiện cái hay ở đơn vị câu, chữ khác với việc phát hiện cái hay ở tổng thể của tác phẩm, và việc phát hiện cái hay của tác phẩm khác với việc phát hiện một cách nhìn hoặc một góc độ nhìn để từ đó không những tác phẩm được đề cập mà còn nhiều tác phẩm khác nữa tự nhiên trở thành khởi sắc và giàu có hẳn.<br />
<br />
Nói tóm lại, đánh giá một nhà phê bình, chúng ta không thể không đọc những gì hắn viết. Trong những gì hắn viết, chúng ta cần tôn trọng cái quyền yêu ghét chủ quan, tức cái quyền thích tác giả này và không thích tác giả nọ, yêu tác phẩm này và không yêu tác phẩm kia của hắn. Xâm phạm vào quyền cá nhân ấy bao giờ cũng là một hành động thô bạo. Điều chúng ta cần làm và có thể làm là: thứ nhất, phê bình các luận điểm của hắn; thứ hai, phê bình việc chứng minh các luận điểm ấy của hắn; cuối cùng, thứ ba, phê bình cái hệ mỹ học mà hắn bênh vực hay khen ngợi. Theo tôi, nếu biết dừng lại ở những giới hạn như thế, chúng ta có thể bảo vệ được văn hoá phê bình, giúp phê bình giữ được tính chất trí thức và trách nhiệm của nó, đồng thời, trong đời sống, giảm thiểu được vô số những cuộc cãi cọ lằng nhằng vừa vô duyên vừa vô ích.<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Nguyễn Hưng Quốc</span>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Tứ Thơ - Nguyễn Hưng Quốc]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1950.html</link>
			<pubDate>Wed, 13 Aug 2014 01:31:35 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=12">lanhdien</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1950.html</guid>
			<description><![CDATA[Tổng kết kinh nghiệm gần một đời làm thơ của mình, trong quyển Công Việc Làm Thơ xuất bản năm 1984, Xuân Diệu viết:<br />
<br />
“Lao động thơ, trước hết là kiếm tứ<br />
<br />
Ngôn từ, lời, chữ, vần rất là quan trọng. Tuy nhiên đó là cái quan trọng thứ hai, mà Cai quan trọng thứ nhất, làm rường cột cho tất cả, là cái tứ thơ, nó chủ đạo cả bài.<br />
<br />
Làm thơ, khó nhất là tìm tứ “ (tr.117)<br />
<br />
Dù sau này, dưới chế độ cộng sản, Xuân Diệu làm thơ không ra gì, tuy nhiên, đừng quên, trước kia, có một thời, thời 30 - 45, ông là nhà thơ có tài lớn. Nở bừng ra giữa một mùa khô hạn của nền văn học đàu thế kỷ 20 nặng nề quẩn lại bước chân cũ những thế kỷ trước, những bài thơ của Xuân Diệu, cùng với thơ của nhiều người khác, trong đó thơ Xuân Diệu là một trong vài đình cao, đã xuất phát từ một quan điểm thẩm mỹ mới, thể hiện một tâm trạng mới, sử dụng một ngôn ngữ mới, sáng tạo một phong cách mới, mở rộng địa lý của thơ, mang đến cho thơ một khí hậu cực kỳ ấm áp, gần gũi nhân tình. Thời ấy, Xuân Diệu thực sự là một nhà thơ cách tân. Ông đã làm cho lãnh thổ cái đẹp trở thành rộng rinh hơn khi khám phá ra nét phân vân trên một cánh cò, cái rùng mình của một ánh trăng thâu, cái hòa hợp âm thầm của một nhành hoa, một bãi cỏ và một làn rêu trong đêm tối, cái bâng khuâng không duyên cớ khi trời chiều tự dưng trong vắt, cái hơi rét gây gây luồn lách , len lỏi vào trong gió thu. Xuân Diệu là người đầu tiên nhận ra hương bưởi là tín hiệu của đêm khuya, hiện tượng nắng tự nhiên nhạt màu, mây tự nhiên trôi nhẹ và gió tự nhiên hiu hiu là tín hiệu của tình yêu.<br />
<br />
Sau này, khi trở thành gã mãi võ của cộng sản, Xuân Diệu chỉ tạo được, dưới hình thức gọi là thơ, những cuộc hòa âm ầm ĩ mà rỗng tuếch của phèng la và chập choã. Tiếng chim hót ngày xưa không còn. Chỉ còn một vòi nước rè rè và đục vẩn. Nhưng đó là nói về sáng tác. Còn kinh nghiệm lại là cái khác ở ngoài mọi lập trường, mọi quan điểm. Kinh nghiệm là đứa con của thời gian. Do đó không nên khăng khăng hất đổ những gì Xuân Diệu tổng kết ở trên.<br />
<br />
Nhưng trước hết tứ thơ là gì?<br />
<br />
Có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo Chế Lan Viên: “gọi nó là tứ để phân biệt với ý. Chữ Tứ chẳng qua là ý lớn toàn bài vậy” (Văn Học Hà Nội 17.11.1961, bút hiệu Chàng Văn). Ngược lại, theo Nguyễn Xuân Nam: “tứ trong toàn bài là hình tượng xuyên suốt cả bài thơ.” (Văn Học , Hà Nội 2.1981). Hai quan niệm khác nhau. Một đằng thiên về ý. Một đằng thiên về hình tượng. Nhưng lại giống nhau một điểm: bất cập.<br />
<br />
Thử đọc bài thơ này của một “nhà thơ” cộng sản:<br />
<br />
tiếng loa nhắc vụ này thay giống lúa mới<br />
mùa đông giữ ấm ngực trẻ con<br />
trung ương vận động mua công trái nhiều hơn<br />
việc vợ chồng sinh đẻ có kế hoạch<br />
 <br />
thì cũng có ý đấy. Nhưng tứ thơ đâu?<br />
<br />
Hay thử đọc bài thơ này của một “nhà thơ” cộng sản khác:<br />
<br />
bãi lầy lắm hến nhiều ngao<br />
càng nhiều bãi lội càng cao lượng mồi<br />
đi chăn chực khó ướt người<br />
thì đêm ấy lượng trứng trồi hẳn lên<br />
 <br />
Thì cũng có hình tượng đấy. Nhưng tứ thơ đâu?<br />
<br />
Ðồng hoá tứ thơ với ý hoặc với hình tượng không những sai lầm mà còn là điều nguy hiểm. Thứ nhất, nó cũng có nghĩa đồng hoá thơ và vè, thơ và các loại diễn ca chính trị tầm thường rỗng tuếch nhan nhản trên sách báo tuyên truyền hoặc trên các vỉa hè, các đường phố: tất cả đều có điểm chung, hoặc có ý, hoặc có hình tượng, hoặc có cả hai. Thứ hai, nó làm mất khả năng phân biệt thơ hay và thơ dở. Không hiếm gì những bài thơ có ý tưởng ra vẻ “triết lý” cao kỳ mà lại là những bài thơ kém. Cũng không hiếm gì những bài thơ có hình tượng cũng gọi là “đèm đẹp” nhưng lại chỉ là những bài thơ nhạt phèo, chán ngắt. Thứ ba, nó làm lạc hướng những người mới bắt đầu làm thơ: họ dễ tưởng làm thơ chỉ là công việc thuần tuý của tư duy hay chỉ là công việc lắp ráp các hình tượng ngồ ngộ với nhau, để cuối cùng , tạo nên một cái gì rất đỗi... xa thơ.<br />
<br />
Trong tứ có ý, nhưng tự nó, ý chưa là tứ. Trong tứ có hình tượng, nhưng tự nó, hình tượng chưa là tứ. Còn xa xôi vô cùng. Không phải cứ đem mấy khài niệm triết học mốc tếch từ đâu gắn vào đít của chúng vài chữ đồng thanh, đồng âm cho ra vần vè là tự nhiên có thơ. Cũng như không phải cứ vất bừa bãi dăm bảy cành hoa lại với nhau là tự nhiên người ta có một bình hoa mỹ thuật. Ý , nó khô khốc lắm.Như là xương. Hình tượng, nó khơi vơi, bềnh bồng lắm. Như là khói. Ý và hình tượng phải kết tụ lại với nhau như da thịt đắp lên xương xẩu thì mới có hình người. Nhưng chưa là con người . Hình như trong Cựu Ước có viết, sau khi nắn thành người, Đức Chúa Trời phải thổi vào hình người ấy một hơi thở để tạo ra cái gọi là linh hồn, hình người ấy mới thực sự có sự sống, người đàn ông mới biết quay lại nhìn người đàn bà, để thấy, nơi mái tóc đen nhánh kia có một cái gì khiến sóng trong lòng mình xao lên, nao nao. Linh hồn ấy, trong thơ, chính là cảm xúc.<br />
<br />
Chỉ gọi là tứ khi có một ý tưởng làm bồng lên trong hồn người những niềm rung động sâu sắc và ý tưởng ấy, niềm rung động ấy cùng quyện lại với nhau, nhập thân vào một hình tượng cụ thể.<br />
<br />
Ý là của chung mọi người. Hình tượng là của chung trong trời đất. Ánh trăng nằm trên cành liễu thì có gì mới mẻ đâu? Nhưng cái tứ ánh trăng nằm sóng soãi trên cành liễu / đợi gió đông về để lả lơi thì rõ ràng là của riêng Hàn Mặc Tử. Niềm say mê cái đẹp tinh khiết của vũ trụ thì có gì là lạ đâu? Nhưng cái tứ Ta van cát bụi bên đường / dù nhơ dù sạch đừng vương gót này / để ta tròn một kiếp say / cao xanh liều một cánh tay níu trời thì rõ ràng là của riêng Vũ Hoàng Chương.Tứ là cái gì rất riêng tây ở mỗi nhà thơ, ở mỗi bài thơ. Tứ là thế giới tinh khôi lần đầu tiên được nhà thơ tạo dựng trong cơn say ngây ngất của cái người ta quen gọi là cảm hứng.<br />
<br />
Có thể định nghĩa vắn tắt : tứ là những suy nghĩ của trái tim trước cuộc đời.<br />
<br />
Bởi vì tứ là cái gì rất tổng hợp, do đó, quá trình tìm tứ cũng là một quá trình tổng hợp: nhà thơ phải vận động cùng lúc ba khả năng, suy nghĩ, tưởng tượng và cảm xúc. Chỉ khi nào ba yếu tố trên gặp gỡ nhau ở một điểm nào đó, tứ thơ mới hình thành. Nghĩ coi, có thể tin được không, là, trong suốt cuộc đời đi học, đi làm xa của mình, chỉ một lần duy nhất Huy Cận cảm thấy nhớ nhà? Chắc chắn là không. Nỗi nhớ cũng tự nhiên như là mây giăng ở những góc trời xa vắng. Thế thì tại sao chỉ có một lần, một lần duy nhất, nỗi nhớ nhà ấy hoá thành thơ? Câu trả lời: Bởi vì chỉ có một lần duy nhất ba yếu tố trên hoà nhập được với nhau. Trong một thời điểm: tràng giang điệp điệp sóng buồn. Sông thì dài, trời thì rộng, mây thì xa, bến thì cô liêu, ý niệm về sự lẻ loi của người lữ thứ càng đậm, nỗi sầu ly hương càng thêm thê thiết: tứ thơ khai sinh<br />
<br />
...lớp lớp mây cao đùn núi bạc<br />
chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa<br />
lòng quê dờn dợn vời con nước<br />
không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà<br />
 <br />
Rất nhiều nhà thơ kể giống nhau: có những cảnh vật người ta nhìn hoài, nhìn hoài.  Quen thuộc lắm. Nhớ làu làu từng chi tiết nhỏ. Nhưng cứ thấy là bình thường, tầm thường. Cảnh vật chỉ đọng trong mắt mà không len vào máu. Chỉ ơ hờ xa lạ bên cạnh những bước đi đi về về hằng ngày. Rồi bỗng dưng, một hôm, trong một tâm cảnh nào đó không ai biết rõ, hình như những tư tưởng nung nấu từ lâu đã chín muồi, hình như những cảm xúc im lìm đã cồn cào lên sóng, người ta nhìn lại những cảnh vật ấy, thấy lạ lùng hẳn, mới, tươi và gần gũi tâm hồn như thoạt thấy lần đầu. Chén trà khuya không chỉ là chén trà nữa. Chén trà khuya đã nao nao trăng hạ tuần như trong thơ Quách Tấn. Ánh trăng non không là ánh trăng non nữa. Mà trở thành mới lớn lên trăng đã thẹn thò như trong thơ Hàn Mặc Tử. Buổi chiều không còn là buổi chiều nữa. Buổi chiều đã là buổi chiều u uẩn và quạnh vắng của cõi lòng buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường như trong thơ Thanh Tâm Tuyền.<br />
<br />
Tìm tứ là quá trình chống lại một thói quen, chống lại những quán tính ù lì và những con đường mòn nhẵn thín cứ lôi người ta trơn tuột giữa cuộc đời. Tìm tứ là quá trình phát hiện cái bất bình thường từ những cái vẫn rất mực bình thường. Tìm tứ là quá trình khôi phục sự hồn nhiên bỡ ngỡ cho đôi mắt và cho trái tim.<br />
<br />
Thế Lữ hồi ức lại hoàn cảnh sáng tác bài Nhớ Rừng như sau:<br />
<br />
“Tôi làm một chân chữa bài in trong báo Volonté Indochinoise (Ý muốn của Ðông Dương) ở phố Cửa Bắc, từ nhà tôi ở , muốn đến toà soạn, phải qua đường Ngọc Hà, thành ra qua vườn Bách Thảo. Chính vì qua vườn Bách Thảo mà nảy ra bài “Nhớ Rừng”. Một trưa hè, ngồi nghỉ ở vườn, tôi nghe tiếng người làm vườn uể oải kéo lê bước chân trên đường sỏi, nghe ghê người lắm. Tôi nghĩ con hổ bị giam trong này thì buồn biết bao nhiêu . Bỗng nảy ra tứ một câu thơ đùa: “chú nó trong nắng hè uể oải, cũng không buồn thương nhớ cảnh rừng xa”. Nhưng sau đó tôi chuyển sang tứ là thương nhớ rừng. Khi đã nảy ra tứ nhớ rừng thì bài thơ đến rất nhanh, từ sáng đến trưa là xong, không phải sửa chữa gì lắm.” (Văn Nghệ, Hà Nội số Tết 84).<br />
Trước khi sáng bài “Nhớ Rừng”, đã bao nhiêu lần Thế Lữ đi ngang qua vườn Bách Thảo. Ðã bao nhiêu lần nhìn con hổ bị giam trong củi sắt? Nhưng chỉ khi nào hình ảnh ấy hiện lên cùng lúc với tiếng bước chân người làm vườn uể oải kéo lê trên đường sỏi thì mới làm dâng trào lên trong tâm hồn Thế Lữ nỗi bùi ngùi trước cuộc đời bị tù hãm, bị quẩn đọng trong một thế giới thật chật chội, thật vuông vức. Con hổ không là con hổ. Con hổ trở thành một ý niệm, một biểu tượng của sự tự do bị đè nén. Tứ thơ lóa lên. Con hổ tự nhiên có nỗi bất mãn thật kiêu hùng ghét những cảnh không đời nào thay đổi,có ước mơ lãng mạn và cao ngất hào khí:<br />
<br />
nào đâu những đêm vàng bên bờ suối<br />
ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?<br />
 <br />
Con hổ hóa nên nơi hội ngộ của một tư tưởng: tư tưởng tự do, và một tâm trạng: tâm trạng chán ngán hết mọi tù túng.<br />
<br />
Quá trình sáng tác bài “Ðêm Thu Nghe Quạ Kêu” của Quách Tấn cũng tương tự: đó là quá trình một tiếng quạ kêu nghe thấy tình cờ trở thành một tiếng đồng vọng của tâm tư. Quách Tấn kể:<br />
<br />
“Nguyên một buổi chiều cuối thu năm Ðinh Mão (1927), tôi ở Trường Ðịnh xuống An Thái hốt thuốc cho bà thân tôi. Theo con đường gần và dễ đi nhất, tôi qua bến đò An Thái sang An Vinh, rồi theo bờ sông Cổn đi thẳng lên. Ðêm hôm ấy có trăng, nhưng không được sáng , vì trời nhiều sương. Tôi vừa đi vừa nghĩ vẩn vơ. Chợt đến một khúc đường tre che khuất cả bóng trăng, và mo nang rụng đầy mặt đất. Tôi dẫm phải những mo nang mới rụng, tiếng kêu sột soạt làm bầy quạ đương ngủ trên cây, giật mình vỗ cánh kêu vang dậy, nghe vừa rùng rợn vừa lạnh lùng. Cả mình tôi rởn ốc!<br />
 <br />
Từ ấy tiếng quạ ám ảnh tôi luôn.<br />
 <br />
Cách ba tháng sau bà thân tôi mất. Tiếng quạ vẫn cứ theo tôi, nhưng giọng rùng rợn lạnh lùng đổi thành giọng não nùng. Qua thời gian khá lâu, tiếng quạ thưa dần và nhạt dần rồi lịm mất.<br />
 <br />
Mùa hạ năm Kỷ Mão (1939), một đêm trăng tôi ngồi hóng mát cùng nhà tôi và một người bạn, trên bờ đầm Nha Trang ở trước mặt nhà. Lúc ấy đã khuya. Nghe tiếng phở nhà tôi gọi. Không thấy trả lời, anh bạn gọi tiếp. Tiếng gọi bị núi Sinh Trung bên kia đầm dội lại, ngân dài trong đêm khuya...Tiếng quạ năm xưa ở tâm hồn tôi vụt thức dậy rộn ràng... rộn ràng nhưng dịu dàng chứ không rùng rợn, cũng không não nùng như ngày trước.<br />
 <br />
Trở vô nhà, suốt đêm tôi không ngủ được. Tiếng quạ vọng bên tai, và gợi lên không biết bao nhiêu là ký ức. Phần thì nhớ mẹ già xưa, phần thì thương cảnh làng cũ, bồi hồi áo não... tôi nằm im lìm để cho nước mắt và tôi êm dịu dần dần.  Toan ngồi dậy ghi lại dòng cảm xúc, song sợ thắp đèn quấy rầy giấc ngủ của vợ con, tôi đành nằm yên đợi sáng. <br />
 <br />
Sáng hôm sau nhân ngày chủ nhật, được nghỉ, tôi toan lấy giấy bút để làm thơ thì khách đến! Thế là mất hết buổi sáng. Chiều đến đóng kín cửa phòng, một mình ngồi lập ý. Vừa nghĩ đến chữ quạ thì liên tưởng đến màu đen, đến chữ ô. Chữ ô làm nhớ đến Ô Y Hạng của Lưu Vũ Tích :<br />
Chu tước kiều biên dã thảo hoa<br />
ô y hạng khẩu tịch dương tà<br />
cựu thời Vương Tạ đình tiền yến<br />
phi nhập tầm thường bách tính gia<br />
 <br />
Trần Trọng San dịch:<br />
Chu tước bên cầu cỏ trổ hoa<br />
cửa ô y hạng ánh dương tà<br />
xưa kia én đậu lầu Vương Tạ<br />
nay tới dân gian lượn mái nhà<br />
 <br />
Những cảnh trong thơ hiện ra mơ màng trước mắt. Tôi đặt bút xuống bàn, ngồi nhắm mắt lại để lòng vui theo cảnh... Bầy yến dễ thương bỗng bay tản mát rồi nhập lại nơi lùm tre cao.<br />
 <br />
Tre che khuất bóng bầy chim én, nhưng lại đưa ra mấy tiếng quạ rộn ràng... Liền đó như một cuộn phim, những cảnh bến đò An Thái, con đường ven sông Cổn dần dần hiện ra dưới bóng nguyệt mờ sương... Rồi tiếng quạ ngân lên, và theo dư âm, bến đò An Thái biến thành bến Phong Kiều của Trương Kế với quang cảnh :<br />
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên<br />
giang phong ngư hoả đối sầu miên<br />
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự<br />
Dạ bán chung lai đáo khách thuyền<br />
 <br />
Tản Ðà dịch:<br />
Trăng tà tiếng quạ kêu sương<br />
lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ<br />
thuyền ai đậu bến Cô Tô<br />
nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San<br />
 <br />
Và con sông Cổn biến thành dòng sông Xích Bích với con thuyền của Tô Đông Pha trôi chầm chậm dưới bóng trăng thu... Tôi tưởng tôi là họ Tô đương ngồi vuốt chồm râu rậm bay phất phơ trước gió, và gõ mạn thuyền ngâm bài phú Xích Bích có nhắc đến họ Tào. Tôi như trông thấy rõ dáng đắc ý của Tào Mạnh Ðức đứng trên đoàn thuyền kết dài trên mặt sông, quay ngang ngọn giáo ngâm bài :<br />
Nguyệt minh tình hỉ<br />
ô thước Nam phi<br />
nhiễu thọ tam táp<br />
vô chi khả y?<br />
 <br />
dịch:<br />
đêm nay sao tỏ trăng thanh<br />
về nam con quạ lao mình trên không<br />
lượn quanh cây lớn ba vòng<br />
tìm không chỗ đậu lại vùng bay đi<br />
 <br />
Rồi hết điểm này đến điểm khác nối nhau đưa tôi sâu vào trong cõi mộng... Tôi ngồi ngủ say cho tới lúc người nhà lay dậy ăn cơm tối! Cơm xong, tôi ngồi lại bàn giấy làm việc. Tôi nhất định ghi tất cả những gì đã đến cùng tôi. Nhưng không thể được, vì tôi không thích lối trường thiên. Tôi bèn chọn những nét rung cảm nhất, lọc những gì nên thơ nhất, dồn vào trong tám câu :<br />
Từ ô y hạng rủ rê sang<br />
bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng<br />
trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng<br />
thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng<br />
bồn chồn thương kẻ nương song bạc<br />
thắc thỏm chăng ai quả ấn vàng?<br />
tiếng dội lưng mây đồng vọng mãi<br />
tình lang mang gợi tứ lang mang<br />
 <br />
Tôi rất lấy làm thích và lấy nhan đề là “Ðêm Nghe Quạ Kêu”. Năm 1941, nhân các bạn ở tòa soạn tạp chí Bạn Ðường mới xuất bản, gửi thư xin bài, tôi liền gởi đăng bài ấy Cách đó ít lâu, xem xét lại bài thơ đã làm để in vào tập Mùa Cổ Ðiển, tôi thấy bài thơ trên đây, câu luận chưa sướng. Câu trạng do những cảnh cũ gợi điển. Câu luận thì bị thời cuộc lúc bấy giờ ảnh hưởng: Lúc ấy quân Nhật đóng ở Việt Nam, nhiều người đi lính để lập công danh, nhiều bà vợ bị chiếc bóng. Do đó mà mượn tiếng sông Ngân, mượn đến tích Trương Hạo lượm được một viên đá tròn do con sơn thước hoá ra, đem đập vỡ thì thấy một quả ấn vàng có mấy chữ “Trung hiền hầu ấn”, sau làm tướng được phong đến tước hầu.<br />
 <br />
Chưa lấy làm sướng nhưng sửa mãi chưa được. Mãi một đêm ngồi tựa lan can, trâm ngâm ngẫm nghĩ. Ngoài trời trăng sáng vằng vặc. Những cánh cửa sổ mở hé được ánh trăng chiếu vào trong như xuy bạc và thềm giếng mới rửa loang loáng sắc hoàng kim. Trí tôi và mắt tôi dồn cả vào sắc vàng trắng của cảnh vật và của câu thơ... Chợt một vật gì rơi vào lòng giếng tạo thành một tiếng chũm lạnh lùng. Tôi cảm xúc sửa ngay được câu thơ:<br />
bồn chồn thương kẻ nương song bạc<br />
lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng<br />
 <br />
Sửa được câu này tôi khoái hơn khi làm xong 8 câu trước. Nhưng ngâm đi ngâm lại tôi thấy câu kết chưa đúng nỗi lòng. Một lần nữa tôi phải lo sửa lại :<br />
tiếng dội lưng mây đồng vọng mãi<br />
tình hoang mang gợi tứ hoang mang<br />
 <br />
Như thế là ổn. Thích chí ngâm vang cả trời khuya. Chế Lan Viên cũng cho câu sửa hay hơn hẳn nguyên tác nhưng còn chê đề bài thơ chưa được nên thơ, mới thêm chữ “thu” vào thành “Đêm thu nghe quạ kêu” (trích từ Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến, tập 5, Nam Á tái bản , 1986, tr 123-126)<br />
 <br />
Dĩ nhiên , không phải tứ thơ nào cũng được thai nghén một cách lâu lắc và vất vả như thế. Cũng không phải người nào , khi làm thơ, cũng lập ý một cách cầu kỳ với những điển cố xa xôi như thế. Nhưng kinh nghiệm trăn trở tìm tứ của Quách Tấn lại rất điển hình: dù nhanh hay chậm, dù bằng cách thức nào đi nữa, sự hình thành tứ thơ nào cũng phải đi qua ba giai đoạn :<br />
<br />
Trước hết, phải có một cảnh vật, một sự kiện cụ thể có khả năng gây ấn tượng mạnh và sắc.<br />
<br />
Thứ hai, ấn tượng ấy cứ âm vang mãi trong hồn người, tạo nên những niềm cảm xúc sâu đậm.<br />
<br />
Và thứ ba, từ ấn tượng và cảm xúc ấy, nhà thơ phải vận dụng khả năng liên tưởng, tưởng tượng , tư duy để tìm ý, tìm chất liệu để khai triển thành một bài thơ hoàn chỉnh.<br />
<br />
Chính ở đây, có sự khác biệt sâu sắc giữa Quách Tấn và các nhà thơ sau này. Quách Tấn cũng như người xưa thường tìm ý và chất liệu từ kho tàng điển cố, điển tích. Các nhà thơ sau này thường tìm ý và chất liệu ngay từ đời sống thực. Không nên tuyệt đối hoá sự phân biệt này. Khi Huy Cận viết không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà chắc chắn là Huy Cận nhớ đến hai câu cuối trong bài “Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu. Khi Thâm Tâm viết : ly khách! ly khách! con đường nhỏ / chí lớn không về bàn tay không / thì không bao giờ nói trở lại / ba năm mẹ già cũng đừng mong, chắc chắn là Thâm Tâm nhớ đến hình ảnh Kinh Kha với câu thơ phong tiêu tiêu hề Dịch tiểu hàn. Đọc nhiều bài thơ của Nguyễn Mạnh Trinh đăng báo gần đây, tôi chắc thế nào Nguyễn Mạnh Trinh cũng nhớ đến Nguyễn Bắc Sơn.<br />
<br />
Vai trò của tứ thơ cực kỳ quan trọng. Nó giống như là nền móng, cột kèo trong một ngôi nhà. Nó giống như là xương xẩu trong một thân thể. Không có bài thơ nào lại không có tứ. Ngoại lệ: những bài thơ dở.<br />
<br />
Hầu hết mọi nhà thơ đều đồng ý, trong công việc làm thơ, có loay hoay trăn trở thì chủ yếu là loay hoay trăn trở để tìm ý. Có tứ, thời gian hoàn chỉnh bài thơ thường khá nhanh. Tứ, tự nó sẽ huy động những từ ngữ và chi tiết nó cần. Con hổ sẽ biết mời gọi cảnh sơn lâm bóng cả, cây già, với những lá gai cỏ sắc, những bình minh cây xanh nắng gội, những buổi chiều lênh láng máu sau rừng. Trường giang sẽ biết mời gọi thuyền về nước lại, những cồn nhỏ gió đìu hiu, những bèo dạt về đâu hàng nối hàng, những sóng gợn... buồn điệp điệp. Cũng vậy, hầu như đã có sẵn chung quanh ông đồ viết câu đối Tết thuê những hình ảnh quen thuộc: mực tàu, giấy đỏ, người thuê viết, nét chữ như phượng múa rồng bay, những lá vàng rơi trên giấy, ngoài trời mưa bụi bay đây là công việc của trí tưởng tượng. Đối với nhà thơ, lúc này, cần nhất là sự tỉnh táo để lựa chọn. Nguyên tắc thứ nhất là tập trung. Tất cả các chi tiết đều nhắm tới mục đích thể hiện và làm nổi bật tứ. Nhà thơ lớn là nhà thơ chiến lược lớn: không có chiến thuật nào không để góp phần dẫn đến chiến thắng cuối cùng.<br />
<br />
Trong bài “Một Chút Xuân Quê Nhà”, Luân Hoán chọn lựa chi tiết rắt đắc. Tố cáo cuộc sống bần cùng, khốn khó dưới chế độ cộng sản, ông không dùng dao to búa lớn. Chỉ cần một lá thư với những chi tiết nhỏ nhoi đến tội nghiệp :<br />
<br />
xin báo cùng anh tin vui thứ nhất<br />
cây cúc đầu hè nở được một bông<br />
xin báo cùng anh cây cà chua nhỏ<br />
cũng đậu được vài trái đỏ xinh xinh<br />
xin báo cùng anh vồng khoai luống cải<br />
nhờ bón phân người lá cũng rất xanh<br />
xin báo cùng anh sáng nay đầu ngõ<br />
có con cu cườm đậu tuốt ngọn tre...<br />
 <br />
Chỉ có thế. Dù<br />
<br />
thư viết cho anh đắn đo từng chữ,<br />
lựa lọc từng lời cho đỡ nặng cân,<br />
nhưng những lời kể trước sau cứ quanh quẩn hoài với những điều rất mực vu vơ, những niềm vui rất ư nhỏ bé. Không còn gì khác. Người đọc đủ thấy rưng rưng hiện lên trước mắt một cuộc đời lam lũ, tối tăm đến là thương. Nói là báo “tin vui”nhưng sự thực lại là vang lên tiếng khóc não nùng.<br />
<br />
Nguyên tắc thứ hai là tiết kiệm. Chơi hoa, người ta phải biết tỉa cành và ngắt lá. Để hình hoa nổi rõ, để sắc hoa thêm chói. Chi tiết càng rườm tứ thơ càng mờ. Chi tiết càng chồng chất, tứ thơ càng vụn nát. Người xưa hay nói về “vẽ mây nẩy trăng”: đừng cho mây nhiều đến độ ánh trăng bị khuất.<br />
<br />
Ai không công nhận Ðoàn Văn Cừ là người rất giỏi trong việc dựng lại những khung cảnh đồng quê thuở xưa? Nhưng mấy ai nhớ nổi thơ họ Ðoàn? Người ta chỉ nhớ những câu chấm phá ít nét của Nguyễn Bính. Trong cuộc tranh giải văn chương, trí nhớ con người là trọng tài đáng tin cậy nhất.<br />
<br />
Vai trò thứ hai của tứ là định hướng kết cấu bài thơ. Nói chung, một trong những yêu cầu lớn nhất đối với thơ là tính chất thống nhất. Cả bài thơ phải là một chỉnh thể toàn vẹn. Tứ sẽ là cơ sở của sự thống nhất và toàn vẹn ấy. Xuân Diệu kể bài thơ Với bàn tay ấy thoạt đầu như sau :<br />
<br />
một tối bầu trời chẳng gợn mây<br />
cây tìm nghiêng bóng xuống hoa gầy<br />
hoa nghiêng xuống cỏ trong khi cỏ<br />
nghiêng xuống làn rêu: - một lối đầy<br />
những lời huyền bí bốc lên trăng...<br />
 <br />
Xuân Diệu gửi bài thơ đăng báo. Thế Lữ, khi chọn đăng, đã tinh ý nhận ra ngay nét đặc sắc của cái tứ mà nhà thơ trẻ là Xuân Diệu hồi ấy muốn dựng: cả trời đất giao hoà với nhau: cây nghiêng xuống hoa, hoa nghiêng xuống cỏ, cỏ nghiêng xuống rêu. Nhưng Thế Lữ cũng phát hiện ngay một điểm yếu cơ bản trong bài thơ ấy: trong khi vạn vật song sóng gần kề hòa hợp với nhau, thì bầu trời, lạ chưa, bầu trời lại chẳng gợn mây.,nó lẻ loi, nó lạc lõng đến chông chênh, nó bơ vơ đến tội nghiệp và lạ lùng. Thế Lữ chữa câu thơ là:<br />
<br />
Một tối bầu trời đắm sắc mây<br />
cây tìm nghiêng xuống nhánh hoa gầy...<br />
 <br />
Như vậy thiên nhiên mới có sự giao hoà rõ rệt. Tứ thơ chặt. Bài thơ thành ra nhất quán. Cách chữa của Thế Lữ rất được Xuân Diệu đồng tình và tri ân (Công Việc Làm Thơ, sđd, tr 26)<br />
<br />
Bài “Tống Biệt Hành” của Thâm Tâm là một bài thơ hay, rất hay, có lẽ là một trong những bài thơ hay nhất của thời 30-45. Bài thơ hình thành như hai lời đối thoại; không, đúng hơn, như hai lời độc thoại của hai người, một người ra đi, và một người đưa tiễn. Người đưa tiễn buồn mênh mang. Nghe tiếng sóng trong lòng. Nghe hoàng hôn rơi trên mắt :<br />
<br />
đưa người ta không đưa qua sông<br />
sao có tiếng sóng ở trong lòng<br />
bóng chiều không thắm không vàng vọt<br />
sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?<br />
đưa người ta chỉ đưa người ấy<br />
một giã gia đình, một dửng dưng<br />
 <br />
Không biết người ra đi trả lời hay chỉ tự nhủ thầm cho một mình mình nghe :<br />
<br />
ly khách! ly khách! con đường nhỏ<br />
chí lớn không về bàn tay không<br />
thì không bao giờ nói trở lại<br />
ba năm mẹ già cũng đừng mong<br />
 <br />
Nghe có vẻ đầy hào khí, nhưng người đưa tiễn biết đó chỉ là giả vờ:<br />
<br />
ta biết người buồn chiều hôm trước<br />
bây giờ mùa hạ sen nở nốt<br />
một chị, hai chị đều như sen<br />
khuyên nốt em trai dòng lệ sót<br />
ta biết người buồn sáng hôm nay<br />
trời chưa là thu tươi lắm thay<br />
em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc<br />
gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay<br />
 <br />
Chị, em và người yêu lưu luyến thế ấy, chẳng lẽ lại đành tâm ra đi? Nhưng ly khách lại đi thật. Bóng đã xa, người đưa tiễn còn ngơ ngác đứng và hun hút nhìn :<br />
<br />
người đi? ừ nhỉ, người đi thực<br />
mẹ thà coi như chiếc lá bay<br />
chị thà coi như là hạt bụi<br />
em thà coi như hơi rượu say<br />
 <br />
Trong Thi Nhân Việt Nam Tiền Chiến, dựa theo nguyên bản bài thơ đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng phục hồi thêm bốn câu cuối:<br />
<br />
mây thu đầu núi gió lên trăng<br />
cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm<br />
ly khách bên trời nghe muốn khóc<br />
tiếng đời xô động, tiếng hờn câm<br />
 <br />
Ðúng là giọng thơ Thâm Tâm. Nhưng tôi có cảm tưởng thêm bốn câu ấy vào, bài thơ không hay hơn. Hơn nữa yếu xuống. Nó lạc điệu. Lạc về biện pháp: cả bài thơ được tác giả sử dụng biện pháp biểu hiện, đi sâu, xoáy vào tâm tư, đoạn cuối lại là những câu tả. Lạc điệu về giọng: bài thơ có hai nhân vật chính, người ra đi và người đưa tiễn; đoạn cuối lại tập trung ở ly khách. Lạc điệu về tứ: trong mấy đoạn đầu, ly khách tuy ngậm ngùi nhưng nét chính vẫn là sự nghênh ngang, hào sảng. Thấp thoáng chút hùng khí đời xưa. Phảng phất hình ảnh Kinh Kha ngày trước. Rất đẹp. Biết là cường điệu mà vẫn thấy đẹp. Đoạn cuối xóa tan tất cả những hình ảnh và ấn tượng ấy: ly khách lại trở thành nhỏ nhoi, thảm thương ven trời nghe muốn khóc. Tôi không biết Thâm Tâm hay Hoài Thanh đã cắt bỏ đoạn thơ ấy trong Thi Nhân Việt Nam. Dù là do ai, sự cắt bỏ ấy rất mực tài tình.<br />
<br />
Có người chia tứ thơ ra làm hai loại: tứ thơ thiên về tạo hình và tứ thơ thiên về dòng suy nghĩ liên tưởng.<br />
<br />
Tứ thơ thiên về tạo hình là loại tứ thơ được xây dựng với mục tiêu khắc hoạ một nhân vật cụ thể qua đó nhà thơ gởi gắm cảm xúc và tư tưởng của mình. Lênh theo từng đường nét hội hoạ của thơ là những nhịp thở xôn xao từ trái tim người. Đây là loại tứ phổ biến và xuất hiện sớm nhất. Hầu hết những bài thơ nêu trên đều thuộc loại tứ này.<br />
<br />
hôm nay dưới bến xuôi đò<br />
thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau<br />
anh đi đấy? anh đi đâu?<br />
cánh buồm nâu, cánh buồn nâu, cánh buồm…<br />
 <br />
Thơ Nguyễn Bính, tựa “Không đề” chỉ có bốn câu. Theo tôi, đây là một trong những bài thơ hay nhất, hoàn chỉnh nhất của Nguyễn Bính. Bài thơ có hai nhân vật, một người con trai và một người con gái. Người con trai ở dưới bến chờ xuôi đò. Người con gái trong nhà, qua vuông cửa sổ, thẫn thờ ngó ra. Nguyễn Bính nói họ “thương nhau”. Chắc là thương thầm, nên không có tiễn đưa. Nên người con gái mới băn khoăn tự hỏi anh đi đấy, anh đi đâu? Sáu chữ mà bời bời hai tâm sự ngổn ngang. Anh đi đấy? là câu hỏi thảng thốt, đau nhói. Anh về đâu? là câu hỏi ngậm ngùi, buồn tênh. Người con gái ngạc nhiên, rồi bàng hoàng, rồi ngẩn ngơ. Chiếc thuyền rời bến, từ từ đi xa. Hình ảnh người con trai hút. Chỉ còn chiếc thuyền. Rồi chiếc thuyền cũng khuất. Chỉ còn cánh buồm vươn cao, vươn cao, chới với, chập chờn, lung linh, xa xăm:<br />
<br />
cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm... <br />
 <br />
Người con gái vẫn còn đứng đó, bên thành cửa sổ, vời vợi nhìn theo. Câu thơ cắt thành ba nhịp, tưởng như mỗi nhịp ngắt là một làn sóng đột nhiên trào lên, che khuất cánh buồm. Bao nhiêu lần khuất rồi hiện. Lần cuối cùng, đã xa lơ xa lắc, người con gái chỉ còn nhìn thấy, mờ thật mờ, hình ảnh cánh buồm thấp thoáng, nhòa đi trong khói sóng bập bềnh. Không còn thấy màu sắc nữa: chữ “nâu” ở nhịp cuối biến mất.<br />
<br />
Trần Huyền Trân, người khách muộn màng nhất trong Thi Nhân Việt Nam, người bị Hoài Thanh, Hoài Chân vừa tiếp đón vừa dè bỉu là “không xuất sắc lắm” lại là tác giả bài thơ lục bát tuyệt hay: “Ngõ Trúc” (sau này Trần Huyền Trân đổi tựa lại lả “Thu”).<br />
<br />
Mưa rơi trắng lá rau tần<br />
thuyền ai bốc khói xa dần bến mưa<br />
người về khép lại song thưa<br />
để rêu ngõ trúc tương tư lá vàng<br />
 <br />
Cặp lục bát đầu mở ra và khép lại bằng hai chữ “mưa”. Cả không gian bị vây quạnh dưới mưa. Mưa rơi trùng trùng, sướt mướt, lê thê . Mưa tung tóe sủi bọt trắng xoá trên những chiếc lá rau tần yếu ớt. Mưa xoá nhoà hình ảnh chiếc thuyền khiến nó biến thành hư hư ảo ảo như một cụm khói. Tôi ngờ chiếc thuyền vẫn đậu yên. Nhưng mưa mờ mắt nhìn , gây cảm tưởng chiếc thuyền mỗi lúc một xa dần, xa dần. Đường vắng, ngõ vắng, không có ai cả. Suốt bài thơ không hề thoáng thấy một nhân ảnh.”Thuyền ai” chỉ là cách nói chỉ chiếc thuyền xa lạ. “Người về” cũng chỉ là cách nói chỉ một ý niệm hết sức bâng quơ. Trên các lối ngõ ven sông chỉ có những khóm trúc đứng buồn thiu dưới mưa. Và rêu xanh sũng nước. Và lá vàng rụng rơi.<br />
<br />
Khó mà bình câu cuối. Hiếm khi nào thơ lục bát lại hàm súc đến như vậy. Một cái gì vắng, thật vắng. Lặng, thật lặng. Mà cũng hiu hắt quá chừng. Tưởng như từ thiên cổ, trên ngõ trúc ấy, đã không có người vãng lai. Tưởng như đến nghìn năm sau, trên ngõ trúc ấy vẫn phong hoài niềm hiu quạnh. Chỉ có rêu nhớ lá.<br />
<br />
Loại thiên về suy nghĩ liên tưởng lại khác. Ở đây có thể có hình tượng, đôi khi dày đặc hình tượng, tuy nhiên cái mạch chính để dẫn dắt tứ thơ lại là một cảm nghĩ nào đó. Hình tượng có thể rời rạc với nhau nhưng lại thống nhất trong một chủ đề chung. Nhà thơ có thể miên man liên tưởng đến những vấn đề khác, xa hay gần . Kết cấu loại tứ này, do đó thường sinh động và đa dạng. Bài thơ hình thành như một thứ giao hưởng giữa trái tim và đầu óc. Chất thơ và chất suy tưởng đan quyện với nhau. Từ hiện tại, nhà thơ có thể quay về quá khứ hay đến tương lai. Từ một cảnh vật cụ thể, nhà thơ mông lung nghĩ ngợi đến những chuyện xa vời. Có thể dẫn bài “Đất nước” làm thí dụ. Bài thơ này được sáng tác từ năm 1948, cùng thời gian với bài “Tây Tiến” của Quang Dũng, thời toàn dân chống Pháp, lúc cộng sản chưa dùng những hình thức tàn bạo nghiệt ngã siết văn thơ vào khuôn khổ chật chội của một cái loa tuyên truyền rỉ sét.<br />
<br />
Từ đó hình thành từ một thời gian và một không gian cụ thể:<br />
<br />
Sáng mát trong như sáng năm xưa<br />
gió thổi mùa thu hương cốm mới<br />
tôi nhớ những ngày thu đã xa<br />
 <br />
sau đó tứ thơ chuyển về quá khứ :<br />
<br />
sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội<br />
những phố dài xao xác heo may<br />
người ra đi đầu không ngoảnh lại<br />
sau lưng thềm nắng lá rơi đầy<br />
 <br />
rồi quay về hiện tại :<br />
<br />
mùa thu nay khác rồi<br />
tôi đứng đây vui giữa núi đồi<br />
gió thổi rừng tre phất phới<br />
rừng thu thay áo mới<br />
trong biếc nói cười thiết tha<br />
 <br />
Giọng bâng khuâng biến thành giọng hùng tráng :<br />
<br />
trời xanh đây là của chúng ta<br />
núi rừng đây là của chúng ta<br />
những cánh đồng thơm mát<br />
những ngả đường bát ngát<br />
những dòng sông đỏ nặng phù sa<br />
nước chúng ta<br />
nước những người chưa bao giờ khuất<br />
đêm đêm rì rầm trong tiếng đất<br />
những buổi ngày xưa vọng nói về<br />
 <br />
đang suy nghĩ về tổ quốc, nhà thơ chợt nhớ đến những kỷ niệm riêng tư:<br />
<br />
ôi những cánh đồng quê chảy máu<br />
dãy thép gai đâm nát trời chiều<br />
những đêm dài hành quân nung nấu<br />
bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu<br />
 <br />
đoạn kế tiếp lại pha rất nhiều vẻ chính luận :<br />
<br />
từ những năm đau thương chiến đấu<br />
đã ngời lên nét mặt quê hương<br />
từ gốc lúa bờ tre hồn hậu<br />
bỗng bật lên những tiếng căm hờn...<br />
 <br />
Cứ thế, theo dòng liên tưởng của mình, nhà thơ dẫn dắt người đọc đi từ chuyện này qua chuyện kia, từ vấn đề này qua vấn đề khác, từ quá khứ đến hiện đại, đến tương lai, từ việc riêng đến việc chung, từ giọng tâm tình đến giọng suy tưởng nhưng trước sau vẫn bám vào một cái trục duy nhất: những suy nghĩ về đất nước.<br />
<br />
Tôi có cảm tưởng các nhà thơ ở miền Nam trước đây hay ở hải ngoại hiện nay ít khai thác loại cấu tứ này. Tiếc. Có thật nhiều cơ hội để tiếp xúc với những luồng tư tưởng lớn trên thế giới, đầu óc được hoàn toàn tự do để suy nghĩ, cuộc sống nội tâm vô cùng phong phú, đó không phải là những điều kiện cần và đủ cho loại tứ này nở hoa?<br />
<br />
Bài thơ “Lệ đá xanh” của Thanh Tâm Tuyền giàu chất suy tư nhưng do thiếu những liên tưởng bất ngờ nên tứ thơ ít biến hoá, thiếu linh động, giống như một nhánh hoa thẳng đuột, khẳng khiu.  Bài thơ chia làm ba phần như một thứ tam đoạn luận cứng ngắc. Phần đầu trình bày những ấn tượng chung của tác giả về cuộc đời:<br />
<br />
tôi biết những người khóc lẻ loi<br />
không nguôi một phút<br />
những người khóc lệ không rơi ngoài tim mình<br />
em biết không<br />
lệ là những viên đá xanh<br />
tim rũ rượi<br />
 <br />
Mỗi người trong cuộc đời như một ốc đảo trong địa ngục. Họ khóc triền miên. Tiếng khóc giữa cô đơn không thể vỡ oà. Nó nén lại. Thành một nghẹn ngào. Những giọt nước mắt âm thầm và không tan trên khóe mắt ấy càng khiến con người thêm u uất, ngỡ chúng như những “viên đá xanh”đè lên trái tim, gây biết bao đau đớn, ngột ngạt, tức tối. đây là một đoạn thơ hay nhất trong bài. Ngôn ngữ mạnh và sắc. Nhạc điệu mới và hay.<br />
<br />
Đoạn thứ hai, tác giả muốn phá tan cái ấn tượng ảm đạm bằng cách:<br />
<br />
đôi khi anh muốn tin<br />
ngoài đời chỉ có trời sao là đáng kể<br />
mà bên những vì sao lấp lánh đôi mắt em<br />
đến ngày cuối<br />
đôi khi anh muốn tin<br />
ngoài đời thơm phức những trái cây của Thượng đế<br />
mà bên những trái cây ngọt ngào đôi mắt em<br />
nguồn sữa mật khởi đầu<br />
đôi khi anh muốn tin<br />
ngoài đời đầy cỏ hoa tinh khiết<br />
mà bên cỏ hoa quyến rũ cánh tay em<br />
vòng ân ái<br />
đôi khi anh muốn tin<br />
 <br />
Nhiều người phàn nàn thơ Thanh Tâm Tuyền khó hiểu. Thật ra, không đến nổi. Tất cả “bí mật”của thơ ông đều nằm trong hai yếu tố: đảo ngữ và giấu biệt liên từ. Đã quen với thơ ông, người ta sẽ thấy phần lớn đều sáng sủa đến độ... khó mà bình giảng thêm. Chẳng hạn khổ đầu của đoạn thơ trên sẽ là “đôi khi anh muốn tin, ngoài đời chỉ có trời sao là đáng kể, mà bên những vì sao (ấy) (là) đôi mắt em (sẽ) lấp lánh đến ngày cuối”.<br />
<br />
Ðáng để chú ý trong đoạn thơ trên là mệnh đề láy đi láy lại nhiều lần “đôi khi anh muốn tin”. Niềm tin ở đây thật ngượng ngập và thật mong manh. Dễ hiểu tại sao, cuối đoạn, sau khi viết “đôi khi anh muốm tin” tác giả dừng lại đột ngột, hết sức lửng lơ. Bởi lúc ấy, ngay lúc ấy, cuộc đời bỗng dội lên thực tế não nề :<br />
<br />
ôi những người khóc lẻ loi<br />
đau đớn lệ là những viên đá xanh<br />
tim rũ rượi<br />
 <br />
Giống hệt đoạn đầu, chỉ thêm một hình dung từ và một từ tán thán cho hơi thơ có âm hưởng hơn. “Lệ đá Xanh” chưa phải là bài thơ hay nhất của Thanh Tâm Tuyền. Tuy nhiên đây là bài thơ mở ra khía cạnh ít người ngờ ở tâm hồn nhà thơ thỉnh thoảng có những phát ngôn ra vẻ nhẫn tâm này: lòng nhân hậu. Rất yêu cuộc đời đến không nỡ kiếm riêng một niềm vui. <br />
<br />
Đứng về phương diện xây dựng tứ thơ, theo tôi, có ba cách:<br />
<br />
Thứ nhất, cấu tứ theo lối tăng tiến. Thuộc loại này, những bài thơ có tứ tương đối định hình sớm, ngay từ những câu đầu và sau đó, ở những câu kế tiếp cho đến lúc chấm dứt, tác giả chỉ làm nhiệm vụ khai triển thêm, đào sâu thêm. Cách cấu tứ này rất phổ biến. Nó thích hợp với những trạng thái tâm lý ngưng đọng ở một nét nào đó rõ ràng. Nó không gây bất ngờ song có khả năng dẫn người đọc mỗi lúc một đi sâu, đi xa, đến tận cùng một nỗi niềm, một tâm trạng.<br />
<br />
Chắc ít người nhớ bài “Về đây” của Cung Trầm Tưởng :<br />
<br />
về đây tôi lại gặp tôi<br />
lang thang lối cũ trước đồi sau nương<br />
ngô đồng lả ngọn thuần lương<br />
trời cao không đỉnh, mến thương không bờ<br />
cố tri khóm trúc bây giờ<br />
vẫn bừng hoa nở đứng chờ lối xưa<br />
vẫn hanh vàng nắng toả vừa<br />
hiu hiu tùng rủ bóng chưa hao gầy<br />
về đây tôi lại về đây<br />
non lên thắm nhớ, chiều đầy khoan dung<br />
chân vui lối rộn khôn cùng<br />
gần xa trời mở vòng cung thâu vào<br />
chân phương lòng thấy nao nao<br />
với muôn thương mến lên cao hôn trời<br />
 <br />
Thơ tả một cuộc trở về quê quán cũ mà được như vậy kể cũng ít. Giọng thơ nhẹ nhàng. Tình thơ đôn hậu. Ăm ắp niềm vui. Vui vì gặp lại không gian quen thân cũ. Vui vì gặp lại chính mình thuở ấu thơ. Nỗi vui lênh tràn ra trời đất. Mấy câu cuối, hình tượng đẹp và ý hay.<br />
<br />
Bài thơ “Thơ Bệnh” của Viên Linh cũng theo lối cấu tứ tăng tiến. Trong tâm trạng của nhà thơ lúc bệnh, thoạt đầu hình ảnh của mình là một sự dừng lại, dừng lại để thấy bao nhiêu nhiệt tâm một đời đổ ra khơi xa, bao nhiêu mơ ước còn chôn chặt u uẩn trong lòng :<br />
<br />
lúc này hình đất tượng cây<br />
đời ta như nước chảy đầy bãi xa<br />
chiều rồi lòng mở không ra<br />
mênh mông trong ngực mùa hoa hải tần<br />
 <br />
Dừng lại, sụp đổ rồi lún xuống. Lún đến nửa đời người. Trong vũng sầu mênh mông:<br />
<br />
nước xa cuồn cuộn xa khơi<br />
sâu trong tâm thể có đôi giọt gần<br />
bãi sầu trời ngập đến chân<br />
dương gian ta lún nửa thân còn gì<br />
 <br />
Lún theo thời gian và lún theo cơn bệnh. Ðến một lúc nào ngỡ đã tiếp cận với bờ bên kia cõi sống:<br />
<br />
chiều nay mưa dưới âm ty<br />
ta nghe kiếp trước thầm thì hỏi han<br />
 <br />
Khi xây dựng tứ thơ theo lối tăng tiến, cần chú ý một điều: càng về sau, cảm xúc cần phải mạnh hơn, chặc hơn, đậm hơn. Thì mới gây được ấn tượng sâu. Nếu không, cái thế của đoạn sau dễ thành hụt hẫng. Hoá thừa.<br />
<br />
Lối kết cấu thứ hai: Gợi mở. Thuộc loại này, những bài thơ có tứ chính được giấu kín đến những câu cuối cùng. Bài “Ông đồ” của Vũ Đình Liên là thí dụ. Suốt 18 câu đầu, tác giả chỉ tả hình ảnh ông đồ cụ thể xuyên suốt quãng thời gian dài, từ quá khứ đến hiện tại, từ thuở vàng son đến lúc bị lãng quên. Đến hai câu cuối, ngỡ tác gỉa sẽ buông lời cảm khái trước một ông đồ hẩm hiu. Nhưng không, Vũ Đình Liên, từ một ông đồ cụ thể, đã liên tưởng đến cái gì rộng hơn, mênh mông hơn :<br />
<br />
những người muôn năm cũ<br />
hồn ở đâu bây giờ?<br />
 <br />
Tứ thơ đột ngột mở rộng. Chợt man mác buồn nhớ đến những giọt lệ của Trần Tử Ngang ngày nào:<br />
<br />
Bài “Mất ô” của Tú Xương cũng có lối kết cấu tương tự:<br />
<br />
đêm qua anh đến chơi đây<br />
giày dôn anh diện, ô tây anh cầm<br />
rạng ngày sang trống canh năm<br />
anh dậy em hãy còn nằm trơ trơ<br />
hỏi ô, ô mất bao giờ<br />
hỏi em, em cứ ỡm ờ không thưa...<br />
 <br />
đến đây, bài thơ không có gì đặc sắc. Chỉ là lời tường thuật pha chút u-mua nhẹ nhàng. Thế nhưng hai câu cuối nữa :<br />
<br />
chỉ e rày gió mai mưa<br />
lấy gì đi sớm về trưa với tình<br />
 <br />
Bài thơ, nói như Nguyễn Tuân, tự nhiên “nổi gió” hẳn lên. Không còn là văn xuôi trần trụi. Đã là thơ. Từ việc cỏn con là mất ô, Tú Xương mở ra bát ngát một tấm lòng khao khát tình yêu vô hạn.<br />
<br />
Luân Hoán, trong Hơi Thở Việt Nam, thường xử dụng lối kết cấu tăng tiến. Gần đây, trong nhiều bài thơ đăng báo, tôi có cảm tưởng ông nghiêng về lối cấu tứ gợi mở hơn. ông đang học bài học của Kim Trọng: từ một gót giày in trong rêu xanh, mở ra những tâm tình người man mác. Ông đang học bài học của Quách Tấn: từ một “vỏ sò khô” làm thức dậy những tiếng “sóng trùng dương” vọng vang trên những “muôn xa bờ bến cũ”. Thơ ông, nhờ đó có âm hưởng ngân vang hơn, sâu lắng hơn, nhói lòng hơn. Bài “Bạc Tóc” đăng trên Văn Học số Xuân Mậu Thìn là một bài thơ cảm động. Từ mấy cọng tóc bạc trên đầu, Luân Hoán mở ra một tấm lòng đang phôi pha theo ngày tháng lưu cư khắc khoải:<br />
<br />
không đâu em, chúng chính là đá trắng<br />
đang xây dần phần mộ của riêng ta<br />
hoa ngập nước lâu ngày đành phải rã<br />
hồn ngấm sầu lâu quá phải phôi pha<br />
 <br />
Cách cấu tứ gợi mở thường được người xưa sử dụng. Nó bất ngờ. Có cảm giác đang ở trong không gian chật hẹp, khép kín, mọi cửa ngõ đều bằn bặt đóng im, rồi bỗng dưng, thật đột ngột, mọi cánh cửa đều mở toang. Thấy lồng lộng bên ngoài một sắc trời xanh, xanh biếc.<br />
<br />
Có điều, theo lối cấu trúc này, bài thơ khó dài. Dài, thời gian chuẩn bị tâm thế lâu dễ sinh ngột, nản. Mà nói thế, chứ ai lại mong làm thơ dài ?<br />
<br />
Cách cấu tứ thứ ba: tương phản.<br />
<br />
Trong bài “Đám tang Nguyễn Duy Diễn”, Nguyên Sa viết :<br />
<br />
Diễn đã chết, Diễn đã chết<br />
chúng tôi nhảy múa hò reo<br />
như những người da đen<br />
thế là nó thoát! thế là nó thoát!<br />
thế là nó thoát, đúng rồi, thế là nó thoát<br />
thoát khỏi ngủ, khỏi ăn, khỏi thở<br />
khỏi đêm, khỏi ngày, khỏi tháng, khỏi năm<br />
khỏi chờ, khỏi đợi<br />
khỏi hy vọng ban mai, buồn thiu buổi tối<br />
thế là nó thoát, thế là nó thoát<br />
không phải đi, khỏi phải đứng, khỏi phải ngồi<br />
khỏi bốn mươi giờ dạy học mỗi tuần<br />
khỏi viết ban đêm, khỏi đến nhà in buổi sáng<br />
...........<br />
thế là nó thoát, thế là nó thoát<br />
cuồng lưu dằn vặt đã trôi đi<br />
khỏi phải nghĩ, khỏi lo âu, sợ hãi<br />
sự thực có phải bao giờ cũng tối như đêm<br />
tình ái có phải suốt đời là canh bạc lận<br />
lịch sử, rút lại, có phải là thằng mù sờ soạng<br />
ném tất cả rồi, ném xuống biển sâu<br />
này hai vai nói nhẹ :<br />
chiếc lưới đã mở rồi<br />
thế là nó thoát, anh em ơi<br />
 <br />
Thử so sánh với bài “Khóc Dương Khuê”của Nguyễn Khuyến. Chưa tới một thế kỷ mà cách nghĩ, cách viết khác nhau biết mấy. Bài thơ của Nguyên Sa nung nấu đầy những uất ức và cay đắng. Nghe tin bạn chết, Nguyên Sa không “bàng hoàng” như người xưa; ông và những kẻ còn sống “nhảy múa hò reo”. Thật chăng ? Hãy đọc lại mấy câu cuối. Hãy nghe lời “hai vai nói nhẹ” theo từng nhịp nấc. Cảm giác phẫn nộ đối với cuộc sống đến đây thành một sự nghẹn ngào.<br />
<br />
Bài thơ không có một câu một chữ nào tiếc thương người khuất nhưng cả tứ thơ lại toát lên niềm đau đớn vô tận.<br />
<br />
Bài “Phiêu Bồng”của Cao Tần cũng có lối cấu tứ tương phản :<br />
<br />
cho ta làm lại cuộc đời<br />
thì ta lại vẫn ra khơi như thường<br />
vật vờ vượt sóng trùng dương<br />
kiếm đời di tản nghìn cơn nhục nhằn<br />
mai này tính sổ trăm năm<br />
may chăng lời được cái thân phiêu bồng<br />
 <br />
Nhà thơ ca ngợi sự “phiêu bồng” và thích thú “ đời di tản”chăng? Không, ông kinh sợ nó. Hai chữ “phiêu bồng” nghe có vẻ lãng mạn thật. Nhưng đời người sẽ có ý nghĩa gì khi vì nó, phải chịu đựng “nghìn cơn nhục nhằn” để đến lúc nhắm mắt, nhìn lại, chỉ thấy toàn những dấu chân lênh đênh? Cần chú ý hai chữ “may chăng” ở cuối câu. Cái điều duy nhất có thể gọi được là “lời” của người lưu vong, coi bộ cũng phiêu hốt, mong manh lắm.<br />
<br />
Cả hai bài thơ mới dẫn của Nguyên Sa và của Cao Tần đều cấu tứ theo lối tương phản. Cái tứ nằm ở mặt trái của chữ và ý. Loại tứ này hiếm xuất hiện và còn để ngỏ nhiều khả năng thật lớn.<br />
<br />
Ở trên, tôi có trích lại hai nhận định quan trọng của Xuân Diệu: một, làm thơ, trước hết phải tìm tứ; hai, trong việc làm thơ, khó nhất là tìm tứ. Đưa ra hai nhận định ấy, Xuân Diệu xuất phát từ góc độ sáng tác thơ. Ðứng ở phạm vi một bài thơ cụ thể, người ta cũng có thể nêu ra một số nhận định khác :<br />
<br />
Một, cốt lõi của bài thơ là cái tứ.<br />
<br />
Hai, mỗi bài thơ chỉ có một tứ duy nhất. Ý , có thể trùng trùng. Hình tượng có thể điệp điệp. Nhưng tứ phải là một. Chỉ có một. Hơn, bài thơ bị nát thành hai, ba phần rời rạc, lạ lẫm bên nhau.<br />
<br />
Ba, yếu tố quan trọng nhất quyết định giá trị một bài thơ chính là cái tứ.<br />
<br />
Nói đến thơ đời Lý, đời Trần, không kể bài “Thiên đô chiếu” của Lý Công Uẩn, bài “Nam quốc sơn hà nam đế cư” của Lý Thường Kiệt, bài “Tụng giá hoàn kinh sư” của Trần Quang Khải, bài “Hịch Tướng Sĩ” của Trần Hưng Đạo vốn được nhắc nhở nhiều vì lý do chính trị hơn vì lý do thuần túy văn học, nói chung, có mấy bài thơ hay được người ta dẫn và bình nhất: bài “Thị đệ tử” của Vạn Hạnh, bài “Cáo tật thị chúng” của Mãn Giác, bài “Ngôn Hoài” của Không Lộ thuộc đời Lý và bài “Cảm Hoài” của Đặng Dung ở cuối đời Trần.<br />
<br />
Những bài thơ được nhắc nhở nhiều ấy hay hơn hẳn những bài thơ khác? Chưa chắc. Đứng về phương diện ngôn ngữ cũng như hình tượng, những bài thơ của Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trần Nguyên Đán... có lẽ vững hơn nhiều. Vậy ra lịch sử nhầm lẫn hay bất công chăng? Cũng không phải. Sự thực đơn giản lắm: người ta nhớ thơ trước hết là vì cái tứ.<br />
<br />
Bất cứ cái tứ nào diễn tả được tâm trạng phổ biến nhất của con người ở những cảnh huống họ hay gặp nhất, tứ thơ ấy sẽ sống mãi.<br />
<br />
Nghĩ lại coi, câu thơ “Anh đi đường anh, tôi đường tôi” của Thế Lữ hay câu “Yêu là chết ở trong lòng một ít”“của Xuân Diệu, hay câu “lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ” của Vũ Hoàng Chương thời tiền chiến... hay lắm sao? Thật ra, đó là những câu thơ cũng bình thường thôi. Nhưng chắc chắn, bao lâu ở đời còn có những người chia ly nhau, những người bị lỡ làng trong tình yêu, những người bất đắc chí trong cuộc sống, bấy lâu những câu thơ trên còn vọng vang mãi. Ai dám chắc, trong đời mình, chưa bao giờ ngâm lên nho nhỏ mấy câu thơ ấy để làm nguôi khuây những niềm u uẩn?<br />
<br />
Kết luận: Tứ thơ cần phải độc đáo, cần phải cô sắc, nhưng trước hết, cần phải chân thực. Thời gian chỉ giữ gìn những tứ thơ chiếm lĩnh một không gian bao la và sâu sắc trong lòng mọi người.<br />
<br />
 <br />
Nguyễn Hưng Quốc<br />
(Tìm Hiểu Nghệ Thuật Thơ Việt Nam, Quê Mẹ xuất bản tại Paris, 1988)]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Tổng kết kinh nghiệm gần một đời làm thơ của mình, trong quyển Công Việc Làm Thơ xuất bản năm 1984, Xuân Diệu viết:<br />
<br />
“Lao động thơ, trước hết là kiếm tứ<br />
<br />
Ngôn từ, lời, chữ, vần rất là quan trọng. Tuy nhiên đó là cái quan trọng thứ hai, mà Cai quan trọng thứ nhất, làm rường cột cho tất cả, là cái tứ thơ, nó chủ đạo cả bài.<br />
<br />
Làm thơ, khó nhất là tìm tứ “ (tr.117)<br />
<br />
Dù sau này, dưới chế độ cộng sản, Xuân Diệu làm thơ không ra gì, tuy nhiên, đừng quên, trước kia, có một thời, thời 30 - 45, ông là nhà thơ có tài lớn. Nở bừng ra giữa một mùa khô hạn của nền văn học đàu thế kỷ 20 nặng nề quẩn lại bước chân cũ những thế kỷ trước, những bài thơ của Xuân Diệu, cùng với thơ của nhiều người khác, trong đó thơ Xuân Diệu là một trong vài đình cao, đã xuất phát từ một quan điểm thẩm mỹ mới, thể hiện một tâm trạng mới, sử dụng một ngôn ngữ mới, sáng tạo một phong cách mới, mở rộng địa lý của thơ, mang đến cho thơ một khí hậu cực kỳ ấm áp, gần gũi nhân tình. Thời ấy, Xuân Diệu thực sự là một nhà thơ cách tân. Ông đã làm cho lãnh thổ cái đẹp trở thành rộng rinh hơn khi khám phá ra nét phân vân trên một cánh cò, cái rùng mình của một ánh trăng thâu, cái hòa hợp âm thầm của một nhành hoa, một bãi cỏ và một làn rêu trong đêm tối, cái bâng khuâng không duyên cớ khi trời chiều tự dưng trong vắt, cái hơi rét gây gây luồn lách , len lỏi vào trong gió thu. Xuân Diệu là người đầu tiên nhận ra hương bưởi là tín hiệu của đêm khuya, hiện tượng nắng tự nhiên nhạt màu, mây tự nhiên trôi nhẹ và gió tự nhiên hiu hiu là tín hiệu của tình yêu.<br />
<br />
Sau này, khi trở thành gã mãi võ của cộng sản, Xuân Diệu chỉ tạo được, dưới hình thức gọi là thơ, những cuộc hòa âm ầm ĩ mà rỗng tuếch của phèng la và chập choã. Tiếng chim hót ngày xưa không còn. Chỉ còn một vòi nước rè rè và đục vẩn. Nhưng đó là nói về sáng tác. Còn kinh nghiệm lại là cái khác ở ngoài mọi lập trường, mọi quan điểm. Kinh nghiệm là đứa con của thời gian. Do đó không nên khăng khăng hất đổ những gì Xuân Diệu tổng kết ở trên.<br />
<br />
Nhưng trước hết tứ thơ là gì?<br />
<br />
Có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo Chế Lan Viên: “gọi nó là tứ để phân biệt với ý. Chữ Tứ chẳng qua là ý lớn toàn bài vậy” (Văn Học Hà Nội 17.11.1961, bút hiệu Chàng Văn). Ngược lại, theo Nguyễn Xuân Nam: “tứ trong toàn bài là hình tượng xuyên suốt cả bài thơ.” (Văn Học , Hà Nội 2.1981). Hai quan niệm khác nhau. Một đằng thiên về ý. Một đằng thiên về hình tượng. Nhưng lại giống nhau một điểm: bất cập.<br />
<br />
Thử đọc bài thơ này của một “nhà thơ” cộng sản:<br />
<br />
tiếng loa nhắc vụ này thay giống lúa mới<br />
mùa đông giữ ấm ngực trẻ con<br />
trung ương vận động mua công trái nhiều hơn<br />
việc vợ chồng sinh đẻ có kế hoạch<br />
 <br />
thì cũng có ý đấy. Nhưng tứ thơ đâu?<br />
<br />
Hay thử đọc bài thơ này của một “nhà thơ” cộng sản khác:<br />
<br />
bãi lầy lắm hến nhiều ngao<br />
càng nhiều bãi lội càng cao lượng mồi<br />
đi chăn chực khó ướt người<br />
thì đêm ấy lượng trứng trồi hẳn lên<br />
 <br />
Thì cũng có hình tượng đấy. Nhưng tứ thơ đâu?<br />
<br />
Ðồng hoá tứ thơ với ý hoặc với hình tượng không những sai lầm mà còn là điều nguy hiểm. Thứ nhất, nó cũng có nghĩa đồng hoá thơ và vè, thơ và các loại diễn ca chính trị tầm thường rỗng tuếch nhan nhản trên sách báo tuyên truyền hoặc trên các vỉa hè, các đường phố: tất cả đều có điểm chung, hoặc có ý, hoặc có hình tượng, hoặc có cả hai. Thứ hai, nó làm mất khả năng phân biệt thơ hay và thơ dở. Không hiếm gì những bài thơ có ý tưởng ra vẻ “triết lý” cao kỳ mà lại là những bài thơ kém. Cũng không hiếm gì những bài thơ có hình tượng cũng gọi là “đèm đẹp” nhưng lại chỉ là những bài thơ nhạt phèo, chán ngắt. Thứ ba, nó làm lạc hướng những người mới bắt đầu làm thơ: họ dễ tưởng làm thơ chỉ là công việc thuần tuý của tư duy hay chỉ là công việc lắp ráp các hình tượng ngồ ngộ với nhau, để cuối cùng , tạo nên một cái gì rất đỗi... xa thơ.<br />
<br />
Trong tứ có ý, nhưng tự nó, ý chưa là tứ. Trong tứ có hình tượng, nhưng tự nó, hình tượng chưa là tứ. Còn xa xôi vô cùng. Không phải cứ đem mấy khài niệm triết học mốc tếch từ đâu gắn vào đít của chúng vài chữ đồng thanh, đồng âm cho ra vần vè là tự nhiên có thơ. Cũng như không phải cứ vất bừa bãi dăm bảy cành hoa lại với nhau là tự nhiên người ta có một bình hoa mỹ thuật. Ý , nó khô khốc lắm.Như là xương. Hình tượng, nó khơi vơi, bềnh bồng lắm. Như là khói. Ý và hình tượng phải kết tụ lại với nhau như da thịt đắp lên xương xẩu thì mới có hình người. Nhưng chưa là con người . Hình như trong Cựu Ước có viết, sau khi nắn thành người, Đức Chúa Trời phải thổi vào hình người ấy một hơi thở để tạo ra cái gọi là linh hồn, hình người ấy mới thực sự có sự sống, người đàn ông mới biết quay lại nhìn người đàn bà, để thấy, nơi mái tóc đen nhánh kia có một cái gì khiến sóng trong lòng mình xao lên, nao nao. Linh hồn ấy, trong thơ, chính là cảm xúc.<br />
<br />
Chỉ gọi là tứ khi có một ý tưởng làm bồng lên trong hồn người những niềm rung động sâu sắc và ý tưởng ấy, niềm rung động ấy cùng quyện lại với nhau, nhập thân vào một hình tượng cụ thể.<br />
<br />
Ý là của chung mọi người. Hình tượng là của chung trong trời đất. Ánh trăng nằm trên cành liễu thì có gì mới mẻ đâu? Nhưng cái tứ ánh trăng nằm sóng soãi trên cành liễu / đợi gió đông về để lả lơi thì rõ ràng là của riêng Hàn Mặc Tử. Niềm say mê cái đẹp tinh khiết của vũ trụ thì có gì là lạ đâu? Nhưng cái tứ Ta van cát bụi bên đường / dù nhơ dù sạch đừng vương gót này / để ta tròn một kiếp say / cao xanh liều một cánh tay níu trời thì rõ ràng là của riêng Vũ Hoàng Chương.Tứ là cái gì rất riêng tây ở mỗi nhà thơ, ở mỗi bài thơ. Tứ là thế giới tinh khôi lần đầu tiên được nhà thơ tạo dựng trong cơn say ngây ngất của cái người ta quen gọi là cảm hứng.<br />
<br />
Có thể định nghĩa vắn tắt : tứ là những suy nghĩ của trái tim trước cuộc đời.<br />
<br />
Bởi vì tứ là cái gì rất tổng hợp, do đó, quá trình tìm tứ cũng là một quá trình tổng hợp: nhà thơ phải vận động cùng lúc ba khả năng, suy nghĩ, tưởng tượng và cảm xúc. Chỉ khi nào ba yếu tố trên gặp gỡ nhau ở một điểm nào đó, tứ thơ mới hình thành. Nghĩ coi, có thể tin được không, là, trong suốt cuộc đời đi học, đi làm xa của mình, chỉ một lần duy nhất Huy Cận cảm thấy nhớ nhà? Chắc chắn là không. Nỗi nhớ cũng tự nhiên như là mây giăng ở những góc trời xa vắng. Thế thì tại sao chỉ có một lần, một lần duy nhất, nỗi nhớ nhà ấy hoá thành thơ? Câu trả lời: Bởi vì chỉ có một lần duy nhất ba yếu tố trên hoà nhập được với nhau. Trong một thời điểm: tràng giang điệp điệp sóng buồn. Sông thì dài, trời thì rộng, mây thì xa, bến thì cô liêu, ý niệm về sự lẻ loi của người lữ thứ càng đậm, nỗi sầu ly hương càng thêm thê thiết: tứ thơ khai sinh<br />
<br />
...lớp lớp mây cao đùn núi bạc<br />
chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa<br />
lòng quê dờn dợn vời con nước<br />
không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà<br />
 <br />
Rất nhiều nhà thơ kể giống nhau: có những cảnh vật người ta nhìn hoài, nhìn hoài.  Quen thuộc lắm. Nhớ làu làu từng chi tiết nhỏ. Nhưng cứ thấy là bình thường, tầm thường. Cảnh vật chỉ đọng trong mắt mà không len vào máu. Chỉ ơ hờ xa lạ bên cạnh những bước đi đi về về hằng ngày. Rồi bỗng dưng, một hôm, trong một tâm cảnh nào đó không ai biết rõ, hình như những tư tưởng nung nấu từ lâu đã chín muồi, hình như những cảm xúc im lìm đã cồn cào lên sóng, người ta nhìn lại những cảnh vật ấy, thấy lạ lùng hẳn, mới, tươi và gần gũi tâm hồn như thoạt thấy lần đầu. Chén trà khuya không chỉ là chén trà nữa. Chén trà khuya đã nao nao trăng hạ tuần như trong thơ Quách Tấn. Ánh trăng non không là ánh trăng non nữa. Mà trở thành mới lớn lên trăng đã thẹn thò như trong thơ Hàn Mặc Tử. Buổi chiều không còn là buổi chiều nữa. Buổi chiều đã là buổi chiều u uẩn và quạnh vắng của cõi lòng buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường như trong thơ Thanh Tâm Tuyền.<br />
<br />
Tìm tứ là quá trình chống lại một thói quen, chống lại những quán tính ù lì và những con đường mòn nhẵn thín cứ lôi người ta trơn tuột giữa cuộc đời. Tìm tứ là quá trình phát hiện cái bất bình thường từ những cái vẫn rất mực bình thường. Tìm tứ là quá trình khôi phục sự hồn nhiên bỡ ngỡ cho đôi mắt và cho trái tim.<br />
<br />
Thế Lữ hồi ức lại hoàn cảnh sáng tác bài Nhớ Rừng như sau:<br />
<br />
“Tôi làm một chân chữa bài in trong báo Volonté Indochinoise (Ý muốn của Ðông Dương) ở phố Cửa Bắc, từ nhà tôi ở , muốn đến toà soạn, phải qua đường Ngọc Hà, thành ra qua vườn Bách Thảo. Chính vì qua vườn Bách Thảo mà nảy ra bài “Nhớ Rừng”. Một trưa hè, ngồi nghỉ ở vườn, tôi nghe tiếng người làm vườn uể oải kéo lê bước chân trên đường sỏi, nghe ghê người lắm. Tôi nghĩ con hổ bị giam trong này thì buồn biết bao nhiêu . Bỗng nảy ra tứ một câu thơ đùa: “chú nó trong nắng hè uể oải, cũng không buồn thương nhớ cảnh rừng xa”. Nhưng sau đó tôi chuyển sang tứ là thương nhớ rừng. Khi đã nảy ra tứ nhớ rừng thì bài thơ đến rất nhanh, từ sáng đến trưa là xong, không phải sửa chữa gì lắm.” (Văn Nghệ, Hà Nội số Tết 84).<br />
Trước khi sáng bài “Nhớ Rừng”, đã bao nhiêu lần Thế Lữ đi ngang qua vườn Bách Thảo. Ðã bao nhiêu lần nhìn con hổ bị giam trong củi sắt? Nhưng chỉ khi nào hình ảnh ấy hiện lên cùng lúc với tiếng bước chân người làm vườn uể oải kéo lê trên đường sỏi thì mới làm dâng trào lên trong tâm hồn Thế Lữ nỗi bùi ngùi trước cuộc đời bị tù hãm, bị quẩn đọng trong một thế giới thật chật chội, thật vuông vức. Con hổ không là con hổ. Con hổ trở thành một ý niệm, một biểu tượng của sự tự do bị đè nén. Tứ thơ lóa lên. Con hổ tự nhiên có nỗi bất mãn thật kiêu hùng ghét những cảnh không đời nào thay đổi,có ước mơ lãng mạn và cao ngất hào khí:<br />
<br />
nào đâu những đêm vàng bên bờ suối<br />
ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?<br />
 <br />
Con hổ hóa nên nơi hội ngộ của một tư tưởng: tư tưởng tự do, và một tâm trạng: tâm trạng chán ngán hết mọi tù túng.<br />
<br />
Quá trình sáng tác bài “Ðêm Thu Nghe Quạ Kêu” của Quách Tấn cũng tương tự: đó là quá trình một tiếng quạ kêu nghe thấy tình cờ trở thành một tiếng đồng vọng của tâm tư. Quách Tấn kể:<br />
<br />
“Nguyên một buổi chiều cuối thu năm Ðinh Mão (1927), tôi ở Trường Ðịnh xuống An Thái hốt thuốc cho bà thân tôi. Theo con đường gần và dễ đi nhất, tôi qua bến đò An Thái sang An Vinh, rồi theo bờ sông Cổn đi thẳng lên. Ðêm hôm ấy có trăng, nhưng không được sáng , vì trời nhiều sương. Tôi vừa đi vừa nghĩ vẩn vơ. Chợt đến một khúc đường tre che khuất cả bóng trăng, và mo nang rụng đầy mặt đất. Tôi dẫm phải những mo nang mới rụng, tiếng kêu sột soạt làm bầy quạ đương ngủ trên cây, giật mình vỗ cánh kêu vang dậy, nghe vừa rùng rợn vừa lạnh lùng. Cả mình tôi rởn ốc!<br />
 <br />
Từ ấy tiếng quạ ám ảnh tôi luôn.<br />
 <br />
Cách ba tháng sau bà thân tôi mất. Tiếng quạ vẫn cứ theo tôi, nhưng giọng rùng rợn lạnh lùng đổi thành giọng não nùng. Qua thời gian khá lâu, tiếng quạ thưa dần và nhạt dần rồi lịm mất.<br />
 <br />
Mùa hạ năm Kỷ Mão (1939), một đêm trăng tôi ngồi hóng mát cùng nhà tôi và một người bạn, trên bờ đầm Nha Trang ở trước mặt nhà. Lúc ấy đã khuya. Nghe tiếng phở nhà tôi gọi. Không thấy trả lời, anh bạn gọi tiếp. Tiếng gọi bị núi Sinh Trung bên kia đầm dội lại, ngân dài trong đêm khuya...Tiếng quạ năm xưa ở tâm hồn tôi vụt thức dậy rộn ràng... rộn ràng nhưng dịu dàng chứ không rùng rợn, cũng không não nùng như ngày trước.<br />
 <br />
Trở vô nhà, suốt đêm tôi không ngủ được. Tiếng quạ vọng bên tai, và gợi lên không biết bao nhiêu là ký ức. Phần thì nhớ mẹ già xưa, phần thì thương cảnh làng cũ, bồi hồi áo não... tôi nằm im lìm để cho nước mắt và tôi êm dịu dần dần.  Toan ngồi dậy ghi lại dòng cảm xúc, song sợ thắp đèn quấy rầy giấc ngủ của vợ con, tôi đành nằm yên đợi sáng. <br />
 <br />
Sáng hôm sau nhân ngày chủ nhật, được nghỉ, tôi toan lấy giấy bút để làm thơ thì khách đến! Thế là mất hết buổi sáng. Chiều đến đóng kín cửa phòng, một mình ngồi lập ý. Vừa nghĩ đến chữ quạ thì liên tưởng đến màu đen, đến chữ ô. Chữ ô làm nhớ đến Ô Y Hạng của Lưu Vũ Tích :<br />
Chu tước kiều biên dã thảo hoa<br />
ô y hạng khẩu tịch dương tà<br />
cựu thời Vương Tạ đình tiền yến<br />
phi nhập tầm thường bách tính gia<br />
 <br />
Trần Trọng San dịch:<br />
Chu tước bên cầu cỏ trổ hoa<br />
cửa ô y hạng ánh dương tà<br />
xưa kia én đậu lầu Vương Tạ<br />
nay tới dân gian lượn mái nhà<br />
 <br />
Những cảnh trong thơ hiện ra mơ màng trước mắt. Tôi đặt bút xuống bàn, ngồi nhắm mắt lại để lòng vui theo cảnh... Bầy yến dễ thương bỗng bay tản mát rồi nhập lại nơi lùm tre cao.<br />
 <br />
Tre che khuất bóng bầy chim én, nhưng lại đưa ra mấy tiếng quạ rộn ràng... Liền đó như một cuộn phim, những cảnh bến đò An Thái, con đường ven sông Cổn dần dần hiện ra dưới bóng nguyệt mờ sương... Rồi tiếng quạ ngân lên, và theo dư âm, bến đò An Thái biến thành bến Phong Kiều của Trương Kế với quang cảnh :<br />
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên<br />
giang phong ngư hoả đối sầu miên<br />
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự<br />
Dạ bán chung lai đáo khách thuyền<br />
 <br />
Tản Ðà dịch:<br />
Trăng tà tiếng quạ kêu sương<br />
lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ<br />
thuyền ai đậu bến Cô Tô<br />
nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San<br />
 <br />
Và con sông Cổn biến thành dòng sông Xích Bích với con thuyền của Tô Đông Pha trôi chầm chậm dưới bóng trăng thu... Tôi tưởng tôi là họ Tô đương ngồi vuốt chồm râu rậm bay phất phơ trước gió, và gõ mạn thuyền ngâm bài phú Xích Bích có nhắc đến họ Tào. Tôi như trông thấy rõ dáng đắc ý của Tào Mạnh Ðức đứng trên đoàn thuyền kết dài trên mặt sông, quay ngang ngọn giáo ngâm bài :<br />
Nguyệt minh tình hỉ<br />
ô thước Nam phi<br />
nhiễu thọ tam táp<br />
vô chi khả y?<br />
 <br />
dịch:<br />
đêm nay sao tỏ trăng thanh<br />
về nam con quạ lao mình trên không<br />
lượn quanh cây lớn ba vòng<br />
tìm không chỗ đậu lại vùng bay đi<br />
 <br />
Rồi hết điểm này đến điểm khác nối nhau đưa tôi sâu vào trong cõi mộng... Tôi ngồi ngủ say cho tới lúc người nhà lay dậy ăn cơm tối! Cơm xong, tôi ngồi lại bàn giấy làm việc. Tôi nhất định ghi tất cả những gì đã đến cùng tôi. Nhưng không thể được, vì tôi không thích lối trường thiên. Tôi bèn chọn những nét rung cảm nhất, lọc những gì nên thơ nhất, dồn vào trong tám câu :<br />
Từ ô y hạng rủ rê sang<br />
bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng<br />
trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng<br />
thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng<br />
bồn chồn thương kẻ nương song bạc<br />
thắc thỏm chăng ai quả ấn vàng?<br />
tiếng dội lưng mây đồng vọng mãi<br />
tình lang mang gợi tứ lang mang<br />
 <br />
Tôi rất lấy làm thích và lấy nhan đề là “Ðêm Nghe Quạ Kêu”. Năm 1941, nhân các bạn ở tòa soạn tạp chí Bạn Ðường mới xuất bản, gửi thư xin bài, tôi liền gởi đăng bài ấy Cách đó ít lâu, xem xét lại bài thơ đã làm để in vào tập Mùa Cổ Ðiển, tôi thấy bài thơ trên đây, câu luận chưa sướng. Câu trạng do những cảnh cũ gợi điển. Câu luận thì bị thời cuộc lúc bấy giờ ảnh hưởng: Lúc ấy quân Nhật đóng ở Việt Nam, nhiều người đi lính để lập công danh, nhiều bà vợ bị chiếc bóng. Do đó mà mượn tiếng sông Ngân, mượn đến tích Trương Hạo lượm được một viên đá tròn do con sơn thước hoá ra, đem đập vỡ thì thấy một quả ấn vàng có mấy chữ “Trung hiền hầu ấn”, sau làm tướng được phong đến tước hầu.<br />
 <br />
Chưa lấy làm sướng nhưng sửa mãi chưa được. Mãi một đêm ngồi tựa lan can, trâm ngâm ngẫm nghĩ. Ngoài trời trăng sáng vằng vặc. Những cánh cửa sổ mở hé được ánh trăng chiếu vào trong như xuy bạc và thềm giếng mới rửa loang loáng sắc hoàng kim. Trí tôi và mắt tôi dồn cả vào sắc vàng trắng của cảnh vật và của câu thơ... Chợt một vật gì rơi vào lòng giếng tạo thành một tiếng chũm lạnh lùng. Tôi cảm xúc sửa ngay được câu thơ:<br />
bồn chồn thương kẻ nương song bạc<br />
lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng<br />
 <br />
Sửa được câu này tôi khoái hơn khi làm xong 8 câu trước. Nhưng ngâm đi ngâm lại tôi thấy câu kết chưa đúng nỗi lòng. Một lần nữa tôi phải lo sửa lại :<br />
tiếng dội lưng mây đồng vọng mãi<br />
tình hoang mang gợi tứ hoang mang<br />
 <br />
Như thế là ổn. Thích chí ngâm vang cả trời khuya. Chế Lan Viên cũng cho câu sửa hay hơn hẳn nguyên tác nhưng còn chê đề bài thơ chưa được nên thơ, mới thêm chữ “thu” vào thành “Đêm thu nghe quạ kêu” (trích từ Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến, tập 5, Nam Á tái bản , 1986, tr 123-126)<br />
 <br />
Dĩ nhiên , không phải tứ thơ nào cũng được thai nghén một cách lâu lắc và vất vả như thế. Cũng không phải người nào , khi làm thơ, cũng lập ý một cách cầu kỳ với những điển cố xa xôi như thế. Nhưng kinh nghiệm trăn trở tìm tứ của Quách Tấn lại rất điển hình: dù nhanh hay chậm, dù bằng cách thức nào đi nữa, sự hình thành tứ thơ nào cũng phải đi qua ba giai đoạn :<br />
<br />
Trước hết, phải có một cảnh vật, một sự kiện cụ thể có khả năng gây ấn tượng mạnh và sắc.<br />
<br />
Thứ hai, ấn tượng ấy cứ âm vang mãi trong hồn người, tạo nên những niềm cảm xúc sâu đậm.<br />
<br />
Và thứ ba, từ ấn tượng và cảm xúc ấy, nhà thơ phải vận dụng khả năng liên tưởng, tưởng tượng , tư duy để tìm ý, tìm chất liệu để khai triển thành một bài thơ hoàn chỉnh.<br />
<br />
Chính ở đây, có sự khác biệt sâu sắc giữa Quách Tấn và các nhà thơ sau này. Quách Tấn cũng như người xưa thường tìm ý và chất liệu từ kho tàng điển cố, điển tích. Các nhà thơ sau này thường tìm ý và chất liệu ngay từ đời sống thực. Không nên tuyệt đối hoá sự phân biệt này. Khi Huy Cận viết không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà chắc chắn là Huy Cận nhớ đến hai câu cuối trong bài “Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu. Khi Thâm Tâm viết : ly khách! ly khách! con đường nhỏ / chí lớn không về bàn tay không / thì không bao giờ nói trở lại / ba năm mẹ già cũng đừng mong, chắc chắn là Thâm Tâm nhớ đến hình ảnh Kinh Kha với câu thơ phong tiêu tiêu hề Dịch tiểu hàn. Đọc nhiều bài thơ của Nguyễn Mạnh Trinh đăng báo gần đây, tôi chắc thế nào Nguyễn Mạnh Trinh cũng nhớ đến Nguyễn Bắc Sơn.<br />
<br />
Vai trò của tứ thơ cực kỳ quan trọng. Nó giống như là nền móng, cột kèo trong một ngôi nhà. Nó giống như là xương xẩu trong một thân thể. Không có bài thơ nào lại không có tứ. Ngoại lệ: những bài thơ dở.<br />
<br />
Hầu hết mọi nhà thơ đều đồng ý, trong công việc làm thơ, có loay hoay trăn trở thì chủ yếu là loay hoay trăn trở để tìm ý. Có tứ, thời gian hoàn chỉnh bài thơ thường khá nhanh. Tứ, tự nó sẽ huy động những từ ngữ và chi tiết nó cần. Con hổ sẽ biết mời gọi cảnh sơn lâm bóng cả, cây già, với những lá gai cỏ sắc, những bình minh cây xanh nắng gội, những buổi chiều lênh láng máu sau rừng. Trường giang sẽ biết mời gọi thuyền về nước lại, những cồn nhỏ gió đìu hiu, những bèo dạt về đâu hàng nối hàng, những sóng gợn... buồn điệp điệp. Cũng vậy, hầu như đã có sẵn chung quanh ông đồ viết câu đối Tết thuê những hình ảnh quen thuộc: mực tàu, giấy đỏ, người thuê viết, nét chữ như phượng múa rồng bay, những lá vàng rơi trên giấy, ngoài trời mưa bụi bay đây là công việc của trí tưởng tượng. Đối với nhà thơ, lúc này, cần nhất là sự tỉnh táo để lựa chọn. Nguyên tắc thứ nhất là tập trung. Tất cả các chi tiết đều nhắm tới mục đích thể hiện và làm nổi bật tứ. Nhà thơ lớn là nhà thơ chiến lược lớn: không có chiến thuật nào không để góp phần dẫn đến chiến thắng cuối cùng.<br />
<br />
Trong bài “Một Chút Xuân Quê Nhà”, Luân Hoán chọn lựa chi tiết rắt đắc. Tố cáo cuộc sống bần cùng, khốn khó dưới chế độ cộng sản, ông không dùng dao to búa lớn. Chỉ cần một lá thư với những chi tiết nhỏ nhoi đến tội nghiệp :<br />
<br />
xin báo cùng anh tin vui thứ nhất<br />
cây cúc đầu hè nở được một bông<br />
xin báo cùng anh cây cà chua nhỏ<br />
cũng đậu được vài trái đỏ xinh xinh<br />
xin báo cùng anh vồng khoai luống cải<br />
nhờ bón phân người lá cũng rất xanh<br />
xin báo cùng anh sáng nay đầu ngõ<br />
có con cu cườm đậu tuốt ngọn tre...<br />
 <br />
Chỉ có thế. Dù<br />
<br />
thư viết cho anh đắn đo từng chữ,<br />
lựa lọc từng lời cho đỡ nặng cân,<br />
nhưng những lời kể trước sau cứ quanh quẩn hoài với những điều rất mực vu vơ, những niềm vui rất ư nhỏ bé. Không còn gì khác. Người đọc đủ thấy rưng rưng hiện lên trước mắt một cuộc đời lam lũ, tối tăm đến là thương. Nói là báo “tin vui”nhưng sự thực lại là vang lên tiếng khóc não nùng.<br />
<br />
Nguyên tắc thứ hai là tiết kiệm. Chơi hoa, người ta phải biết tỉa cành và ngắt lá. Để hình hoa nổi rõ, để sắc hoa thêm chói. Chi tiết càng rườm tứ thơ càng mờ. Chi tiết càng chồng chất, tứ thơ càng vụn nát. Người xưa hay nói về “vẽ mây nẩy trăng”: đừng cho mây nhiều đến độ ánh trăng bị khuất.<br />
<br />
Ai không công nhận Ðoàn Văn Cừ là người rất giỏi trong việc dựng lại những khung cảnh đồng quê thuở xưa? Nhưng mấy ai nhớ nổi thơ họ Ðoàn? Người ta chỉ nhớ những câu chấm phá ít nét của Nguyễn Bính. Trong cuộc tranh giải văn chương, trí nhớ con người là trọng tài đáng tin cậy nhất.<br />
<br />
Vai trò thứ hai của tứ là định hướng kết cấu bài thơ. Nói chung, một trong những yêu cầu lớn nhất đối với thơ là tính chất thống nhất. Cả bài thơ phải là một chỉnh thể toàn vẹn. Tứ sẽ là cơ sở của sự thống nhất và toàn vẹn ấy. Xuân Diệu kể bài thơ Với bàn tay ấy thoạt đầu như sau :<br />
<br />
một tối bầu trời chẳng gợn mây<br />
cây tìm nghiêng bóng xuống hoa gầy<br />
hoa nghiêng xuống cỏ trong khi cỏ<br />
nghiêng xuống làn rêu: - một lối đầy<br />
những lời huyền bí bốc lên trăng...<br />
 <br />
Xuân Diệu gửi bài thơ đăng báo. Thế Lữ, khi chọn đăng, đã tinh ý nhận ra ngay nét đặc sắc của cái tứ mà nhà thơ trẻ là Xuân Diệu hồi ấy muốn dựng: cả trời đất giao hoà với nhau: cây nghiêng xuống hoa, hoa nghiêng xuống cỏ, cỏ nghiêng xuống rêu. Nhưng Thế Lữ cũng phát hiện ngay một điểm yếu cơ bản trong bài thơ ấy: trong khi vạn vật song sóng gần kề hòa hợp với nhau, thì bầu trời, lạ chưa, bầu trời lại chẳng gợn mây.,nó lẻ loi, nó lạc lõng đến chông chênh, nó bơ vơ đến tội nghiệp và lạ lùng. Thế Lữ chữa câu thơ là:<br />
<br />
Một tối bầu trời đắm sắc mây<br />
cây tìm nghiêng xuống nhánh hoa gầy...<br />
 <br />
Như vậy thiên nhiên mới có sự giao hoà rõ rệt. Tứ thơ chặt. Bài thơ thành ra nhất quán. Cách chữa của Thế Lữ rất được Xuân Diệu đồng tình và tri ân (Công Việc Làm Thơ, sđd, tr 26)<br />
<br />
Bài “Tống Biệt Hành” của Thâm Tâm là một bài thơ hay, rất hay, có lẽ là một trong những bài thơ hay nhất của thời 30-45. Bài thơ hình thành như hai lời đối thoại; không, đúng hơn, như hai lời độc thoại của hai người, một người ra đi, và một người đưa tiễn. Người đưa tiễn buồn mênh mang. Nghe tiếng sóng trong lòng. Nghe hoàng hôn rơi trên mắt :<br />
<br />
đưa người ta không đưa qua sông<br />
sao có tiếng sóng ở trong lòng<br />
bóng chiều không thắm không vàng vọt<br />
sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?<br />
đưa người ta chỉ đưa người ấy<br />
một giã gia đình, một dửng dưng<br />
 <br />
Không biết người ra đi trả lời hay chỉ tự nhủ thầm cho một mình mình nghe :<br />
<br />
ly khách! ly khách! con đường nhỏ<br />
chí lớn không về bàn tay không<br />
thì không bao giờ nói trở lại<br />
ba năm mẹ già cũng đừng mong<br />
 <br />
Nghe có vẻ đầy hào khí, nhưng người đưa tiễn biết đó chỉ là giả vờ:<br />
<br />
ta biết người buồn chiều hôm trước<br />
bây giờ mùa hạ sen nở nốt<br />
một chị, hai chị đều như sen<br />
khuyên nốt em trai dòng lệ sót<br />
ta biết người buồn sáng hôm nay<br />
trời chưa là thu tươi lắm thay<br />
em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc<br />
gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay<br />
 <br />
Chị, em và người yêu lưu luyến thế ấy, chẳng lẽ lại đành tâm ra đi? Nhưng ly khách lại đi thật. Bóng đã xa, người đưa tiễn còn ngơ ngác đứng và hun hút nhìn :<br />
<br />
người đi? ừ nhỉ, người đi thực<br />
mẹ thà coi như chiếc lá bay<br />
chị thà coi như là hạt bụi<br />
em thà coi như hơi rượu say<br />
 <br />
Trong Thi Nhân Việt Nam Tiền Chiến, dựa theo nguyên bản bài thơ đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng phục hồi thêm bốn câu cuối:<br />
<br />
mây thu đầu núi gió lên trăng<br />
cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm<br />
ly khách bên trời nghe muốn khóc<br />
tiếng đời xô động, tiếng hờn câm<br />
 <br />
Ðúng là giọng thơ Thâm Tâm. Nhưng tôi có cảm tưởng thêm bốn câu ấy vào, bài thơ không hay hơn. Hơn nữa yếu xuống. Nó lạc điệu. Lạc về biện pháp: cả bài thơ được tác giả sử dụng biện pháp biểu hiện, đi sâu, xoáy vào tâm tư, đoạn cuối lại là những câu tả. Lạc điệu về giọng: bài thơ có hai nhân vật chính, người ra đi và người đưa tiễn; đoạn cuối lại tập trung ở ly khách. Lạc điệu về tứ: trong mấy đoạn đầu, ly khách tuy ngậm ngùi nhưng nét chính vẫn là sự nghênh ngang, hào sảng. Thấp thoáng chút hùng khí đời xưa. Phảng phất hình ảnh Kinh Kha ngày trước. Rất đẹp. Biết là cường điệu mà vẫn thấy đẹp. Đoạn cuối xóa tan tất cả những hình ảnh và ấn tượng ấy: ly khách lại trở thành nhỏ nhoi, thảm thương ven trời nghe muốn khóc. Tôi không biết Thâm Tâm hay Hoài Thanh đã cắt bỏ đoạn thơ ấy trong Thi Nhân Việt Nam. Dù là do ai, sự cắt bỏ ấy rất mực tài tình.<br />
<br />
Có người chia tứ thơ ra làm hai loại: tứ thơ thiên về tạo hình và tứ thơ thiên về dòng suy nghĩ liên tưởng.<br />
<br />
Tứ thơ thiên về tạo hình là loại tứ thơ được xây dựng với mục tiêu khắc hoạ một nhân vật cụ thể qua đó nhà thơ gởi gắm cảm xúc và tư tưởng của mình. Lênh theo từng đường nét hội hoạ của thơ là những nhịp thở xôn xao từ trái tim người. Đây là loại tứ phổ biến và xuất hiện sớm nhất. Hầu hết những bài thơ nêu trên đều thuộc loại tứ này.<br />
<br />
hôm nay dưới bến xuôi đò<br />
thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau<br />
anh đi đấy? anh đi đâu?<br />
cánh buồm nâu, cánh buồn nâu, cánh buồm…<br />
 <br />
Thơ Nguyễn Bính, tựa “Không đề” chỉ có bốn câu. Theo tôi, đây là một trong những bài thơ hay nhất, hoàn chỉnh nhất của Nguyễn Bính. Bài thơ có hai nhân vật, một người con trai và một người con gái. Người con trai ở dưới bến chờ xuôi đò. Người con gái trong nhà, qua vuông cửa sổ, thẫn thờ ngó ra. Nguyễn Bính nói họ “thương nhau”. Chắc là thương thầm, nên không có tiễn đưa. Nên người con gái mới băn khoăn tự hỏi anh đi đấy, anh đi đâu? Sáu chữ mà bời bời hai tâm sự ngổn ngang. Anh đi đấy? là câu hỏi thảng thốt, đau nhói. Anh về đâu? là câu hỏi ngậm ngùi, buồn tênh. Người con gái ngạc nhiên, rồi bàng hoàng, rồi ngẩn ngơ. Chiếc thuyền rời bến, từ từ đi xa. Hình ảnh người con trai hút. Chỉ còn chiếc thuyền. Rồi chiếc thuyền cũng khuất. Chỉ còn cánh buồm vươn cao, vươn cao, chới với, chập chờn, lung linh, xa xăm:<br />
<br />
cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm... <br />
 <br />
Người con gái vẫn còn đứng đó, bên thành cửa sổ, vời vợi nhìn theo. Câu thơ cắt thành ba nhịp, tưởng như mỗi nhịp ngắt là một làn sóng đột nhiên trào lên, che khuất cánh buồm. Bao nhiêu lần khuất rồi hiện. Lần cuối cùng, đã xa lơ xa lắc, người con gái chỉ còn nhìn thấy, mờ thật mờ, hình ảnh cánh buồm thấp thoáng, nhòa đi trong khói sóng bập bềnh. Không còn thấy màu sắc nữa: chữ “nâu” ở nhịp cuối biến mất.<br />
<br />
Trần Huyền Trân, người khách muộn màng nhất trong Thi Nhân Việt Nam, người bị Hoài Thanh, Hoài Chân vừa tiếp đón vừa dè bỉu là “không xuất sắc lắm” lại là tác giả bài thơ lục bát tuyệt hay: “Ngõ Trúc” (sau này Trần Huyền Trân đổi tựa lại lả “Thu”).<br />
<br />
Mưa rơi trắng lá rau tần<br />
thuyền ai bốc khói xa dần bến mưa<br />
người về khép lại song thưa<br />
để rêu ngõ trúc tương tư lá vàng<br />
 <br />
Cặp lục bát đầu mở ra và khép lại bằng hai chữ “mưa”. Cả không gian bị vây quạnh dưới mưa. Mưa rơi trùng trùng, sướt mướt, lê thê . Mưa tung tóe sủi bọt trắng xoá trên những chiếc lá rau tần yếu ớt. Mưa xoá nhoà hình ảnh chiếc thuyền khiến nó biến thành hư hư ảo ảo như một cụm khói. Tôi ngờ chiếc thuyền vẫn đậu yên. Nhưng mưa mờ mắt nhìn , gây cảm tưởng chiếc thuyền mỗi lúc một xa dần, xa dần. Đường vắng, ngõ vắng, không có ai cả. Suốt bài thơ không hề thoáng thấy một nhân ảnh.”Thuyền ai” chỉ là cách nói chỉ chiếc thuyền xa lạ. “Người về” cũng chỉ là cách nói chỉ một ý niệm hết sức bâng quơ. Trên các lối ngõ ven sông chỉ có những khóm trúc đứng buồn thiu dưới mưa. Và rêu xanh sũng nước. Và lá vàng rụng rơi.<br />
<br />
Khó mà bình câu cuối. Hiếm khi nào thơ lục bát lại hàm súc đến như vậy. Một cái gì vắng, thật vắng. Lặng, thật lặng. Mà cũng hiu hắt quá chừng. Tưởng như từ thiên cổ, trên ngõ trúc ấy, đã không có người vãng lai. Tưởng như đến nghìn năm sau, trên ngõ trúc ấy vẫn phong hoài niềm hiu quạnh. Chỉ có rêu nhớ lá.<br />
<br />
Loại thiên về suy nghĩ liên tưởng lại khác. Ở đây có thể có hình tượng, đôi khi dày đặc hình tượng, tuy nhiên cái mạch chính để dẫn dắt tứ thơ lại là một cảm nghĩ nào đó. Hình tượng có thể rời rạc với nhau nhưng lại thống nhất trong một chủ đề chung. Nhà thơ có thể miên man liên tưởng đến những vấn đề khác, xa hay gần . Kết cấu loại tứ này, do đó thường sinh động và đa dạng. Bài thơ hình thành như một thứ giao hưởng giữa trái tim và đầu óc. Chất thơ và chất suy tưởng đan quyện với nhau. Từ hiện tại, nhà thơ có thể quay về quá khứ hay đến tương lai. Từ một cảnh vật cụ thể, nhà thơ mông lung nghĩ ngợi đến những chuyện xa vời. Có thể dẫn bài “Đất nước” làm thí dụ. Bài thơ này được sáng tác từ năm 1948, cùng thời gian với bài “Tây Tiến” của Quang Dũng, thời toàn dân chống Pháp, lúc cộng sản chưa dùng những hình thức tàn bạo nghiệt ngã siết văn thơ vào khuôn khổ chật chội của một cái loa tuyên truyền rỉ sét.<br />
<br />
Từ đó hình thành từ một thời gian và một không gian cụ thể:<br />
<br />
Sáng mát trong như sáng năm xưa<br />
gió thổi mùa thu hương cốm mới<br />
tôi nhớ những ngày thu đã xa<br />
 <br />
sau đó tứ thơ chuyển về quá khứ :<br />
<br />
sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội<br />
những phố dài xao xác heo may<br />
người ra đi đầu không ngoảnh lại<br />
sau lưng thềm nắng lá rơi đầy<br />
 <br />
rồi quay về hiện tại :<br />
<br />
mùa thu nay khác rồi<br />
tôi đứng đây vui giữa núi đồi<br />
gió thổi rừng tre phất phới<br />
rừng thu thay áo mới<br />
trong biếc nói cười thiết tha<br />
 <br />
Giọng bâng khuâng biến thành giọng hùng tráng :<br />
<br />
trời xanh đây là của chúng ta<br />
núi rừng đây là của chúng ta<br />
những cánh đồng thơm mát<br />
những ngả đường bát ngát<br />
những dòng sông đỏ nặng phù sa<br />
nước chúng ta<br />
nước những người chưa bao giờ khuất<br />
đêm đêm rì rầm trong tiếng đất<br />
những buổi ngày xưa vọng nói về<br />
 <br />
đang suy nghĩ về tổ quốc, nhà thơ chợt nhớ đến những kỷ niệm riêng tư:<br />
<br />
ôi những cánh đồng quê chảy máu<br />
dãy thép gai đâm nát trời chiều<br />
những đêm dài hành quân nung nấu<br />
bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu<br />
 <br />
đoạn kế tiếp lại pha rất nhiều vẻ chính luận :<br />
<br />
từ những năm đau thương chiến đấu<br />
đã ngời lên nét mặt quê hương<br />
từ gốc lúa bờ tre hồn hậu<br />
bỗng bật lên những tiếng căm hờn...<br />
 <br />
Cứ thế, theo dòng liên tưởng của mình, nhà thơ dẫn dắt người đọc đi từ chuyện này qua chuyện kia, từ vấn đề này qua vấn đề khác, từ quá khứ đến hiện đại, đến tương lai, từ việc riêng đến việc chung, từ giọng tâm tình đến giọng suy tưởng nhưng trước sau vẫn bám vào một cái trục duy nhất: những suy nghĩ về đất nước.<br />
<br />
Tôi có cảm tưởng các nhà thơ ở miền Nam trước đây hay ở hải ngoại hiện nay ít khai thác loại cấu tứ này. Tiếc. Có thật nhiều cơ hội để tiếp xúc với những luồng tư tưởng lớn trên thế giới, đầu óc được hoàn toàn tự do để suy nghĩ, cuộc sống nội tâm vô cùng phong phú, đó không phải là những điều kiện cần và đủ cho loại tứ này nở hoa?<br />
<br />
Bài thơ “Lệ đá xanh” của Thanh Tâm Tuyền giàu chất suy tư nhưng do thiếu những liên tưởng bất ngờ nên tứ thơ ít biến hoá, thiếu linh động, giống như một nhánh hoa thẳng đuột, khẳng khiu.  Bài thơ chia làm ba phần như một thứ tam đoạn luận cứng ngắc. Phần đầu trình bày những ấn tượng chung của tác giả về cuộc đời:<br />
<br />
tôi biết những người khóc lẻ loi<br />
không nguôi một phút<br />
những người khóc lệ không rơi ngoài tim mình<br />
em biết không<br />
lệ là những viên đá xanh<br />
tim rũ rượi<br />
 <br />
Mỗi người trong cuộc đời như một ốc đảo trong địa ngục. Họ khóc triền miên. Tiếng khóc giữa cô đơn không thể vỡ oà. Nó nén lại. Thành một nghẹn ngào. Những giọt nước mắt âm thầm và không tan trên khóe mắt ấy càng khiến con người thêm u uất, ngỡ chúng như những “viên đá xanh”đè lên trái tim, gây biết bao đau đớn, ngột ngạt, tức tối. đây là một đoạn thơ hay nhất trong bài. Ngôn ngữ mạnh và sắc. Nhạc điệu mới và hay.<br />
<br />
Đoạn thứ hai, tác giả muốn phá tan cái ấn tượng ảm đạm bằng cách:<br />
<br />
đôi khi anh muốn tin<br />
ngoài đời chỉ có trời sao là đáng kể<br />
mà bên những vì sao lấp lánh đôi mắt em<br />
đến ngày cuối<br />
đôi khi anh muốn tin<br />
ngoài đời thơm phức những trái cây của Thượng đế<br />
mà bên những trái cây ngọt ngào đôi mắt em<br />
nguồn sữa mật khởi đầu<br />
đôi khi anh muốn tin<br />
ngoài đời đầy cỏ hoa tinh khiết<br />
mà bên cỏ hoa quyến rũ cánh tay em<br />
vòng ân ái<br />
đôi khi anh muốn tin<br />
 <br />
Nhiều người phàn nàn thơ Thanh Tâm Tuyền khó hiểu. Thật ra, không đến nổi. Tất cả “bí mật”của thơ ông đều nằm trong hai yếu tố: đảo ngữ và giấu biệt liên từ. Đã quen với thơ ông, người ta sẽ thấy phần lớn đều sáng sủa đến độ... khó mà bình giảng thêm. Chẳng hạn khổ đầu của đoạn thơ trên sẽ là “đôi khi anh muốn tin, ngoài đời chỉ có trời sao là đáng kể, mà bên những vì sao (ấy) (là) đôi mắt em (sẽ) lấp lánh đến ngày cuối”.<br />
<br />
Ðáng để chú ý trong đoạn thơ trên là mệnh đề láy đi láy lại nhiều lần “đôi khi anh muốn tin”. Niềm tin ở đây thật ngượng ngập và thật mong manh. Dễ hiểu tại sao, cuối đoạn, sau khi viết “đôi khi anh muốm tin” tác giả dừng lại đột ngột, hết sức lửng lơ. Bởi lúc ấy, ngay lúc ấy, cuộc đời bỗng dội lên thực tế não nề :<br />
<br />
ôi những người khóc lẻ loi<br />
đau đớn lệ là những viên đá xanh<br />
tim rũ rượi<br />
 <br />
Giống hệt đoạn đầu, chỉ thêm một hình dung từ và một từ tán thán cho hơi thơ có âm hưởng hơn. “Lệ đá Xanh” chưa phải là bài thơ hay nhất của Thanh Tâm Tuyền. Tuy nhiên đây là bài thơ mở ra khía cạnh ít người ngờ ở tâm hồn nhà thơ thỉnh thoảng có những phát ngôn ra vẻ nhẫn tâm này: lòng nhân hậu. Rất yêu cuộc đời đến không nỡ kiếm riêng một niềm vui. <br />
<br />
Đứng về phương diện xây dựng tứ thơ, theo tôi, có ba cách:<br />
<br />
Thứ nhất, cấu tứ theo lối tăng tiến. Thuộc loại này, những bài thơ có tứ tương đối định hình sớm, ngay từ những câu đầu và sau đó, ở những câu kế tiếp cho đến lúc chấm dứt, tác giả chỉ làm nhiệm vụ khai triển thêm, đào sâu thêm. Cách cấu tứ này rất phổ biến. Nó thích hợp với những trạng thái tâm lý ngưng đọng ở một nét nào đó rõ ràng. Nó không gây bất ngờ song có khả năng dẫn người đọc mỗi lúc một đi sâu, đi xa, đến tận cùng một nỗi niềm, một tâm trạng.<br />
<br />
Chắc ít người nhớ bài “Về đây” của Cung Trầm Tưởng :<br />
<br />
về đây tôi lại gặp tôi<br />
lang thang lối cũ trước đồi sau nương<br />
ngô đồng lả ngọn thuần lương<br />
trời cao không đỉnh, mến thương không bờ<br />
cố tri khóm trúc bây giờ<br />
vẫn bừng hoa nở đứng chờ lối xưa<br />
vẫn hanh vàng nắng toả vừa<br />
hiu hiu tùng rủ bóng chưa hao gầy<br />
về đây tôi lại về đây<br />
non lên thắm nhớ, chiều đầy khoan dung<br />
chân vui lối rộn khôn cùng<br />
gần xa trời mở vòng cung thâu vào<br />
chân phương lòng thấy nao nao<br />
với muôn thương mến lên cao hôn trời<br />
 <br />
Thơ tả một cuộc trở về quê quán cũ mà được như vậy kể cũng ít. Giọng thơ nhẹ nhàng. Tình thơ đôn hậu. Ăm ắp niềm vui. Vui vì gặp lại không gian quen thân cũ. Vui vì gặp lại chính mình thuở ấu thơ. Nỗi vui lênh tràn ra trời đất. Mấy câu cuối, hình tượng đẹp và ý hay.<br />
<br />
Bài thơ “Thơ Bệnh” của Viên Linh cũng theo lối cấu tứ tăng tiến. Trong tâm trạng của nhà thơ lúc bệnh, thoạt đầu hình ảnh của mình là một sự dừng lại, dừng lại để thấy bao nhiêu nhiệt tâm một đời đổ ra khơi xa, bao nhiêu mơ ước còn chôn chặt u uẩn trong lòng :<br />
<br />
lúc này hình đất tượng cây<br />
đời ta như nước chảy đầy bãi xa<br />
chiều rồi lòng mở không ra<br />
mênh mông trong ngực mùa hoa hải tần<br />
 <br />
Dừng lại, sụp đổ rồi lún xuống. Lún đến nửa đời người. Trong vũng sầu mênh mông:<br />
<br />
nước xa cuồn cuộn xa khơi<br />
sâu trong tâm thể có đôi giọt gần<br />
bãi sầu trời ngập đến chân<br />
dương gian ta lún nửa thân còn gì<br />
 <br />
Lún theo thời gian và lún theo cơn bệnh. Ðến một lúc nào ngỡ đã tiếp cận với bờ bên kia cõi sống:<br />
<br />
chiều nay mưa dưới âm ty<br />
ta nghe kiếp trước thầm thì hỏi han<br />
 <br />
Khi xây dựng tứ thơ theo lối tăng tiến, cần chú ý một điều: càng về sau, cảm xúc cần phải mạnh hơn, chặc hơn, đậm hơn. Thì mới gây được ấn tượng sâu. Nếu không, cái thế của đoạn sau dễ thành hụt hẫng. Hoá thừa.<br />
<br />
Lối kết cấu thứ hai: Gợi mở. Thuộc loại này, những bài thơ có tứ chính được giấu kín đến những câu cuối cùng. Bài “Ông đồ” của Vũ Đình Liên là thí dụ. Suốt 18 câu đầu, tác giả chỉ tả hình ảnh ông đồ cụ thể xuyên suốt quãng thời gian dài, từ quá khứ đến hiện tại, từ thuở vàng son đến lúc bị lãng quên. Đến hai câu cuối, ngỡ tác gỉa sẽ buông lời cảm khái trước một ông đồ hẩm hiu. Nhưng không, Vũ Đình Liên, từ một ông đồ cụ thể, đã liên tưởng đến cái gì rộng hơn, mênh mông hơn :<br />
<br />
những người muôn năm cũ<br />
hồn ở đâu bây giờ?<br />
 <br />
Tứ thơ đột ngột mở rộng. Chợt man mác buồn nhớ đến những giọt lệ của Trần Tử Ngang ngày nào:<br />
<br />
Bài “Mất ô” của Tú Xương cũng có lối kết cấu tương tự:<br />
<br />
đêm qua anh đến chơi đây<br />
giày dôn anh diện, ô tây anh cầm<br />
rạng ngày sang trống canh năm<br />
anh dậy em hãy còn nằm trơ trơ<br />
hỏi ô, ô mất bao giờ<br />
hỏi em, em cứ ỡm ờ không thưa...<br />
 <br />
đến đây, bài thơ không có gì đặc sắc. Chỉ là lời tường thuật pha chút u-mua nhẹ nhàng. Thế nhưng hai câu cuối nữa :<br />
<br />
chỉ e rày gió mai mưa<br />
lấy gì đi sớm về trưa với tình<br />
 <br />
Bài thơ, nói như Nguyễn Tuân, tự nhiên “nổi gió” hẳn lên. Không còn là văn xuôi trần trụi. Đã là thơ. Từ việc cỏn con là mất ô, Tú Xương mở ra bát ngát một tấm lòng khao khát tình yêu vô hạn.<br />
<br />
Luân Hoán, trong Hơi Thở Việt Nam, thường xử dụng lối kết cấu tăng tiến. Gần đây, trong nhiều bài thơ đăng báo, tôi có cảm tưởng ông nghiêng về lối cấu tứ gợi mở hơn. ông đang học bài học của Kim Trọng: từ một gót giày in trong rêu xanh, mở ra những tâm tình người man mác. Ông đang học bài học của Quách Tấn: từ một “vỏ sò khô” làm thức dậy những tiếng “sóng trùng dương” vọng vang trên những “muôn xa bờ bến cũ”. Thơ ông, nhờ đó có âm hưởng ngân vang hơn, sâu lắng hơn, nhói lòng hơn. Bài “Bạc Tóc” đăng trên Văn Học số Xuân Mậu Thìn là một bài thơ cảm động. Từ mấy cọng tóc bạc trên đầu, Luân Hoán mở ra một tấm lòng đang phôi pha theo ngày tháng lưu cư khắc khoải:<br />
<br />
không đâu em, chúng chính là đá trắng<br />
đang xây dần phần mộ của riêng ta<br />
hoa ngập nước lâu ngày đành phải rã<br />
hồn ngấm sầu lâu quá phải phôi pha<br />
 <br />
Cách cấu tứ gợi mở thường được người xưa sử dụng. Nó bất ngờ. Có cảm giác đang ở trong không gian chật hẹp, khép kín, mọi cửa ngõ đều bằn bặt đóng im, rồi bỗng dưng, thật đột ngột, mọi cánh cửa đều mở toang. Thấy lồng lộng bên ngoài một sắc trời xanh, xanh biếc.<br />
<br />
Có điều, theo lối cấu trúc này, bài thơ khó dài. Dài, thời gian chuẩn bị tâm thế lâu dễ sinh ngột, nản. Mà nói thế, chứ ai lại mong làm thơ dài ?<br />
<br />
Cách cấu tứ thứ ba: tương phản.<br />
<br />
Trong bài “Đám tang Nguyễn Duy Diễn”, Nguyên Sa viết :<br />
<br />
Diễn đã chết, Diễn đã chết<br />
chúng tôi nhảy múa hò reo<br />
như những người da đen<br />
thế là nó thoát! thế là nó thoát!<br />
thế là nó thoát, đúng rồi, thế là nó thoát<br />
thoát khỏi ngủ, khỏi ăn, khỏi thở<br />
khỏi đêm, khỏi ngày, khỏi tháng, khỏi năm<br />
khỏi chờ, khỏi đợi<br />
khỏi hy vọng ban mai, buồn thiu buổi tối<br />
thế là nó thoát, thế là nó thoát<br />
không phải đi, khỏi phải đứng, khỏi phải ngồi<br />
khỏi bốn mươi giờ dạy học mỗi tuần<br />
khỏi viết ban đêm, khỏi đến nhà in buổi sáng<br />
...........<br />
thế là nó thoát, thế là nó thoát<br />
cuồng lưu dằn vặt đã trôi đi<br />
khỏi phải nghĩ, khỏi lo âu, sợ hãi<br />
sự thực có phải bao giờ cũng tối như đêm<br />
tình ái có phải suốt đời là canh bạc lận<br />
lịch sử, rút lại, có phải là thằng mù sờ soạng<br />
ném tất cả rồi, ném xuống biển sâu<br />
này hai vai nói nhẹ :<br />
chiếc lưới đã mở rồi<br />
thế là nó thoát, anh em ơi<br />
 <br />
Thử so sánh với bài “Khóc Dương Khuê”của Nguyễn Khuyến. Chưa tới một thế kỷ mà cách nghĩ, cách viết khác nhau biết mấy. Bài thơ của Nguyên Sa nung nấu đầy những uất ức và cay đắng. Nghe tin bạn chết, Nguyên Sa không “bàng hoàng” như người xưa; ông và những kẻ còn sống “nhảy múa hò reo”. Thật chăng ? Hãy đọc lại mấy câu cuối. Hãy nghe lời “hai vai nói nhẹ” theo từng nhịp nấc. Cảm giác phẫn nộ đối với cuộc sống đến đây thành một sự nghẹn ngào.<br />
<br />
Bài thơ không có một câu một chữ nào tiếc thương người khuất nhưng cả tứ thơ lại toát lên niềm đau đớn vô tận.<br />
<br />
Bài “Phiêu Bồng”của Cao Tần cũng có lối cấu tứ tương phản :<br />
<br />
cho ta làm lại cuộc đời<br />
thì ta lại vẫn ra khơi như thường<br />
vật vờ vượt sóng trùng dương<br />
kiếm đời di tản nghìn cơn nhục nhằn<br />
mai này tính sổ trăm năm<br />
may chăng lời được cái thân phiêu bồng<br />
 <br />
Nhà thơ ca ngợi sự “phiêu bồng” và thích thú “ đời di tản”chăng? Không, ông kinh sợ nó. Hai chữ “phiêu bồng” nghe có vẻ lãng mạn thật. Nhưng đời người sẽ có ý nghĩa gì khi vì nó, phải chịu đựng “nghìn cơn nhục nhằn” để đến lúc nhắm mắt, nhìn lại, chỉ thấy toàn những dấu chân lênh đênh? Cần chú ý hai chữ “may chăng” ở cuối câu. Cái điều duy nhất có thể gọi được là “lời” của người lưu vong, coi bộ cũng phiêu hốt, mong manh lắm.<br />
<br />
Cả hai bài thơ mới dẫn của Nguyên Sa và của Cao Tần đều cấu tứ theo lối tương phản. Cái tứ nằm ở mặt trái của chữ và ý. Loại tứ này hiếm xuất hiện và còn để ngỏ nhiều khả năng thật lớn.<br />
<br />
Ở trên, tôi có trích lại hai nhận định quan trọng của Xuân Diệu: một, làm thơ, trước hết phải tìm tứ; hai, trong việc làm thơ, khó nhất là tìm tứ. Đưa ra hai nhận định ấy, Xuân Diệu xuất phát từ góc độ sáng tác thơ. Ðứng ở phạm vi một bài thơ cụ thể, người ta cũng có thể nêu ra một số nhận định khác :<br />
<br />
Một, cốt lõi của bài thơ là cái tứ.<br />
<br />
Hai, mỗi bài thơ chỉ có một tứ duy nhất. Ý , có thể trùng trùng. Hình tượng có thể điệp điệp. Nhưng tứ phải là một. Chỉ có một. Hơn, bài thơ bị nát thành hai, ba phần rời rạc, lạ lẫm bên nhau.<br />
<br />
Ba, yếu tố quan trọng nhất quyết định giá trị một bài thơ chính là cái tứ.<br />
<br />
Nói đến thơ đời Lý, đời Trần, không kể bài “Thiên đô chiếu” của Lý Công Uẩn, bài “Nam quốc sơn hà nam đế cư” của Lý Thường Kiệt, bài “Tụng giá hoàn kinh sư” của Trần Quang Khải, bài “Hịch Tướng Sĩ” của Trần Hưng Đạo vốn được nhắc nhở nhiều vì lý do chính trị hơn vì lý do thuần túy văn học, nói chung, có mấy bài thơ hay được người ta dẫn và bình nhất: bài “Thị đệ tử” của Vạn Hạnh, bài “Cáo tật thị chúng” của Mãn Giác, bài “Ngôn Hoài” của Không Lộ thuộc đời Lý và bài “Cảm Hoài” của Đặng Dung ở cuối đời Trần.<br />
<br />
Những bài thơ được nhắc nhở nhiều ấy hay hơn hẳn những bài thơ khác? Chưa chắc. Đứng về phương diện ngôn ngữ cũng như hình tượng, những bài thơ của Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trần Nguyên Đán... có lẽ vững hơn nhiều. Vậy ra lịch sử nhầm lẫn hay bất công chăng? Cũng không phải. Sự thực đơn giản lắm: người ta nhớ thơ trước hết là vì cái tứ.<br />
<br />
Bất cứ cái tứ nào diễn tả được tâm trạng phổ biến nhất của con người ở những cảnh huống họ hay gặp nhất, tứ thơ ấy sẽ sống mãi.<br />
<br />
Nghĩ lại coi, câu thơ “Anh đi đường anh, tôi đường tôi” của Thế Lữ hay câu “Yêu là chết ở trong lòng một ít”“của Xuân Diệu, hay câu “lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ” của Vũ Hoàng Chương thời tiền chiến... hay lắm sao? Thật ra, đó là những câu thơ cũng bình thường thôi. Nhưng chắc chắn, bao lâu ở đời còn có những người chia ly nhau, những người bị lỡ làng trong tình yêu, những người bất đắc chí trong cuộc sống, bấy lâu những câu thơ trên còn vọng vang mãi. Ai dám chắc, trong đời mình, chưa bao giờ ngâm lên nho nhỏ mấy câu thơ ấy để làm nguôi khuây những niềm u uẩn?<br />
<br />
Kết luận: Tứ thơ cần phải độc đáo, cần phải cô sắc, nhưng trước hết, cần phải chân thực. Thời gian chỉ giữ gìn những tứ thơ chiếm lĩnh một không gian bao la và sâu sắc trong lòng mọi người.<br />
<br />
 <br />
Nguyễn Hưng Quốc<br />
(Tìm Hiểu Nghệ Thuật Thơ Việt Nam, Quê Mẹ xuất bản tại Paris, 1988)]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Bạo lực học đường]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1853.html</link>
			<pubDate>Fri, 28 Feb 2014 15:00:59 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=67">Phiêu Dao</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1853.html</guid>
			<description><![CDATA[<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube-nocookie.com/embed/FYind09UkeU" frameborder="0" allowfullscreen="true"></iframe>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube-nocookie.com/embed/FYind09UkeU" frameborder="0" allowfullscreen="true"></iframe>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Đầu năm nghe Bố giảng Từ Hải]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1848.html</link>
			<pubDate>Mon, 17 Feb 2014 09:26:23 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=1">hothiethoa</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1848.html</guid>
			<description><![CDATA[Biết mình cũng hoạt động trong làng thơ,đầu năm, bố gọi lại bình giảng cho một đoạn trong Truyện Kiều: Hình tượng Từ Hải. Xin trích lại nguyên văn như sau:<br />
Thơ là gì? Từ Thi tức là Thơ theo mẫu tự Hán gồm 3 phần: trên là chữ sĩ, dưới là chữ thốn, bên cạnh là ngôn. Thành ra có nghĩa : Thơ là cả một vòm trời học vấn, được thu gọn gàng còn trong gang tấc  và viết theo thể văn vần, để diễn đạt thay cho lời nói. Đó mới là Hồn-Thơ.<br />
Vì vậy, cách đặt câu, chọn dụng từ, là cả một nghệ thuật văn chương…<br />
Để minh chứng cho định nghĩa trên, chúng ta hãy xem và phân tích đoạn thơ mà Văn Hào Nguyễn Du đã nói về Từ Hải trong truyện Kiều:<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Lần thâu gió mát trăng thanh<br />
Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi<br />
Râu hùm hàm én mày ngài<br />
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao<br />
Đường đường một đấng anh hài<br />
Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài<br />
Đội trời đạp đất ở đời<br />
Họ Từ tên Hải, vốn người Việt Đông<br />
Giang Hồ quen thú vẫy vùng <br />
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo…</span><br />
<br />
Bình giải cho 10 câu thơ trên là cả thiên nan, vạn nan với lớp người hậu học. Đã có quá nhiều nhà bình giãi sai lạc ý nghĩa rất nhiều. Nguyễn Du mà sống lại ắt phải dậm chân kêu trời, khóc than, nước mắt tuôn thành suối, nhất là hai câu:<br />
Râu hùm hàm én mày ngày<br />
Vai năm tấc rộng thân mười thước cao.<br />
<br />
Đúng là một kiệt tác, một người không có kiến thức sâu rộng, liệu có thể bình giải được sao?<br />
Qua nhiều năm học đòi làm thơ, tôi xin đem kiến thức nhỏ nhoi của mình, bình giải đoạn thơ trên để những ai yêu chuộng văn thơ và lớp hậu hậu suy ngẫm. Ít ra cụ Nguyễn Du cũng nở được nụ cười an vui: “Thì ra lớp hậu sinh cũng còn có người hiểu được mình”…<br />
<br />
Hai câu:<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">“Lần thâu gió mát trăng thanh<br />
Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi”</span><br />
-	Lần thâu: đã có người giải thích là: Hết đêm này sang đêm khác. Nếu dùng nghĩa đó đi kèm với các từ gió mát, trăng thanh…thì thật chẳng ra ý nghĩa gì cả. Rõ là ngớ ngẫn.<br />
-	Lần thâu: Thực nghĩa là<br />
+Lần: là từ diễn đạt thời gian chậm trôi, còn có nghĩa: Rồi đến…<br />
+ Thâu: còn có từ đồng nghĩa là thu. Từ thu lại có từ đồng âm là Thu trong nghĩa mùa thu. <br />
Như vậy có thể hiểu “Lần thâu gió mát trăng thanh” có nghĩa là: Rồi đến tiết thu trăng thanh gió mát nọ… Bỗng đâu có khách từ miền cận biên giới sang chơi. Bởi từ “Biên Đình” tức à “Biên Thùy”, vùng cận biên giới.<br />
Hai câu: <br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">“Râu hùm, hàm én, mày ngài<br />
Vai năm tất rộng, thân mười thước cao”</span><br />
Đã có nhiều nhà bình thơ giải thích: “Râu hùm” là râu hổ ,râu cọp, “mày ngài” là mày rậm- dài, “vai năm tấc rộng” là vai to lớn, “thân mười thước cao” là người rất cao. Ôi nếu theo giải thích trên mà vẽ thì hóa ra Nguyễn Du đã mô tả Từ Hải như một quái nhân!!!<br />
<br />
Thật ra hai câu thơ này phải nói là : Hay Nhất- mà cũng là bí hiểm nhất trong toàn tập truyện thơ Kiều của Nguyễn Du. Bởi đó là văn nôm,không phải văn Hán. Vả lại không dựa trên sử liệu điển tích nào cả. Do đó không thể tra cứu sử liệu, sách sử nào được cả.<br />
Tôi đã mất nhiều năm để tìm hiểu, lấy trí mà suy, lấy thần mà gặp, lấy kiến thức mà suy nghiệm mới giác ngộ- quán thông, thấu hiểu rằng:<br />
Thì ra Văn hào Nguyễn Du đã mượn từ diễn ý. Rất đơn giản, gọn gàng. Qua cách đặt câu, chọn dụng từ, thể hiện nên nghệ thuật Văn Chương cực kỳ linh động.<br />
Tôi xin phân tích  từng từ để chúng ta có thể hiểu ý nghĩa mà cụ Nguyễn Du muốn nêu lên:<br />
-	Phàm xưa kia, phân biệt Nam – nữ, thì đàn ông con trai tất phải có râu. Đàn bà con gái tất phải có vú (nam tu - nữ nhủ). Vì vậy từ râu ở đây để chỉ Nam Tử: Đàn ông con trai<br />
-	Từ Hùm: là hổ, là cọp thì ai cũng biết. Nhưng hổ (cọp) người đời thường bảo là: Chúa tể muôn loài. Trong văn chương, thì Hổ là Chúa Sơn Lâm, vì Hổ rất dũng mãnh.<br />
Thành ra hai từ “Râu Hùm” có nghĩa là: Chàng trai này uy phong, dũng mãnh như chúa tể sơn lâm.<br />
-	Hàm: là đại diện cho miệng. Mà miệng thì dùng để ăn và nói.<br />
-	Én: là biểu tượng của mùa xuân. Văn chương Việt Nam có câu:<br />
Mùa xuân én liệng cò bay…<br />
Hay là: một con én lạc loài khó làm nên nổi mùa xuân… <br />
Mà mùa xuân tất nhiên là khí hậu ôn hòa,ấm áp. Thành ra hai từ Hàm én có nghĩa là:<br />
Lối ăn nói rất ôn hòa, đem lại ấm áp cho lòng người…<br />
-	Mày: tức là nói đến mắt. Mắt thì để trông, nhìn , quan sát. Từ đó cho ra kiến thức và tư tưởng.<br />
-	Ngài: là do quá trình biến đổi từ nhộng, nở ra sâu tằm, sâu tằm hóa bướm gọi là con ngài. Sự biến đổi từ hình thức này sang hình thức khác gọi là canh tân, đổi mới. Tóm lại là Cách mạng (đổi đời)<br />
Thành ra hai từ “mày ngài” có nghĩa là người có kiến thức và tư tưởng cách mạng (đổi đời)<br />
<span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u">Tóm lại:</span> 6 từ “râu hùm, hàm én, mày ngài” Có nghĩa là : Chàng trai này uy phong, dũng mãnh như chúa sơn lâm. Mà lối ăn nói lại rất ôn hòa, đem lại sự ấm áp cho lòng người. Có sức thu phục nhân tâm. Lại còn có kiến thức sâu rộng và tư tưởng cách mạng (đổi đời)<br />
Phân tích 4 từ: vai năm tất rộng. Ta có thể hiểu như sau:<br />
Vai: con người thường dùng để gánh vát. Trong văn chương đã có câu: “đôi vai gánh vác sơn hà”.<br />
Năm tấc: Là để chỉ thời gian về đêm. Nguồn gốc như sau:<br />
Người Việt nam nói riêng và Á Đông nói chung ngày xưa đã tính thời gian bằng cách cho nước chảy qua miệng một con hạc bằng đồng, chảy xuống bể chứa nước. Gọi là Hồ (do đó mới có từ đồng hồ). Thành(vách ngăn) của Hồ chứa nước được đánh dấu (khắc). Các khoảng cách đều nhau= 1 tấc. Tương đương 4cm. Các khoảng cách đó được quy định như sau:<br />
Từ Hoàng Hôn khởi tấc nước thứ nhất, cho đến khi đủ 1 tấc, thời gian này gọi là canh 1. (Từ Canh là do tiếng trống của người lính gác đồng hồ đánh báo hiệu; được gọi trống canh). Nếu tính theo cách tình giờ ngày nay là từ 19 đến 21 giờ.<br />
Canh Năm là tất nước thứ 5, từ 03 giờ dến 05 giờ.<br />
 Đó là 5 tấc thời gian thuộc về đêm. Vì vậy mới có câu :<br />
“Đêm năm canh ngày sáu khắc”<br />
6 khắc thời gian thuộc về ngày được quy định như sau: Thời gian thuộc về ngày là thười gian làm việc và sinh hoạt cho mọi người, Từ bình minh cho đến hoàng hôn có: <br />
-	3 khắc thuộc về buổi sáng, 3 khắc thuộc về buổi chiều.<br />
-	Thời gian giờ ngọ, từ 11h đến 13h gọi là giờ chính ngật. Thời gian này được nghỉ ngơi (không làm việc). Vì vậy không tính.<br />
-	- Rộng là từ diễn nghĩa của từ Quảng. Quảng là rộng rãi như từ Quảng đại: là rộng rãi to lớn….<br />
Thành ra 4 chữ “vai năm tấc rộng” có nghĩa là không quảng ngại đêm trường, chỉ có bật quân tử mới làm được. Phân tích 4 từ: Thân mười thước cao. Ta có thể hiểu như sau:<br />
Thân là từ chỉ về người như từ “Đấng” vậy. Ví dụ như từ” Thân nam nhi, đấng mày râu” hoặc “ thân nhi nữ đấng hồng quần” đều dùng để chỉ về người.<br />
-	Mười thuốc là theo cách đo đạc xưa của người phương Đông. 10 thước = 1 Trượng.<br />
-	Cao: là từ diễn nghĩa của từ Phu. Ví dụ: Trong gia đình xưa, chồng có vị thế cao hơn vợ. Vì vậy gọi là Phu Quân- Phú Tướng. Phu- phụ là chồng và vợ. Nhưng chồng có vị thế cao hơn, vợ chỉ phụ theo chồng mà thôi. <br />
Thành ra 4 chữ “ Thân mười thước cao” có nghĩa là: đấng trượng phu.<br />
Tóm lại hai câu thơ:<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Râu hùm,  hàm én, mày ngài<br />
Vai năm tất rộng thân mười thước cao</span><br />
Có nghĩa là: Chàng trai này uy phong, dũng mãnh như chúa tể sơn lâm, có lối ăn nói ôn hòa, ấm áp, có sức thu phục nhân tâm. Lại còn có kiến thức rộng rãi, có tư tưởng cách mạng(đổi đời). Đó là bậc quân tử- đấng trượng phu trong đời vậy.<br />
Chỉ riêng với hai câu thơ này, gồm 14 từ, Văn Hào Nguyễn Du đã mô tả, diễn đạt về Từ Hải rất rõ ràng cực kỳ linh động.<br />
 Đúng là tuyệt tác hảo từ.<br />
<br />
Các câu thơ sau là để diễn đạt thêm về Từ Hải. Ta có thể phân tích để hiểu ý nghĩa như sau:<br />
Hai câu:<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Đường đường một đất anh hào<br />
Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài.</span><br />
-	Đường Đường: Nguyên kinh thi có từ : Đường đường chính chính. Có nghĩa là quang minh chính đại.<br />
-	Anh Hào: là do hai từ Anh Hùng- Hào kiệt. Anh: đẹp nhất – Hào: Trội nhất.<br />
-	Côn Quyền: nói về vọ<br />
-	Lược thao: nói về văn (trí mưu). Lược thao là tam lược là lục thao. Là bộ binh pháp ngày xưa (bao gồm chiến lược và chiến thuật). <br />
Thành ra câu này có nghĩa là: Quang minh chính đại, đẹp trội như anh hùng hào kiệt. Chẳng những giỏi võ hơn người mà văn cũng thông suốt. Binh thư chiến pháp hai mặt toàn tài.<br />
Câu: “Đội trời đạp đất ở đời”. Hay nói ngắn gọn là : Cương trực, chân chính (ngửa lên không hổ với trời- cuối xuống không thẹn với đất).<br />
Câu: “Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông.” Hai từ: “ Việt Đông” là nói về về địa danh. Việt là nước Việt, thời Xuân Thu. Đông là Đông Ngô, thời Tam Quốc. Nay thuộc tỉnh Quảng Đông Trung Quốc.<br />
Câu: “Giang hồ quen thú vẫy vùng”. “Giang Hồ” là nói người sống không cố định, rày đây mai đó. “Quen thú”: là thói quen vui chơi theo sở thích. “Vẫy vùng”: là hình tượng loài cá lớn ở Đại giang- biển cả. Xuôi ngược tung hoành lắm khi dương vây, vẫy đuôi vượt mình lên khỏi mặt nước.<br />
Thành ra câu này có nghĩa là: Một người không ưa ràng buộc mà thói quen vui chơi theo sở thích, nay đây mai đó, tung hoành xuôi ngược.<br />
Câu “Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo”. Phàm gánh thì phải có cả hai đầu, trước và sau, càng cân bằng càng dễ gánh. Mà gánh thì hoặc nặng hoặc nhẹ hoặc đầy hoặc lưng, chứ nữa gánh thì gánh làm sao? <br />
Nhiều nhà bình thơ đã diễn giải: thanh gươm và cây đàn quẩy theo mà đi thuyền chèo khắp sông núi. Bởi theo họ thì nửa gánh là chỉ có 1 đầu (có sau không trước) gọi là quẩy. Nhưng thuyền mà chèo lên núi thì chèo làm sao? Đúng là nói ngược “Dưới sông giã gạo, lên núi chèo thuyền”!!!<br />
Cụ Nguyễn Du mà sống lại ắc khóc ròng mắng cho. “Sao mày dốt thế, có dốt cũng vừa thôi! Để người ta dốt bớt với…”<br />
Thực nghĩa câu này là:<br />
Gươm: tức là kiếm lệnh do vua ban, ủy thác cầm quyền Nguyên Soái, điều động 3 quân. Thay mặt vua mà toàn quyền quyết định chiến trường. Hoặc Chiến hay Hòa, được phép tiền trảm hậu tấu. <br />
Thơ Chinh Phụ ngâm có câu: “chín tầng gươm báu trao tay”, tức là Phẩm vật triều đình xưa gầm có 9 bậc từ cửu phẩm đến cao là Nhất Phẩm. Người được trao kiếm lệnh là người vượt trên cả Nhất phẩm, quyền thay mặt Vua mà điều động 3 quân quyết định chiến trường.<br />
Đàn: ở đây không phải là cây đàn mà bao gồm 2 nghĩa<br />
-	Xét trách điều lỗi mà sửa lại<br />
-	Là cái Đài được làm bằng đất và gỗ. Theo các triều đại xưa có tục lệ Đăng Đàn bái tướng. Tức là: Nhà Vua thượng đài trao kiếm lệnh cho vị tướng lãnh thay mặt mình để thống suất 3 quân.<br />
Nửa Gánh: Nửa ở đây không phải là ½ gánh mà là từ chỉ thời gian về sau: rồi đây…, mai kia mốt nọ…, sẽ là …v.v…tức là cái nửa thuộc về sau này…Gánh: là gánh vác.<br />
Non sông: là giang sơn cũng thế, tức là nêu về đất nước,quốc gia.<br />
-Một Chèo: Tức là vừa chèo vừa lái, để hướng thuyền tiến mà không cần bánh lái. <br />
Thành ra câu này để nối tiếp câu trên, nghĩa là: nếu Từ Hải biết sửa lỗi quen thú giang hồ, tung hoành ngang dọc để mà dựng chí, thì nữa đây (sau này) tất được đăng đàn bái tướng. Cầm kiếm lệnh để thay vua chèo lái con thuyền vận mệnh giang sơn đất nước<br />
Qua phân tích 10 câu thơ trên, để chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa mà văn hào Nguyễn Du đã nêu lên về Từ Hải và cũng có thể diễn đạt bằng văn xuôi như sau:<br />
Trong khi kiều đành chấp nhận cuộc sống gái lầu hồng, thời gian lần lượt trôi qua, rồi một ngày thu, gió mát trăng thanh, bỗng có người khách từ cận biên ải sang chơi. Người khách đó là một chàng trai uy phong dũng mãnh như chúa tể sơn lâm, lối ăn nói ôn hòa đem lại ấm áp cho lòng người (có sức thu phục nhân tâm) lại còn có kiến thức rộng rãi, tư tưởng cách mạng (đổi đời). Đó là bậc quân tử, đấng trượng phu trong đời vậy. Quang minh chính đại đẹp trội như anh hùng hào kiệt. Chẳng những giỏi võ hơn người mà văn cũng thông suốt binh thư chiến pháp. Rõ là văn võ toàn tài. Tính tình cương cường,chính trực (ngữa lên không thẹn với trời, cuối xuống không hổ với đất). Là người có họ Từ tên Hải vốn người Việt – Đông.<br />
Thường vui chơi theo sỡ thích giang hồ đây đó, không ưa ràng buộc, vẫy vùng ngang dọc ngược xuôi.<br />
Tuy nhiên nếu Từ Hải biết chấn chỉnh lại các thú giang hồ mà dựng chí thì tất rồi đây cũng có ngày cầm kiếm lệnh đăng đàn thay vua mà gánh vác, chèo lái con thuyền vận mệnh giang sơn, đất nước…<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Bình giải trên đây chỉ là tư kiến cá nhân của tôi, có thể đúng có thể sai. Có thể có người bình giải hay hơn, rõ ràng hơn chính xác hơn…Vì vậy, tôi rất cầu mong các bạn đọc góp ý.<br />
Nhưng ít ra cụ Nguyễn Du nở nụ cười vui. <br />
Thì ra lớp hậu sinh cũng có người hiểu được ý mình</span><br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Nha Trang,ngày 14 tháng 1 năm 2014</span><br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Nguyên Duy</span>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Biết mình cũng hoạt động trong làng thơ,đầu năm, bố gọi lại bình giảng cho một đoạn trong Truyện Kiều: Hình tượng Từ Hải. Xin trích lại nguyên văn như sau:<br />
Thơ là gì? Từ Thi tức là Thơ theo mẫu tự Hán gồm 3 phần: trên là chữ sĩ, dưới là chữ thốn, bên cạnh là ngôn. Thành ra có nghĩa : Thơ là cả một vòm trời học vấn, được thu gọn gàng còn trong gang tấc  và viết theo thể văn vần, để diễn đạt thay cho lời nói. Đó mới là Hồn-Thơ.<br />
Vì vậy, cách đặt câu, chọn dụng từ, là cả một nghệ thuật văn chương…<br />
Để minh chứng cho định nghĩa trên, chúng ta hãy xem và phân tích đoạn thơ mà Văn Hào Nguyễn Du đã nói về Từ Hải trong truyện Kiều:<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Lần thâu gió mát trăng thanh<br />
Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi<br />
Râu hùm hàm én mày ngài<br />
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao<br />
Đường đường một đấng anh hài<br />
Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài<br />
Đội trời đạp đất ở đời<br />
Họ Từ tên Hải, vốn người Việt Đông<br />
Giang Hồ quen thú vẫy vùng <br />
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo…</span><br />
<br />
Bình giải cho 10 câu thơ trên là cả thiên nan, vạn nan với lớp người hậu học. Đã có quá nhiều nhà bình giãi sai lạc ý nghĩa rất nhiều. Nguyễn Du mà sống lại ắt phải dậm chân kêu trời, khóc than, nước mắt tuôn thành suối, nhất là hai câu:<br />
Râu hùm hàm én mày ngày<br />
Vai năm tấc rộng thân mười thước cao.<br />
<br />
Đúng là một kiệt tác, một người không có kiến thức sâu rộng, liệu có thể bình giải được sao?<br />
Qua nhiều năm học đòi làm thơ, tôi xin đem kiến thức nhỏ nhoi của mình, bình giải đoạn thơ trên để những ai yêu chuộng văn thơ và lớp hậu hậu suy ngẫm. Ít ra cụ Nguyễn Du cũng nở được nụ cười an vui: “Thì ra lớp hậu sinh cũng còn có người hiểu được mình”…<br />
<br />
Hai câu:<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">“Lần thâu gió mát trăng thanh<br />
Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi”</span><br />
-	Lần thâu: đã có người giải thích là: Hết đêm này sang đêm khác. Nếu dùng nghĩa đó đi kèm với các từ gió mát, trăng thanh…thì thật chẳng ra ý nghĩa gì cả. Rõ là ngớ ngẫn.<br />
-	Lần thâu: Thực nghĩa là<br />
+Lần: là từ diễn đạt thời gian chậm trôi, còn có nghĩa: Rồi đến…<br />
+ Thâu: còn có từ đồng nghĩa là thu. Từ thu lại có từ đồng âm là Thu trong nghĩa mùa thu. <br />
Như vậy có thể hiểu “Lần thâu gió mát trăng thanh” có nghĩa là: Rồi đến tiết thu trăng thanh gió mát nọ… Bỗng đâu có khách từ miền cận biên giới sang chơi. Bởi từ “Biên Đình” tức à “Biên Thùy”, vùng cận biên giới.<br />
Hai câu: <br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">“Râu hùm, hàm én, mày ngài<br />
Vai năm tất rộng, thân mười thước cao”</span><br />
Đã có nhiều nhà bình thơ giải thích: “Râu hùm” là râu hổ ,râu cọp, “mày ngài” là mày rậm- dài, “vai năm tấc rộng” là vai to lớn, “thân mười thước cao” là người rất cao. Ôi nếu theo giải thích trên mà vẽ thì hóa ra Nguyễn Du đã mô tả Từ Hải như một quái nhân!!!<br />
<br />
Thật ra hai câu thơ này phải nói là : Hay Nhất- mà cũng là bí hiểm nhất trong toàn tập truyện thơ Kiều của Nguyễn Du. Bởi đó là văn nôm,không phải văn Hán. Vả lại không dựa trên sử liệu điển tích nào cả. Do đó không thể tra cứu sử liệu, sách sử nào được cả.<br />
Tôi đã mất nhiều năm để tìm hiểu, lấy trí mà suy, lấy thần mà gặp, lấy kiến thức mà suy nghiệm mới giác ngộ- quán thông, thấu hiểu rằng:<br />
Thì ra Văn hào Nguyễn Du đã mượn từ diễn ý. Rất đơn giản, gọn gàng. Qua cách đặt câu, chọn dụng từ, thể hiện nên nghệ thuật Văn Chương cực kỳ linh động.<br />
Tôi xin phân tích  từng từ để chúng ta có thể hiểu ý nghĩa mà cụ Nguyễn Du muốn nêu lên:<br />
-	Phàm xưa kia, phân biệt Nam – nữ, thì đàn ông con trai tất phải có râu. Đàn bà con gái tất phải có vú (nam tu - nữ nhủ). Vì vậy từ râu ở đây để chỉ Nam Tử: Đàn ông con trai<br />
-	Từ Hùm: là hổ, là cọp thì ai cũng biết. Nhưng hổ (cọp) người đời thường bảo là: Chúa tể muôn loài. Trong văn chương, thì Hổ là Chúa Sơn Lâm, vì Hổ rất dũng mãnh.<br />
Thành ra hai từ “Râu Hùm” có nghĩa là: Chàng trai này uy phong, dũng mãnh như chúa tể sơn lâm.<br />
-	Hàm: là đại diện cho miệng. Mà miệng thì dùng để ăn và nói.<br />
-	Én: là biểu tượng của mùa xuân. Văn chương Việt Nam có câu:<br />
Mùa xuân én liệng cò bay…<br />
Hay là: một con én lạc loài khó làm nên nổi mùa xuân… <br />
Mà mùa xuân tất nhiên là khí hậu ôn hòa,ấm áp. Thành ra hai từ Hàm én có nghĩa là:<br />
Lối ăn nói rất ôn hòa, đem lại ấm áp cho lòng người…<br />
-	Mày: tức là nói đến mắt. Mắt thì để trông, nhìn , quan sát. Từ đó cho ra kiến thức và tư tưởng.<br />
-	Ngài: là do quá trình biến đổi từ nhộng, nở ra sâu tằm, sâu tằm hóa bướm gọi là con ngài. Sự biến đổi từ hình thức này sang hình thức khác gọi là canh tân, đổi mới. Tóm lại là Cách mạng (đổi đời)<br />
Thành ra hai từ “mày ngài” có nghĩa là người có kiến thức và tư tưởng cách mạng (đổi đời)<br />
<span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u">Tóm lại:</span> 6 từ “râu hùm, hàm én, mày ngài” Có nghĩa là : Chàng trai này uy phong, dũng mãnh như chúa sơn lâm. Mà lối ăn nói lại rất ôn hòa, đem lại sự ấm áp cho lòng người. Có sức thu phục nhân tâm. Lại còn có kiến thức sâu rộng và tư tưởng cách mạng (đổi đời)<br />
Phân tích 4 từ: vai năm tất rộng. Ta có thể hiểu như sau:<br />
Vai: con người thường dùng để gánh vát. Trong văn chương đã có câu: “đôi vai gánh vác sơn hà”.<br />
Năm tấc: Là để chỉ thời gian về đêm. Nguồn gốc như sau:<br />
Người Việt nam nói riêng và Á Đông nói chung ngày xưa đã tính thời gian bằng cách cho nước chảy qua miệng một con hạc bằng đồng, chảy xuống bể chứa nước. Gọi là Hồ (do đó mới có từ đồng hồ). Thành(vách ngăn) của Hồ chứa nước được đánh dấu (khắc). Các khoảng cách đều nhau= 1 tấc. Tương đương 4cm. Các khoảng cách đó được quy định như sau:<br />
Từ Hoàng Hôn khởi tấc nước thứ nhất, cho đến khi đủ 1 tấc, thời gian này gọi là canh 1. (Từ Canh là do tiếng trống của người lính gác đồng hồ đánh báo hiệu; được gọi trống canh). Nếu tính theo cách tình giờ ngày nay là từ 19 đến 21 giờ.<br />
Canh Năm là tất nước thứ 5, từ 03 giờ dến 05 giờ.<br />
 Đó là 5 tấc thời gian thuộc về đêm. Vì vậy mới có câu :<br />
“Đêm năm canh ngày sáu khắc”<br />
6 khắc thời gian thuộc về ngày được quy định như sau: Thời gian thuộc về ngày là thười gian làm việc và sinh hoạt cho mọi người, Từ bình minh cho đến hoàng hôn có: <br />
-	3 khắc thuộc về buổi sáng, 3 khắc thuộc về buổi chiều.<br />
-	Thời gian giờ ngọ, từ 11h đến 13h gọi là giờ chính ngật. Thời gian này được nghỉ ngơi (không làm việc). Vì vậy không tính.<br />
-	- Rộng là từ diễn nghĩa của từ Quảng. Quảng là rộng rãi như từ Quảng đại: là rộng rãi to lớn….<br />
Thành ra 4 chữ “vai năm tấc rộng” có nghĩa là không quảng ngại đêm trường, chỉ có bật quân tử mới làm được. Phân tích 4 từ: Thân mười thước cao. Ta có thể hiểu như sau:<br />
Thân là từ chỉ về người như từ “Đấng” vậy. Ví dụ như từ” Thân nam nhi, đấng mày râu” hoặc “ thân nhi nữ đấng hồng quần” đều dùng để chỉ về người.<br />
-	Mười thuốc là theo cách đo đạc xưa của người phương Đông. 10 thước = 1 Trượng.<br />
-	Cao: là từ diễn nghĩa của từ Phu. Ví dụ: Trong gia đình xưa, chồng có vị thế cao hơn vợ. Vì vậy gọi là Phu Quân- Phú Tướng. Phu- phụ là chồng và vợ. Nhưng chồng có vị thế cao hơn, vợ chỉ phụ theo chồng mà thôi. <br />
Thành ra 4 chữ “ Thân mười thước cao” có nghĩa là: đấng trượng phu.<br />
Tóm lại hai câu thơ:<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Râu hùm,  hàm én, mày ngài<br />
Vai năm tất rộng thân mười thước cao</span><br />
Có nghĩa là: Chàng trai này uy phong, dũng mãnh như chúa tể sơn lâm, có lối ăn nói ôn hòa, ấm áp, có sức thu phục nhân tâm. Lại còn có kiến thức rộng rãi, có tư tưởng cách mạng(đổi đời). Đó là bậc quân tử- đấng trượng phu trong đời vậy.<br />
Chỉ riêng với hai câu thơ này, gồm 14 từ, Văn Hào Nguyễn Du đã mô tả, diễn đạt về Từ Hải rất rõ ràng cực kỳ linh động.<br />
 Đúng là tuyệt tác hảo từ.<br />
<br />
Các câu thơ sau là để diễn đạt thêm về Từ Hải. Ta có thể phân tích để hiểu ý nghĩa như sau:<br />
Hai câu:<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Đường đường một đất anh hào<br />
Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài.</span><br />
-	Đường Đường: Nguyên kinh thi có từ : Đường đường chính chính. Có nghĩa là quang minh chính đại.<br />
-	Anh Hào: là do hai từ Anh Hùng- Hào kiệt. Anh: đẹp nhất – Hào: Trội nhất.<br />
-	Côn Quyền: nói về vọ<br />
-	Lược thao: nói về văn (trí mưu). Lược thao là tam lược là lục thao. Là bộ binh pháp ngày xưa (bao gồm chiến lược và chiến thuật). <br />
Thành ra câu này có nghĩa là: Quang minh chính đại, đẹp trội như anh hùng hào kiệt. Chẳng những giỏi võ hơn người mà văn cũng thông suốt. Binh thư chiến pháp hai mặt toàn tài.<br />
Câu: “Đội trời đạp đất ở đời”. Hay nói ngắn gọn là : Cương trực, chân chính (ngửa lên không hổ với trời- cuối xuống không thẹn với đất).<br />
Câu: “Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông.” Hai từ: “ Việt Đông” là nói về về địa danh. Việt là nước Việt, thời Xuân Thu. Đông là Đông Ngô, thời Tam Quốc. Nay thuộc tỉnh Quảng Đông Trung Quốc.<br />
Câu: “Giang hồ quen thú vẫy vùng”. “Giang Hồ” là nói người sống không cố định, rày đây mai đó. “Quen thú”: là thói quen vui chơi theo sở thích. “Vẫy vùng”: là hình tượng loài cá lớn ở Đại giang- biển cả. Xuôi ngược tung hoành lắm khi dương vây, vẫy đuôi vượt mình lên khỏi mặt nước.<br />
Thành ra câu này có nghĩa là: Một người không ưa ràng buộc mà thói quen vui chơi theo sở thích, nay đây mai đó, tung hoành xuôi ngược.<br />
Câu “Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo”. Phàm gánh thì phải có cả hai đầu, trước và sau, càng cân bằng càng dễ gánh. Mà gánh thì hoặc nặng hoặc nhẹ hoặc đầy hoặc lưng, chứ nữa gánh thì gánh làm sao? <br />
Nhiều nhà bình thơ đã diễn giải: thanh gươm và cây đàn quẩy theo mà đi thuyền chèo khắp sông núi. Bởi theo họ thì nửa gánh là chỉ có 1 đầu (có sau không trước) gọi là quẩy. Nhưng thuyền mà chèo lên núi thì chèo làm sao? Đúng là nói ngược “Dưới sông giã gạo, lên núi chèo thuyền”!!!<br />
Cụ Nguyễn Du mà sống lại ắc khóc ròng mắng cho. “Sao mày dốt thế, có dốt cũng vừa thôi! Để người ta dốt bớt với…”<br />
Thực nghĩa câu này là:<br />
Gươm: tức là kiếm lệnh do vua ban, ủy thác cầm quyền Nguyên Soái, điều động 3 quân. Thay mặt vua mà toàn quyền quyết định chiến trường. Hoặc Chiến hay Hòa, được phép tiền trảm hậu tấu. <br />
Thơ Chinh Phụ ngâm có câu: “chín tầng gươm báu trao tay”, tức là Phẩm vật triều đình xưa gầm có 9 bậc từ cửu phẩm đến cao là Nhất Phẩm. Người được trao kiếm lệnh là người vượt trên cả Nhất phẩm, quyền thay mặt Vua mà điều động 3 quân quyết định chiến trường.<br />
Đàn: ở đây không phải là cây đàn mà bao gồm 2 nghĩa<br />
-	Xét trách điều lỗi mà sửa lại<br />
-	Là cái Đài được làm bằng đất và gỗ. Theo các triều đại xưa có tục lệ Đăng Đàn bái tướng. Tức là: Nhà Vua thượng đài trao kiếm lệnh cho vị tướng lãnh thay mặt mình để thống suất 3 quân.<br />
Nửa Gánh: Nửa ở đây không phải là ½ gánh mà là từ chỉ thời gian về sau: rồi đây…, mai kia mốt nọ…, sẽ là …v.v…tức là cái nửa thuộc về sau này…Gánh: là gánh vác.<br />
Non sông: là giang sơn cũng thế, tức là nêu về đất nước,quốc gia.<br />
-Một Chèo: Tức là vừa chèo vừa lái, để hướng thuyền tiến mà không cần bánh lái. <br />
Thành ra câu này để nối tiếp câu trên, nghĩa là: nếu Từ Hải biết sửa lỗi quen thú giang hồ, tung hoành ngang dọc để mà dựng chí, thì nữa đây (sau này) tất được đăng đàn bái tướng. Cầm kiếm lệnh để thay vua chèo lái con thuyền vận mệnh giang sơn đất nước<br />
Qua phân tích 10 câu thơ trên, để chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa mà văn hào Nguyễn Du đã nêu lên về Từ Hải và cũng có thể diễn đạt bằng văn xuôi như sau:<br />
Trong khi kiều đành chấp nhận cuộc sống gái lầu hồng, thời gian lần lượt trôi qua, rồi một ngày thu, gió mát trăng thanh, bỗng có người khách từ cận biên ải sang chơi. Người khách đó là một chàng trai uy phong dũng mãnh như chúa tể sơn lâm, lối ăn nói ôn hòa đem lại ấm áp cho lòng người (có sức thu phục nhân tâm) lại còn có kiến thức rộng rãi, tư tưởng cách mạng (đổi đời). Đó là bậc quân tử, đấng trượng phu trong đời vậy. Quang minh chính đại đẹp trội như anh hùng hào kiệt. Chẳng những giỏi võ hơn người mà văn cũng thông suốt binh thư chiến pháp. Rõ là văn võ toàn tài. Tính tình cương cường,chính trực (ngữa lên không thẹn với trời, cuối xuống không hổ với đất). Là người có họ Từ tên Hải vốn người Việt – Đông.<br />
Thường vui chơi theo sỡ thích giang hồ đây đó, không ưa ràng buộc, vẫy vùng ngang dọc ngược xuôi.<br />
Tuy nhiên nếu Từ Hải biết chấn chỉnh lại các thú giang hồ mà dựng chí thì tất rồi đây cũng có ngày cầm kiếm lệnh đăng đàn thay vua mà gánh vác, chèo lái con thuyền vận mệnh giang sơn, đất nước…<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Bình giải trên đây chỉ là tư kiến cá nhân của tôi, có thể đúng có thể sai. Có thể có người bình giải hay hơn, rõ ràng hơn chính xác hơn…Vì vậy, tôi rất cầu mong các bạn đọc góp ý.<br />
Nhưng ít ra cụ Nguyễn Du nở nụ cười vui. <br />
Thì ra lớp hậu sinh cũng có người hiểu được ý mình</span><br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Nha Trang,ngày 14 tháng 1 năm 2014</span><br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Nguyên Duy</span>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Tào Lao Với Ớt]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1847.html</link>
			<pubDate>Mon, 17 Feb 2014 03:03:17 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=12">lanhdien</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1847.html</guid>
			<description><![CDATA[<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><img src="http://www.khoahoc.com.vn/photos/image/042012/03/eatchili.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: eatchili.jpg]" class="mycode_img" /></div>
 <br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-size: large;" class="mycode_size"><div style="text-align: right;" class="mycode_align">Tào lao với ớt</div></span></span><br />
<br />
<br />
Trong những món ăn dân dã và đơn giản nhất, nhưng lại khiến người khác nghiện nhiều nhất chắc có lẽ ớt là đỉnh của đỉnh. Ớt luôn thường trực trong mỗi bữa ăn cho dù cầu kỳ sang trọng hay đến mức đơn giản tối thiểu, thì nó vẫn là một thứ gia vị khiến người ta phải đâm ra ghiền cái chất cay nồng của nó.<br />
<br />
Ngày trước trong dân gian có câu chuyện tiếu lâm kể rằng: Có anh nọ qua nhà hàng xóm chơi, gần đến bữa ăn rồi mà còn lân la chưa chịu về. Tay chủ nhà hôm ấy có làm con gà, nhưng không muốn mời khách. Anh này biết được nên cố ý ở lại để "ăn ké" . Chủ nhà thấy khách cứ nấn ná hoài mà không ra về nên đành gọi người nhà dọn cơm lên ăn và định bụng sẽ mời lơi anh này một tiếng thôi. Nếu anh ta tỏ vẻ khách sáo thì không mời thêm nữa. Anh nọ nghe chủ nhà mới ăn cơm thì trong lòng sướng lắm, nhưng phép lịch sự tối thiểu cũng giả đò chối từ đưa đẩy một tiếng. Trong lúc khó xử đấy thì liếc thấy trên bàn có vài trái ớt anh ta liền ứng khẩu nói ngay. Ăn cơm hả? Có ớt không đấy! Có ớt thì làm bậy vài chén còn nếu như không có thì thôi. Nói xong sà xuống mâm mà đánh chén no nê mặc cho chủ nhà tức nghẹn họng.<br />
<br />
Kể như thế để thấy trái ớt nó không thể thiếu trong mỗi bữa ăn của người Việt. Dân gian có câu " Ớt nào mà ớt chẳng cay, gái nào mà gái chẳng hay ghen chồng." Không biết sao người xưa lại  gán ghép ớt với chuyện ghen tuông của người phụ nữ. Chứ như tôi thì ghiền ớt chứ hổng thể nào ghiền ghen được. Cái chất cay cay, nồng nồng đó thì thích thú đến đôi khi rớt cả nước mắt. Nhưng nếu lỡ mà dính vô ghen thì ôi thôi coi như một lần là đủ tởn đến già, lo mà bưng bít chứ ai lại tối ngày cứ đòi thưởng thức ghen cơ chứ? Mà hay là do đặc tính của phụ nữ là ghen, cũng giống như ớt là phải cay nên nói thế chăng? Cái này thì tạm chấp nhận thôi, chứ không đồng tình lắm. Dù sao tôi cũng thấy khối anh giai cứ ghen còn hơn cả phụ nữ đầy ra đấy thôi. <br />
<br />
Quay lại với trái ớt để chém gió tiếp thì tôi thấy thế này! Đành rằng ăn ớt ai cũng ghiền ( trừ người không ăn được ớt thì tôi chẳng chấp), nhưng thưởng thức nó một cách điệu nghệ của ẩm thực thì cũng khá kỳ công và không kém phần hấp dẫn.<br />
<br />
Tôi nói thí dụ như ăn Bún Bò Huế thì phải ăn ớt sa tế mới đúng điệu được. Ớt sa tế là thứ ớt bột được xào với dầu cho kẹo lại, nó dùng làm gia vị cho Bún Bò hoặc Bún Giò. Nếu như ăn Bún Bò Huế hoặc Bún Giò mà không có ớt sa tế thì coi như giảm hết 50 phần trăm công lực rồi, khó mà ngon miệng một cách thành thục được.<br />
<br />
Hoặc giả như khi đi ăn Phở thì cần phải ăn với ớt xanh, loại sừng trâu to vật được thái từng lát mỏng thì ăn mới ngon. Món Hủ Tiếu cũng ăn ớt kiểu như thế, cũng phải ớt xanh xắt lát ăn mới ngon. Hai món này chỉ khác nhau một chút khi nêm đó là Hủ Tiếu thì chơi với nước tương (có nơi gọi xì dầu) và nếu có Hắc xì dầu của người Hoa thì tuyệt đỉnh công phu, ăn vào sẽ thấy nhức nhối đến từng tế bào lận đó. Phở thì tương đen và tương đỏ trộn lẫn vào nhau là ô kê con gà đen thôi.<br />
<br />
Có loại ớt đỏ được bằm nhuyễn ra để ăn với Bún Riêu, Bún Đỏ, thứ bún ấy thì chỉ dùng mỗi thứ ấy ăn mới thấm, chứ cầm trái ớt mà cắn cái bụp thì vô duyên hết chỗ nói. Ớt Đỏ loại đó nếu xắt cục cục thì ăn với Cháo Lòng, Hủ Tiếu Gõ là hết trật, Cháo Lòng nếu như lấy ớt đó cho vô chén nước mắm mặn nguyên chất, rồi chấm lát lòng ngập sâu trong chén và từ từ cho vô miệng thì á đù...phải nói sướng không thể tả.<br />
<br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"> <img src="http://dulichthailan365.com/wp-content/uploads/2012/05/nam-pla-prik.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: nam-pla-prik.jpg]" class="mycode_img" /></div>
<br />
Quê tôi có món Mỳ Quảng, món này thì chỉ nên ăn trái ớt xanh, loại sừng trâu hay chỉ thiên gì cũng xài tốt cả. Nếu như không có thứ ớt xanh đó thì tôi đồ rằng chẳng ai ăn Mỳ Quảng làm gì cho phí. Nói vui thế thôi chứ ớt xanh loại chỉ thiên hay sừng trâu kia ăn Mỳ Quảng mới ngon được.<br />
<br />
Nói chung tùy theo món ăn mà có một loại ớt thích hợp để đưa đẩy bữa ăn thêm phần thú vị. Có nơi người ta ngâm ớt để ăn với cơm, hoặc khi kho cá thì cho vô vài trái ớt trong đó, nó vừa khử được mùi tanh mà khi chín vớt ra ăn cũng đậm đà ghê gớm. Có nơi người ta muối ớt thành dưa để nhấm nháp...<br />
<br />
Nhưng có lẽ ăn ớt trong thời tiết lạnh là đã nhất. Cái rét buốt xuyên da thịt, ngấm sâu vào lục phủ ngũ tạng khiến cho cái dạ dày sôi lên ùng ục gây cơn đói bụng thầm kín, rồi sau đó buộc phải giải quyết cái dạ dày ẩm ương kia, bất chợt đưa tay cắn trái ớt thiệt là cay. Ui chu choa... mồ ôi mẹ , mồ hôi con tứa ra trên trán, miệng hít hà, sức nóng ấm từ trong ấm ra, từ miệng tuột xuống, trên dưới hội ngộ thì đúng là tuyệt thú của nhân gian còn gì bằng nữa chứ. Ăn ớt vào mùa lạnh nó cũng thú như ngồi ngắm tuyết rơi chứ chẳng chơi.<br />
<br />
Ăn ớt như thế thì không ghiền quả là uổng phí! Lại nhớ mấy chị hay ghen vì cái chi tôi không biết, nhưng nếu biết ghen theo kiểu biết cách ăn ớt thì may ra còn có đôi chút thú vị. Còn như ghen theo kiểu hầm bà lằng thì cũng không khác gì cho nguyên nắm ớt mà phi vô miệng. Mất hết cái sự sung sướng ấy lại từ thuở nào rồi...<img src="https://duytuan2002.github.io/mybbscr/21.gif" alt="laughing" title="laughing" class="smilie smilie_301" /><br />
<br />
Ăn ớt còn phải biết cách, huống chi ghen?]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><img src="http://www.khoahoc.com.vn/photos/image/042012/03/eatchili.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: eatchili.jpg]" class="mycode_img" /></div>
 <br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-size: large;" class="mycode_size"><div style="text-align: right;" class="mycode_align">Tào lao với ớt</div></span></span><br />
<br />
<br />
Trong những món ăn dân dã và đơn giản nhất, nhưng lại khiến người khác nghiện nhiều nhất chắc có lẽ ớt là đỉnh của đỉnh. Ớt luôn thường trực trong mỗi bữa ăn cho dù cầu kỳ sang trọng hay đến mức đơn giản tối thiểu, thì nó vẫn là một thứ gia vị khiến người ta phải đâm ra ghiền cái chất cay nồng của nó.<br />
<br />
Ngày trước trong dân gian có câu chuyện tiếu lâm kể rằng: Có anh nọ qua nhà hàng xóm chơi, gần đến bữa ăn rồi mà còn lân la chưa chịu về. Tay chủ nhà hôm ấy có làm con gà, nhưng không muốn mời khách. Anh này biết được nên cố ý ở lại để "ăn ké" . Chủ nhà thấy khách cứ nấn ná hoài mà không ra về nên đành gọi người nhà dọn cơm lên ăn và định bụng sẽ mời lơi anh này một tiếng thôi. Nếu anh ta tỏ vẻ khách sáo thì không mời thêm nữa. Anh nọ nghe chủ nhà mới ăn cơm thì trong lòng sướng lắm, nhưng phép lịch sự tối thiểu cũng giả đò chối từ đưa đẩy một tiếng. Trong lúc khó xử đấy thì liếc thấy trên bàn có vài trái ớt anh ta liền ứng khẩu nói ngay. Ăn cơm hả? Có ớt không đấy! Có ớt thì làm bậy vài chén còn nếu như không có thì thôi. Nói xong sà xuống mâm mà đánh chén no nê mặc cho chủ nhà tức nghẹn họng.<br />
<br />
Kể như thế để thấy trái ớt nó không thể thiếu trong mỗi bữa ăn của người Việt. Dân gian có câu " Ớt nào mà ớt chẳng cay, gái nào mà gái chẳng hay ghen chồng." Không biết sao người xưa lại  gán ghép ớt với chuyện ghen tuông của người phụ nữ. Chứ như tôi thì ghiền ớt chứ hổng thể nào ghiền ghen được. Cái chất cay cay, nồng nồng đó thì thích thú đến đôi khi rớt cả nước mắt. Nhưng nếu lỡ mà dính vô ghen thì ôi thôi coi như một lần là đủ tởn đến già, lo mà bưng bít chứ ai lại tối ngày cứ đòi thưởng thức ghen cơ chứ? Mà hay là do đặc tính của phụ nữ là ghen, cũng giống như ớt là phải cay nên nói thế chăng? Cái này thì tạm chấp nhận thôi, chứ không đồng tình lắm. Dù sao tôi cũng thấy khối anh giai cứ ghen còn hơn cả phụ nữ đầy ra đấy thôi. <br />
<br />
Quay lại với trái ớt để chém gió tiếp thì tôi thấy thế này! Đành rằng ăn ớt ai cũng ghiền ( trừ người không ăn được ớt thì tôi chẳng chấp), nhưng thưởng thức nó một cách điệu nghệ của ẩm thực thì cũng khá kỳ công và không kém phần hấp dẫn.<br />
<br />
Tôi nói thí dụ như ăn Bún Bò Huế thì phải ăn ớt sa tế mới đúng điệu được. Ớt sa tế là thứ ớt bột được xào với dầu cho kẹo lại, nó dùng làm gia vị cho Bún Bò hoặc Bún Giò. Nếu như ăn Bún Bò Huế hoặc Bún Giò mà không có ớt sa tế thì coi như giảm hết 50 phần trăm công lực rồi, khó mà ngon miệng một cách thành thục được.<br />
<br />
Hoặc giả như khi đi ăn Phở thì cần phải ăn với ớt xanh, loại sừng trâu to vật được thái từng lát mỏng thì ăn mới ngon. Món Hủ Tiếu cũng ăn ớt kiểu như thế, cũng phải ớt xanh xắt lát ăn mới ngon. Hai món này chỉ khác nhau một chút khi nêm đó là Hủ Tiếu thì chơi với nước tương (có nơi gọi xì dầu) và nếu có Hắc xì dầu của người Hoa thì tuyệt đỉnh công phu, ăn vào sẽ thấy nhức nhối đến từng tế bào lận đó. Phở thì tương đen và tương đỏ trộn lẫn vào nhau là ô kê con gà đen thôi.<br />
<br />
Có loại ớt đỏ được bằm nhuyễn ra để ăn với Bún Riêu, Bún Đỏ, thứ bún ấy thì chỉ dùng mỗi thứ ấy ăn mới thấm, chứ cầm trái ớt mà cắn cái bụp thì vô duyên hết chỗ nói. Ớt Đỏ loại đó nếu xắt cục cục thì ăn với Cháo Lòng, Hủ Tiếu Gõ là hết trật, Cháo Lòng nếu như lấy ớt đó cho vô chén nước mắm mặn nguyên chất, rồi chấm lát lòng ngập sâu trong chén và từ từ cho vô miệng thì á đù...phải nói sướng không thể tả.<br />
<br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"> <img src="http://dulichthailan365.com/wp-content/uploads/2012/05/nam-pla-prik.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: nam-pla-prik.jpg]" class="mycode_img" /></div>
<br />
Quê tôi có món Mỳ Quảng, món này thì chỉ nên ăn trái ớt xanh, loại sừng trâu hay chỉ thiên gì cũng xài tốt cả. Nếu như không có thứ ớt xanh đó thì tôi đồ rằng chẳng ai ăn Mỳ Quảng làm gì cho phí. Nói vui thế thôi chứ ớt xanh loại chỉ thiên hay sừng trâu kia ăn Mỳ Quảng mới ngon được.<br />
<br />
Nói chung tùy theo món ăn mà có một loại ớt thích hợp để đưa đẩy bữa ăn thêm phần thú vị. Có nơi người ta ngâm ớt để ăn với cơm, hoặc khi kho cá thì cho vô vài trái ớt trong đó, nó vừa khử được mùi tanh mà khi chín vớt ra ăn cũng đậm đà ghê gớm. Có nơi người ta muối ớt thành dưa để nhấm nháp...<br />
<br />
Nhưng có lẽ ăn ớt trong thời tiết lạnh là đã nhất. Cái rét buốt xuyên da thịt, ngấm sâu vào lục phủ ngũ tạng khiến cho cái dạ dày sôi lên ùng ục gây cơn đói bụng thầm kín, rồi sau đó buộc phải giải quyết cái dạ dày ẩm ương kia, bất chợt đưa tay cắn trái ớt thiệt là cay. Ui chu choa... mồ ôi mẹ , mồ hôi con tứa ra trên trán, miệng hít hà, sức nóng ấm từ trong ấm ra, từ miệng tuột xuống, trên dưới hội ngộ thì đúng là tuyệt thú của nhân gian còn gì bằng nữa chứ. Ăn ớt vào mùa lạnh nó cũng thú như ngồi ngắm tuyết rơi chứ chẳng chơi.<br />
<br />
Ăn ớt như thế thì không ghiền quả là uổng phí! Lại nhớ mấy chị hay ghen vì cái chi tôi không biết, nhưng nếu biết ghen theo kiểu biết cách ăn ớt thì may ra còn có đôi chút thú vị. Còn như ghen theo kiểu hầm bà lằng thì cũng không khác gì cho nguyên nắm ớt mà phi vô miệng. Mất hết cái sự sung sướng ấy lại từ thuở nào rồi...<img src="https://duytuan2002.github.io/mybbscr/21.gif" alt="laughing" title="laughing" class="smilie smilie_301" /><br />
<br />
Ăn ớt còn phải biết cách, huống chi ghen?]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Thần Điêu Ngoại Truyện]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1814.html</link>
			<pubDate>Thu, 16 Jan 2014 04:03:54 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=1">hothiethoa</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1814.html</guid>
			<description><![CDATA[Một hôm Quách Phá Lỗ đến gặp Dương Quá thưa rằng:<br />
<br />
-Tiểu đệ rất cảm kích đại ca<br />
<br />
Dương Quá lấy làm lạ và đưa mắt dò xét...<br />
<br />
Phá Lỗ nói tiếp...<br />
<br />
-Cả cuộc đời phụ thân bị giang hồ cười chê là Hai Lúa, cho nên khi sinh hạ được tiểu đệ thì mong muốn tiểu đệlàm rạng rỡ gia phong. Thế nên phụ thân mới đặt tên đệ là Phá Lỗ. Nhưng đệ nghĩ nếu không có đại ca Dương Quá thì tiểu đệ không thể nào Phá Lỗ thành công.<br />
<br />
Dương Quá nghe xong cười ngất mà đáp rằng:<br />
<br />
-Đệ đệ yêu. Sở dĩ đại ca Dương Quá là bởi vì đại ca gặp Tiểu Lông Nữa cô cô. Đệ thử nghĩ xem...đã Tiểu mà còn Lông Nữa thì không Dương Quá có phải quá uổng phí lắm không?<br />
<br />
Thế nên trong cuộc đời đều do duyên mà nên tất cả. Ta Dương Quá nên có đệ là Phá Lỗ và có hiền thê là Tiểu Lông Nữa cô cô ngắm thỏa thích. Đời còn gì bằng?<br />
<br />
Tùy bút: <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Lanhdien</span>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Một hôm Quách Phá Lỗ đến gặp Dương Quá thưa rằng:<br />
<br />
-Tiểu đệ rất cảm kích đại ca<br />
<br />
Dương Quá lấy làm lạ và đưa mắt dò xét...<br />
<br />
Phá Lỗ nói tiếp...<br />
<br />
-Cả cuộc đời phụ thân bị giang hồ cười chê là Hai Lúa, cho nên khi sinh hạ được tiểu đệ thì mong muốn tiểu đệlàm rạng rỡ gia phong. Thế nên phụ thân mới đặt tên đệ là Phá Lỗ. Nhưng đệ nghĩ nếu không có đại ca Dương Quá thì tiểu đệ không thể nào Phá Lỗ thành công.<br />
<br />
Dương Quá nghe xong cười ngất mà đáp rằng:<br />
<br />
-Đệ đệ yêu. Sở dĩ đại ca Dương Quá là bởi vì đại ca gặp Tiểu Lông Nữa cô cô. Đệ thử nghĩ xem...đã Tiểu mà còn Lông Nữa thì không Dương Quá có phải quá uổng phí lắm không?<br />
<br />
Thế nên trong cuộc đời đều do duyên mà nên tất cả. Ta Dương Quá nên có đệ là Phá Lỗ và có hiền thê là Tiểu Lông Nữa cô cô ngắm thỏa thích. Đời còn gì bằng?<br />
<br />
Tùy bút: <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Lanhdien</span>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Sườn Nướng Đại Hàn]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1796.html</link>
			<pubDate>Mon, 09 Dec 2013 09:51:21 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=67">Phiêu Dao</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1796.html</guid>
			<description><![CDATA[<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube-nocookie.com/embed/kRjEl0Dvz8I" frameborder="0" allowfullscreen="true"></iframe>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube-nocookie.com/embed/kRjEl0Dvz8I" frameborder="0" allowfullscreen="true"></iframe>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Đúng hay sai? Tại sao?]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1787.html</link>
			<pubDate>Thu, 28 Nov 2013 04:41:42 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=67">Phiêu Dao</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1787.html</guid>
			<description><![CDATA[1.Phụ nữ thích đàn ông hiền<br />
Đàn ông hiền là người đàn ông thường hơi nhút nhát<br />
Vậy, suy ra, Phụ nữ thích đàn ông nhút nhát]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[1.Phụ nữ thích đàn ông hiền<br />
Đàn ông hiền là người đàn ông thường hơi nhút nhát<br />
Vậy, suy ra, Phụ nữ thích đàn ông nhút nhát]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Chuyện một bài ca dao cổ]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1713.html</link>
			<pubDate>Thu, 03 Oct 2013 09:48:05 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=611">Mr.Kind</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1713.html</guid>
			<description><![CDATA[<img src="http://khoa4suphamhue.vnweblogs.com/gallery/32614/previews-med/440259-DSCN2404.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: 440259-DSCN2404.jpg]" class="mycode_img" /><br />
<br />
<font color=#0000CD><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">"Đi chợ tính tiền"</span></font> là một bài ca dao lục bát.Bài đã được in làm bài Học thuộc lòng cho học sinh lớp " sơ đẳng " trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư ,năm 1948.Bài thơ kể chuyện một người phụ nữ đi chợ về,phải trình bày minh bạch ,rõ ràng việc chi tiêu với chồng.<br />
Ngày xưa khi học bài này thầy giáo chỉ nêu đại ý như rứa,đồng thời nêu bật tính đảm đang,khéo vén của người phụ nữ xưa....sau đó yêu cầu học sinh học thuộc.Thầy không giảng về bài toán ẩn trong bài thơ,có lẽ vì thời thế đã khác (Khoảng năm 1958,chưa được vào trường công lập,người viết học với Ông giáo... ở khoảng giữa cầu An Cựu và lăng Vạn Vạn,không biết có phải là thân sinh của nhà văn Hải Triều không?)đồng tiền cũng đã đổi thay,hoặc giải bài toán chắc chi những học trò nhỏ hiểu được.<br />
Đã hơn năm mươi năm,bây giờ người học trò xưa đang ngồi ôm tóc trắng...một ngày mưa ngồi buồn chợt nhớ thầy đồ nơi xóm cũ ngày xưa chừ không còn,nhưng bài thơ vẫn còn đọng mãi trong đầu của bài Học thuộc lòng thửa ấy.Bèn tìm giấy giải thử.<br />
Ngay câu thơ đầu tiên đã gặp ngay vấn nạn."Một quan tiền tốt mang đi".Một quan là bao nhiêu ?Quan là đồng tiền cổ,những người muôn năm cũ giờ không còn,biết hỏi ai đây?Chợt nghe vang vang trong đầu một bài nhạc của nhạc sĩ Văn Phụng:<br />
Một quan là sáu trăm đồng.<br />
Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi.(Thơ của Nguyễn Bính).<br />
Vận dụng cả 4 phép tính cộng trừ nhân chia,đảo xuôi ngược,lên xuống...mãi vẫn không đủ 600 đồng cho một quan tiền! <br />
Lại phải đi tìm trong lịch sử.Trong một ngàn năm Bắc thuộc,dân Việt không có đồng tiền riêng . Mãi đến sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán ,dân Việt vẫn còn dùng đến đồng tiền của phương Bắc. Đến năm 968,Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp loạn 12 sứ quân ,lên ngôi hoàng đế với đế hiệu Đinh Tiên Hoàng,niên hiệu Thái Bình. Năm 970 nhà vua đã cho đúc những đồng tiền Thái Bình Hưng Bảo.Đây chính là những đồng tiền đầu tiên của người Việt.Từ đó tiếp đến những triều đại sau đều theo .<br />
Đơn vị để tính tiền xưa gồm có :quan,tiền ,đồng.Mỗi quan có giá trị là 10 tiền,mỗi tiền bằng bao nhiêu đồng tùy theo quy định của mỗi thời đại.Theo sử sách giá trị đồng tiền các thời đại như sau:<br />
1/ Năm 1225,vua Trần Thái Tông định phép dùng tiền.1 quan bằng 10 tiền.1 tiền bằng 70 đồng.<br />
2/ Năm 1428 vua Lê Thái Tổ cho đúc tiền Thuận Thiên.1 quan bằng 10 tiền.1 tiền bằng 50 đồng.<br />
3/ Năm 1439,vua Lê Thái Tông quy định 1 quan bằng 10 tiền ,1 tiền bằng 60 đồng. <br />
Như vậy 1 quan=10 tiền=600 đồng.<br />
Từ đó các triều đại về sau,mỗi khi đúc một loại tiền mới đều theo tỷ lệ này,cho đến cuối triều Nguyễn năm 1945.Chỉ có tên đồng tiền là thay đổi theo tên hiệu.<br />
Năm 1905 ,chính quyền bảo hộ Bắc kỳ cho phát hành loại tiền đúc bằng hợp kim kẽm.Loại tiền này mặt trước in chữ Pháp,mặt sau ghi chữ Hán,có giá trị tương đương các loại tiền đồng như Gia Long Thông Bảo,Minh Mệnh Thông Bảo,Thiệu Trị Thông Bảo và Tự Đức Thông Bảo.<br />
Trong những đời vua sau của nhà Nguyễn còn có thêm hai đồng tiền khác là Khải Định Thông Bảo và Bảo Đại Thông Bảo,hai loại tiền này không đúc như những đồng tiền xưa mà được dập bằng máy dập nhập từ nước Pháp. <br />
Đến đây chắc chắn là bài toán ẩn bên trong bài ca dao đã giải được.Ghi lại như sau,bên phải là các phép tính đã giải.<br />
<br />
<font color=#0000CD>ĐI CHỢ TÍNH TIỀN<br />
Một quan tiền tốt mang đi, 600 <br />
Nàng mua những gì mà tính chẳng ra.<br />
Thoạt tiên mua ba tiền gà, 3x60 = 180<br />
Tiền rưỡi gạo nếp với ba đồng trầu. 60+30+3= 93<br />
Trở lại mua sáu đồng cau, = 6<br />
Tiền rưỡi miếng thịt,giá rau mười đồng. (1,5x60)+10 = 100<br />
Có gì mà tính chẳng thông?<br />
Tiền rưỡi gạo tẻ,sáu đồng chè tươi. 60+30+6 = 96<br />
Ba mươi, đồng rượu chàng ơi, = 30<br />
Ba mươi đồng mật,hai mươi đồng vàng. 30+20 = 50 <br />
Hai chén nước mắm rõ ràng,<br />
Hai bảy mười bốn,kẻo chàng hồ nghi. 2x7 = 14<br />
Hai mươi mốt đồng bột nấu chè, = 21<br />
Mười đồng nải chuối,chẵn thì một quan. = 10<br />
CỘNG = 600</font><br />
<br />
<br />
Trong sách QVGKT bên dưới bài học thuộc lòng này có 3 từ giải nghĩa,ghi nguyên văn như sau :"GIẢI NGHĨA.Tiền tốt=tiền tiêu được.Vàng=đồ làm bằng giấy cúng rồi đốt đi.Hồ nghi=ngờ vực,không biết rõ".<br />
Những giải nghĩa này chỉ để giải thích cho lớp học trò tóc còn để chỏm,dễ hiểu,dễ nhớ.Đi chợ tất phải đem theo tiền,tiền phải có giá trị trong mua bán... là chuyện đương nhiên. Nhưng sao gọi là tiền tốt?Một bài cao dao được lưu truyền,được in trong sách giáo khoa từ lúc ra đời (Bản in đầu tiên năm 1927) đến lúc cải tiến thay đổi,không lẽ vì bí vần mà viết vụng thế sao! Thế là người viết phải đi tìm tiếp.<br />
Có một giai thoại trong văn học về Bà Chúa thơ Nôm.Chuyện kể rằng Hồ Xuân Hương thiếu tiền bèn hỏi mượn của Chiêu Hổ 5 quan để tiêu tạm. Chiêu Hổ gởi tiền đến,đếm hoài vẫn chỉ thấy có 3 quan.Nữ sĩ bèn làm bài thơ trách người cho mượn tiền:<br />
Sao nói rằng năm chỉ có ba.<br />
Trách người quân tử hẹn sai ra.<br />
Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt.<br />
Nhớ hái cho xin nắm lá đa. <br />
<br />
Chiêu Hổ họa lại:<br />
Rằng gián thì năm,quý có ba.<br />
Bởi người thục nữ tính không ra.<br />
Ừ rồi thong thả lên chơi nguyệt.<br />
Cho cả cành đa lẫn củ đa.<br />
Trong bài họa của Chiêu Hổ có chữ gián và quý.Đây là cơ sở dẫn người viết đi tìm tiếp. Đã có công tất ...chồng không phụ,kết quả đã tìm được:<br />
Khoảng thế kỷ 18,dưới triều vua Minh Mạng có hai loại tiền lưu hành.Đó là tiền quý và tiền gián,tỷ lệ như sau: 1quan quý = 600đồng. 1 quan gián chỉ bằng 360 đồng.<br />
Khi hỏi mượn tiền ,Hồ Xuân Hương chỉ nói mượn 5 quan,không nói là quan gì.Gặp lúc Chiêu Hổ chắc cũng đang thiếu nên chỉ cho mượn số tiền thấp xuống,nhưng vẫn đủ 5 quan:<br />
Quan quý : 3x600 =1800 đồng<br />
1800<img src="https://lh3.googleusercontent.com/RCJakof2Coi0_aw6Oh1M7rU81Fb8Izm2vZsvTA-3HkE2=w16-h17-no" alt="3" title="3" class="smilie smilie_279" />60 = 5 quan gián<br />
<br />
Giá trị của các loại tiền xưa như thế nào?Đây là những số liệu về lương tiền dưới triều vua Minh Mạng. <br />
-Quan Nhất Phẩm lãnh mỗi năm 400 quan,300 phương gạo,70 quan tiền Xuân Phục,tức tiền áo quần.<br />
-Quan Chánh ngũ phẩm,hàng tri phủ mỗi năm lương 40 quan,43 phương gạo,9 quan tiền Xuân Phục.<br />
-Lính,thơ lại,phục dịch ...lương mỗi tháng 1quan,tiền,1 phương gạo.<br />
Đồng quan ngày xưa nó to thế.Chẳng trách người ta bỏ ...quan ra để mua phẩm hàm ,chức tước...để được làm quan!Chẳng trách người phụ nữ " thời xưa"(tên khác của bài thơ Trăng sáng vườn chè) quên cả thanh xuân,gác tạm những ẩn ức ,dồn nén để một ngày chồng vinh qui về làng...cùng nhau trãi trọn trong một đêm trăng!<br />
Qua những số liệu vừa tìm được,ta có thể thấy rõ bài ca dao "Đi chợ tính tiền" xuất hiện sớm nhất phải từ thời Minh Mạng.Bởi từ lúc này mới có "Một quan tiền TỐT"mang đi.Tiền tốt chính là tiền quý,phân biệt với tiền gián có giá trị thấp hơn. Cũng thấy được,người phụ nữ trong một buổi chợ quê đã tiêu số tiền bằng lương tháng một người lính.Nhà nàng chắc phải có chuyện quan hôn,kỵ giỗ chi đây!<br />
<br />
Thật thú vị,để giải bài toán ẩn bên trong bài ca dao,đã phải đi loanh quanh,lòng vòng.Gặp những bài thơ hay,giai thoại đẹp,biết thêm vài điều về lịch sử...Nếu không có Internet chắc gì người viết đã giải được bài toán ẩn bên trong bài ca dao cổ?Chỉ nghĩ đến kho sách phải lục tìm,những thư viện phải đi đến ...đã thấy chồn chân chẳng muốn leo !<br />
<br />
Sưu tầm Internet (cảm ơn tác giả)]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<img src="http://khoa4suphamhue.vnweblogs.com/gallery/32614/previews-med/440259-DSCN2404.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: 440259-DSCN2404.jpg]" class="mycode_img" /><br />
<br />
<font color=#0000CD><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">"Đi chợ tính tiền"</span></font> là một bài ca dao lục bát.Bài đã được in làm bài Học thuộc lòng cho học sinh lớp " sơ đẳng " trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư ,năm 1948.Bài thơ kể chuyện một người phụ nữ đi chợ về,phải trình bày minh bạch ,rõ ràng việc chi tiêu với chồng.<br />
Ngày xưa khi học bài này thầy giáo chỉ nêu đại ý như rứa,đồng thời nêu bật tính đảm đang,khéo vén của người phụ nữ xưa....sau đó yêu cầu học sinh học thuộc.Thầy không giảng về bài toán ẩn trong bài thơ,có lẽ vì thời thế đã khác (Khoảng năm 1958,chưa được vào trường công lập,người viết học với Ông giáo... ở khoảng giữa cầu An Cựu và lăng Vạn Vạn,không biết có phải là thân sinh của nhà văn Hải Triều không?)đồng tiền cũng đã đổi thay,hoặc giải bài toán chắc chi những học trò nhỏ hiểu được.<br />
Đã hơn năm mươi năm,bây giờ người học trò xưa đang ngồi ôm tóc trắng...một ngày mưa ngồi buồn chợt nhớ thầy đồ nơi xóm cũ ngày xưa chừ không còn,nhưng bài thơ vẫn còn đọng mãi trong đầu của bài Học thuộc lòng thửa ấy.Bèn tìm giấy giải thử.<br />
Ngay câu thơ đầu tiên đã gặp ngay vấn nạn."Một quan tiền tốt mang đi".Một quan là bao nhiêu ?Quan là đồng tiền cổ,những người muôn năm cũ giờ không còn,biết hỏi ai đây?Chợt nghe vang vang trong đầu một bài nhạc của nhạc sĩ Văn Phụng:<br />
Một quan là sáu trăm đồng.<br />
Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi.(Thơ của Nguyễn Bính).<br />
Vận dụng cả 4 phép tính cộng trừ nhân chia,đảo xuôi ngược,lên xuống...mãi vẫn không đủ 600 đồng cho một quan tiền! <br />
Lại phải đi tìm trong lịch sử.Trong một ngàn năm Bắc thuộc,dân Việt không có đồng tiền riêng . Mãi đến sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán ,dân Việt vẫn còn dùng đến đồng tiền của phương Bắc. Đến năm 968,Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp loạn 12 sứ quân ,lên ngôi hoàng đế với đế hiệu Đinh Tiên Hoàng,niên hiệu Thái Bình. Năm 970 nhà vua đã cho đúc những đồng tiền Thái Bình Hưng Bảo.Đây chính là những đồng tiền đầu tiên của người Việt.Từ đó tiếp đến những triều đại sau đều theo .<br />
Đơn vị để tính tiền xưa gồm có :quan,tiền ,đồng.Mỗi quan có giá trị là 10 tiền,mỗi tiền bằng bao nhiêu đồng tùy theo quy định của mỗi thời đại.Theo sử sách giá trị đồng tiền các thời đại như sau:<br />
1/ Năm 1225,vua Trần Thái Tông định phép dùng tiền.1 quan bằng 10 tiền.1 tiền bằng 70 đồng.<br />
2/ Năm 1428 vua Lê Thái Tổ cho đúc tiền Thuận Thiên.1 quan bằng 10 tiền.1 tiền bằng 50 đồng.<br />
3/ Năm 1439,vua Lê Thái Tông quy định 1 quan bằng 10 tiền ,1 tiền bằng 60 đồng. <br />
Như vậy 1 quan=10 tiền=600 đồng.<br />
Từ đó các triều đại về sau,mỗi khi đúc một loại tiền mới đều theo tỷ lệ này,cho đến cuối triều Nguyễn năm 1945.Chỉ có tên đồng tiền là thay đổi theo tên hiệu.<br />
Năm 1905 ,chính quyền bảo hộ Bắc kỳ cho phát hành loại tiền đúc bằng hợp kim kẽm.Loại tiền này mặt trước in chữ Pháp,mặt sau ghi chữ Hán,có giá trị tương đương các loại tiền đồng như Gia Long Thông Bảo,Minh Mệnh Thông Bảo,Thiệu Trị Thông Bảo và Tự Đức Thông Bảo.<br />
Trong những đời vua sau của nhà Nguyễn còn có thêm hai đồng tiền khác là Khải Định Thông Bảo và Bảo Đại Thông Bảo,hai loại tiền này không đúc như những đồng tiền xưa mà được dập bằng máy dập nhập từ nước Pháp. <br />
Đến đây chắc chắn là bài toán ẩn bên trong bài ca dao đã giải được.Ghi lại như sau,bên phải là các phép tính đã giải.<br />
<br />
<font color=#0000CD>ĐI CHỢ TÍNH TIỀN<br />
Một quan tiền tốt mang đi, 600 <br />
Nàng mua những gì mà tính chẳng ra.<br />
Thoạt tiên mua ba tiền gà, 3x60 = 180<br />
Tiền rưỡi gạo nếp với ba đồng trầu. 60+30+3= 93<br />
Trở lại mua sáu đồng cau, = 6<br />
Tiền rưỡi miếng thịt,giá rau mười đồng. (1,5x60)+10 = 100<br />
Có gì mà tính chẳng thông?<br />
Tiền rưỡi gạo tẻ,sáu đồng chè tươi. 60+30+6 = 96<br />
Ba mươi, đồng rượu chàng ơi, = 30<br />
Ba mươi đồng mật,hai mươi đồng vàng. 30+20 = 50 <br />
Hai chén nước mắm rõ ràng,<br />
Hai bảy mười bốn,kẻo chàng hồ nghi. 2x7 = 14<br />
Hai mươi mốt đồng bột nấu chè, = 21<br />
Mười đồng nải chuối,chẵn thì một quan. = 10<br />
CỘNG = 600</font><br />
<br />
<br />
Trong sách QVGKT bên dưới bài học thuộc lòng này có 3 từ giải nghĩa,ghi nguyên văn như sau :"GIẢI NGHĨA.Tiền tốt=tiền tiêu được.Vàng=đồ làm bằng giấy cúng rồi đốt đi.Hồ nghi=ngờ vực,không biết rõ".<br />
Những giải nghĩa này chỉ để giải thích cho lớp học trò tóc còn để chỏm,dễ hiểu,dễ nhớ.Đi chợ tất phải đem theo tiền,tiền phải có giá trị trong mua bán... là chuyện đương nhiên. Nhưng sao gọi là tiền tốt?Một bài cao dao được lưu truyền,được in trong sách giáo khoa từ lúc ra đời (Bản in đầu tiên năm 1927) đến lúc cải tiến thay đổi,không lẽ vì bí vần mà viết vụng thế sao! Thế là người viết phải đi tìm tiếp.<br />
Có một giai thoại trong văn học về Bà Chúa thơ Nôm.Chuyện kể rằng Hồ Xuân Hương thiếu tiền bèn hỏi mượn của Chiêu Hổ 5 quan để tiêu tạm. Chiêu Hổ gởi tiền đến,đếm hoài vẫn chỉ thấy có 3 quan.Nữ sĩ bèn làm bài thơ trách người cho mượn tiền:<br />
Sao nói rằng năm chỉ có ba.<br />
Trách người quân tử hẹn sai ra.<br />
Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt.<br />
Nhớ hái cho xin nắm lá đa. <br />
<br />
Chiêu Hổ họa lại:<br />
Rằng gián thì năm,quý có ba.<br />
Bởi người thục nữ tính không ra.<br />
Ừ rồi thong thả lên chơi nguyệt.<br />
Cho cả cành đa lẫn củ đa.<br />
Trong bài họa của Chiêu Hổ có chữ gián và quý.Đây là cơ sở dẫn người viết đi tìm tiếp. Đã có công tất ...chồng không phụ,kết quả đã tìm được:<br />
Khoảng thế kỷ 18,dưới triều vua Minh Mạng có hai loại tiền lưu hành.Đó là tiền quý và tiền gián,tỷ lệ như sau: 1quan quý = 600đồng. 1 quan gián chỉ bằng 360 đồng.<br />
Khi hỏi mượn tiền ,Hồ Xuân Hương chỉ nói mượn 5 quan,không nói là quan gì.Gặp lúc Chiêu Hổ chắc cũng đang thiếu nên chỉ cho mượn số tiền thấp xuống,nhưng vẫn đủ 5 quan:<br />
Quan quý : 3x600 =1800 đồng<br />
1800<img src="https://lh3.googleusercontent.com/RCJakof2Coi0_aw6Oh1M7rU81Fb8Izm2vZsvTA-3HkE2=w16-h17-no" alt="3" title="3" class="smilie smilie_279" />60 = 5 quan gián<br />
<br />
Giá trị của các loại tiền xưa như thế nào?Đây là những số liệu về lương tiền dưới triều vua Minh Mạng. <br />
-Quan Nhất Phẩm lãnh mỗi năm 400 quan,300 phương gạo,70 quan tiền Xuân Phục,tức tiền áo quần.<br />
-Quan Chánh ngũ phẩm,hàng tri phủ mỗi năm lương 40 quan,43 phương gạo,9 quan tiền Xuân Phục.<br />
-Lính,thơ lại,phục dịch ...lương mỗi tháng 1quan,tiền,1 phương gạo.<br />
Đồng quan ngày xưa nó to thế.Chẳng trách người ta bỏ ...quan ra để mua phẩm hàm ,chức tước...để được làm quan!Chẳng trách người phụ nữ " thời xưa"(tên khác của bài thơ Trăng sáng vườn chè) quên cả thanh xuân,gác tạm những ẩn ức ,dồn nén để một ngày chồng vinh qui về làng...cùng nhau trãi trọn trong một đêm trăng!<br />
Qua những số liệu vừa tìm được,ta có thể thấy rõ bài ca dao "Đi chợ tính tiền" xuất hiện sớm nhất phải từ thời Minh Mạng.Bởi từ lúc này mới có "Một quan tiền TỐT"mang đi.Tiền tốt chính là tiền quý,phân biệt với tiền gián có giá trị thấp hơn. Cũng thấy được,người phụ nữ trong một buổi chợ quê đã tiêu số tiền bằng lương tháng một người lính.Nhà nàng chắc phải có chuyện quan hôn,kỵ giỗ chi đây!<br />
<br />
Thật thú vị,để giải bài toán ẩn bên trong bài ca dao,đã phải đi loanh quanh,lòng vòng.Gặp những bài thơ hay,giai thoại đẹp,biết thêm vài điều về lịch sử...Nếu không có Internet chắc gì người viết đã giải được bài toán ẩn bên trong bài ca dao cổ?Chỉ nghĩ đến kho sách phải lục tìm,những thư viện phải đi đến ...đã thấy chồn chân chẳng muốn leo !<br />
<br />
Sưu tầm Internet (cảm ơn tác giả)]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Trung Thần Cương _ Độc Đáo Một Bút Pháp]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1694.html</link>
			<pubDate>Thu, 26 Sep 2013 06:28:25 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=9">Ngạo</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1694.html</guid>
			<description><![CDATA[<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Lý ra tôi phải viết về anh sự nghiệp cũng như tình yêu của anh .Nhưng quí vị thấy đó, tôi chan hòa nước mắt khi viết chuyện này ..nên thôi đành bỏ lửng ai hiểu thì hiểu lấy thôi </span><br />
<br />
 1t2u3a4nlớn lên ở Nam Đàn _ Nghệ An tên thường gọi Bốn Lành ,nghệ danh Trung Thần Cương .Có lẽ do sinh trưởng ở vùng đất địa linh nhân kiệt nên anh rất trung kiên với tinh thần cách mạng  . Sau khi tốt nghiệp tú tài, anh đi dạy học tư và làm viên chức ở Đà Thành (.), sau đó ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn, là thành viên của Vòm Me  (1999–2001). Ông tốt nghiệp cử nhân Luật 2012 và làm trinh sát trưởng P16 một thời gian trước khi chuyển về ở Đà Nẵng làm thầy giáo.<br />
<br />
<br />
Bên cạnh sáng tác thơ, anh còn tham gia viết báo cho các tờ Ngày Nay và Tiên Phong. Anh là một trong những người sáng lập Đoàn báo chí Việt Nam, nay là Hội Nhà báo Việt Nam.(Tôi có xem thẻ còn thật giả tôi không phán định được.)<br />
<br />
Trong sự nghiệp sáng tác thơ văn của mình, 1t2u3a4n được biết đến như là một nhà thơ lãng mạn trữ tình, “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”, “ông hoàng của thơ tình”.<br />
(Không tin bạn cứ việc PM nàng Tiểu Chiêu sẽ rõ thôi .Tôi không nhắc nhiều đến nỗi đau của bản thân đâu nhé ..)<br />
<br />
<br />
1t2u3a4n là thành viên của Đê Tiện Hội  và cũng đã là một trong những chủ soái của phong trào “Thơ Chém”. Tác phẩm tiêu biểu của ông ở giai đoạn này: Khóc Chó, Mời Em, Chị Ngồi Đan Áo.<br />
<br />
Hai tập Khóc Chó và Chị Ngồi Đan Áo được giới Đê xem như là hai kiệt tác của anh, ca ngợi tình yêu và qua các chủ đề của tình yêu là ca ngợi sự sống, niềm vui và đam mê sống. Và ca ngợi tình yêu thì làm sao mà không ca ngợi tuổi trẻ, mùa xuân, ca ngợi thiên nhiên là tổ ấm và cái nôi của tình yêu. Và 1t2u3a4n cảm nhận sâu sắc đến đau đớn nỗi thời gian trôi chảy, sự mong manh của đời người cũng như lòng khát khao vĩnh cửu, tất cả đã được diễn tả bằng những câu thơ xúc động, có khi đậm đà triết lý nhân sinh.<br />
<br />
Năm 2013, 1t2u3a4n  tham gia phong trào Cách Mạng Đảng Đê. Sau đó anh hoạt động trong Hội Cứ Khổ Chị Em , làm chủ bút tạp chí Tâm Tình Phụ Nữ. <br />
1234 tham gia Ban chấp hành, nhiều năm là ủy viên thường vụ Hội Đá Đểu của cụ HVN khởi xướng.<br />
Từ đó, 1t2u3a4n trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu ca ngợi cách mạng, một “dòng thơ công dân”. Bút pháp của ông chuyển biến phong phú về giọng vẻ: có giọng trầm hùng, tráng ca, có giọng chính luận, giọng thơ tự sự trữ tình. Tiêu biểu là: Chuyện tình Mưa Ngâu , Đá Đểu Một Hành Trình.<br />
Là cây đại thụ của nền thi ca hiện đại Việt Nam cũng như TAL, 1234 đã sáng tác  khoảng 450 bài thơ , một số truyện ngắn, và nhiều bút ký, tiểu luận, phê bình văn học. Một số lớn này anh chưa công bố.<br />
<br />
Đây là tác phẩm tiêu biểu của anh.<br />
<br />
<span style="font-size: large;" class="mycode_size"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Chuyện người đan áo</span></span><br />
<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Trung Thần Cương</span></span><br />
<br />
Ngày thu nao bên cửa<br />
Nàng đan áo ngăn mùa<br />
Tay mềm gom hơi ấm<br />
Đợi chờ người phương xa<br />
<br />
Mười tâm tư mải miết<br />
Đêm thâu lại ngày dài<br />
Nhớ thương cài thương nhớ<br />
Áo thơm như bàn tay.<br />
<br />
Mi quầng khoe nét liễu<br />
Môi xinh nở đóa trà<br />
Một mảnh hoàng hôn rớt<br />
Thu tàn. Đông chớm qua.<br />
<br />
Người phương xa chưa lại<br />
Thơ thẩn nàng vào ra<br />
Mười búp son mải miết<br />
Thêu tình hay thêu hoa?<br />
<br />
Người phương xa chưa thấy<br />
Lạnh lùng nối lạnh lùng<br />
Từng cơn, từng cơn buốt<br />
Tàn đông, rồi tàn đông.<br />
<br />
Một chiều nào hanh nắng<br />
Tóc mây bung lược ngà<br />
Mười tâm tư lỗi nhịp<br />
Hồng nào rơi trên hoa<br />
<br />
Phải là người phương ấy<br />
Gõ nhịp trên đường xa?<br />
Mười búp son buông thõng<br />
Chỉ là lời du ca.<br />
<br />
Hồng nào rơi trên lá<br />
Hồng nào xuôi trên hoa?<br />
<br />
Gió đông thơm mùi áo<br />
Đông thơm mùi ngón tay<br />
Tôi là người du khách<br />
Gom nhặt mang về đây.<br />
-oOo-<br />
<br />
Người đàn bà xuân hoa dần tiều tụy theo bóng thời gian đổ, những ngón tay bật máu, và dường như cả nước mắt cũng mang màu máu ..đau đau một nỗi chờ trông ..Một người phụ nữ mang vẽ đẹp não nùng, nét đẹp rất riêng và rất buồn.<br />
Dòng đời cứ thế mà trôi..<br />
<br />
tiếc thay một đóa hoa trà <br />
tinh khôi sương sớm, phôi pha trời chiều <br />
âu là phận số dạt xiêu<br />
chỉ còn hương thoảng dặt dìu vấn vương..<br />
<br />
Những mũi đan như đâm vào lòng người thiếu phụ ..từng lần từng lần xé nát cả con tim..bạn hãy nhắm mắt lại và tận hưỡng những con chữ mà chỉ có anh ..Trung Thần Cương của TAL mới viết lên được mà thôi .!!!<br />
<br />
<br />
<br />
Tây Ngạo<br />
<br />
Còn tiếp ....]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Lý ra tôi phải viết về anh sự nghiệp cũng như tình yêu của anh .Nhưng quí vị thấy đó, tôi chan hòa nước mắt khi viết chuyện này ..nên thôi đành bỏ lửng ai hiểu thì hiểu lấy thôi </span><br />
<br />
 1t2u3a4nlớn lên ở Nam Đàn _ Nghệ An tên thường gọi Bốn Lành ,nghệ danh Trung Thần Cương .Có lẽ do sinh trưởng ở vùng đất địa linh nhân kiệt nên anh rất trung kiên với tinh thần cách mạng  . Sau khi tốt nghiệp tú tài, anh đi dạy học tư và làm viên chức ở Đà Thành (.), sau đó ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn, là thành viên của Vòm Me  (1999–2001). Ông tốt nghiệp cử nhân Luật 2012 và làm trinh sát trưởng P16 một thời gian trước khi chuyển về ở Đà Nẵng làm thầy giáo.<br />
<br />
<br />
Bên cạnh sáng tác thơ, anh còn tham gia viết báo cho các tờ Ngày Nay và Tiên Phong. Anh là một trong những người sáng lập Đoàn báo chí Việt Nam, nay là Hội Nhà báo Việt Nam.(Tôi có xem thẻ còn thật giả tôi không phán định được.)<br />
<br />
Trong sự nghiệp sáng tác thơ văn của mình, 1t2u3a4n được biết đến như là một nhà thơ lãng mạn trữ tình, “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”, “ông hoàng của thơ tình”.<br />
(Không tin bạn cứ việc PM nàng Tiểu Chiêu sẽ rõ thôi .Tôi không nhắc nhiều đến nỗi đau của bản thân đâu nhé ..)<br />
<br />
<br />
1t2u3a4n là thành viên của Đê Tiện Hội  và cũng đã là một trong những chủ soái của phong trào “Thơ Chém”. Tác phẩm tiêu biểu của ông ở giai đoạn này: Khóc Chó, Mời Em, Chị Ngồi Đan Áo.<br />
<br />
Hai tập Khóc Chó và Chị Ngồi Đan Áo được giới Đê xem như là hai kiệt tác của anh, ca ngợi tình yêu và qua các chủ đề của tình yêu là ca ngợi sự sống, niềm vui và đam mê sống. Và ca ngợi tình yêu thì làm sao mà không ca ngợi tuổi trẻ, mùa xuân, ca ngợi thiên nhiên là tổ ấm và cái nôi của tình yêu. Và 1t2u3a4n cảm nhận sâu sắc đến đau đớn nỗi thời gian trôi chảy, sự mong manh của đời người cũng như lòng khát khao vĩnh cửu, tất cả đã được diễn tả bằng những câu thơ xúc động, có khi đậm đà triết lý nhân sinh.<br />
<br />
Năm 2013, 1t2u3a4n  tham gia phong trào Cách Mạng Đảng Đê. Sau đó anh hoạt động trong Hội Cứ Khổ Chị Em , làm chủ bút tạp chí Tâm Tình Phụ Nữ. <br />
1234 tham gia Ban chấp hành, nhiều năm là ủy viên thường vụ Hội Đá Đểu của cụ HVN khởi xướng.<br />
Từ đó, 1t2u3a4n trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu ca ngợi cách mạng, một “dòng thơ công dân”. Bút pháp của ông chuyển biến phong phú về giọng vẻ: có giọng trầm hùng, tráng ca, có giọng chính luận, giọng thơ tự sự trữ tình. Tiêu biểu là: Chuyện tình Mưa Ngâu , Đá Đểu Một Hành Trình.<br />
Là cây đại thụ của nền thi ca hiện đại Việt Nam cũng như TAL, 1234 đã sáng tác  khoảng 450 bài thơ , một số truyện ngắn, và nhiều bút ký, tiểu luận, phê bình văn học. Một số lớn này anh chưa công bố.<br />
<br />
Đây là tác phẩm tiêu biểu của anh.<br />
<br />
<span style="font-size: large;" class="mycode_size"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Chuyện người đan áo</span></span><br />
<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Trung Thần Cương</span></span><br />
<br />
Ngày thu nao bên cửa<br />
Nàng đan áo ngăn mùa<br />
Tay mềm gom hơi ấm<br />
Đợi chờ người phương xa<br />
<br />
Mười tâm tư mải miết<br />
Đêm thâu lại ngày dài<br />
Nhớ thương cài thương nhớ<br />
Áo thơm như bàn tay.<br />
<br />
Mi quầng khoe nét liễu<br />
Môi xinh nở đóa trà<br />
Một mảnh hoàng hôn rớt<br />
Thu tàn. Đông chớm qua.<br />
<br />
Người phương xa chưa lại<br />
Thơ thẩn nàng vào ra<br />
Mười búp son mải miết<br />
Thêu tình hay thêu hoa?<br />
<br />
Người phương xa chưa thấy<br />
Lạnh lùng nối lạnh lùng<br />
Từng cơn, từng cơn buốt<br />
Tàn đông, rồi tàn đông.<br />
<br />
Một chiều nào hanh nắng<br />
Tóc mây bung lược ngà<br />
Mười tâm tư lỗi nhịp<br />
Hồng nào rơi trên hoa<br />
<br />
Phải là người phương ấy<br />
Gõ nhịp trên đường xa?<br />
Mười búp son buông thõng<br />
Chỉ là lời du ca.<br />
<br />
Hồng nào rơi trên lá<br />
Hồng nào xuôi trên hoa?<br />
<br />
Gió đông thơm mùi áo<br />
Đông thơm mùi ngón tay<br />
Tôi là người du khách<br />
Gom nhặt mang về đây.<br />
-oOo-<br />
<br />
Người đàn bà xuân hoa dần tiều tụy theo bóng thời gian đổ, những ngón tay bật máu, và dường như cả nước mắt cũng mang màu máu ..đau đau một nỗi chờ trông ..Một người phụ nữ mang vẽ đẹp não nùng, nét đẹp rất riêng và rất buồn.<br />
Dòng đời cứ thế mà trôi..<br />
<br />
tiếc thay một đóa hoa trà <br />
tinh khôi sương sớm, phôi pha trời chiều <br />
âu là phận số dạt xiêu<br />
chỉ còn hương thoảng dặt dìu vấn vương..<br />
<br />
Những mũi đan như đâm vào lòng người thiếu phụ ..từng lần từng lần xé nát cả con tim..bạn hãy nhắm mắt lại và tận hưỡng những con chữ mà chỉ có anh ..Trung Thần Cương của TAL mới viết lên được mà thôi .!!!<br />
<br />
<br />
<br />
Tây Ngạo<br />
<br />
Còn tiếp ....]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[TỐ NHIÊN _ MỘT CUỘC ĐỜI_MỘT TÌNH YÊU]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1690.html</link>
			<pubDate>Wed, 25 Sep 2013 01:15:15 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=9">Ngạo</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1690.html</guid>
			<description><![CDATA[Tố Nhiên, Cụ Hột ,hvn, Ngọc Tiêu Thần Thám, Chị Về Bến Cũ Mưa Sa , Huế Buồn Rồi Đừng Khóc nữa Em Ơi ..đó là những tên gọi,những cuộc đời trên giấy? .Những dòng chảy lãng đãng nổi trôi,hay tên gọi có thật trong  đời ?.<br />
<br />
<br />
 Và đó cũng chả có gì quan trọng bởi khi người đời biết đến những câu chuyện ấy  cũng là biết đến Hoàng Vỹ Nhiên..Một nhà phê bình  văn học danh tiếng, một nhà thơ Cách Mạng, một con người hào hoa và tài năng của vùng đất Mê Linh trỗi khởi ..<br />
<br />
<br />
Chân dung của Hoàng Vỹ Nhiên có thể ví như một đại diện cho nền văn hóa TAL và rộng hơn là nước nhà và thế giới.<br />
Ở ông ta phát hiện nét vừa trẻ trung,vừa cổ kính, vừa hóm hỉnh, giễu cợt, xen lẫn cái chua chát của sự đời đen bạc ..Đọc văn của ông xong  chúng ta cảm giác đang soi tấm gương vào thực trạng xã hội với triết lý nhân sinh.<br />
<br />
Sinh ngày …Tháng …Năm .Tại Làng Lạc Quần..Xã Hành Quần ,Huyện Tiên Quần _Vũng Cố .Mê Linh.<br />
Hoàng Vỹ Nhiên lớn lên trong một gia đình nhà nho,vào thời điểm ấy tầm ảnh hưởng của triết lý Nho học dần tàn lụi.Phải chăng vì thế mà vào thời điểm Ngũ đại thi nhân chưa ai biết đến là ai.Ông đã có cái nhìn chuẩn mực và phóng khoáng,tuy nhiên vẫn rất thâm trầm nho nhã còn gọi là Thâm Nho.Ông đã viết bài luận để đời.Và từ đó trên nền trời TAL có 5 ngôi sao rực sáng...<br />
<br />
<br />
<br />
Và cả khi Ngũ đại Thi Nhân đàn áp Phó Rùm , gần như một chế độ thực dân, một chế độ tàn sát phụ nữ..hàng loạt tên tuổi nữ thi nhân chịu không nổi kềm xiết đã ra đi ..có thể là mãi mãi cũng có thể đang núp trong lùm, hoặc coi cọp từ ngoài vào ..Dẫu sao thời điểm ấy Điềm Nhi, Đông Nhi, Tiểu Tử, Café Vỉa Hè, Thiên Nhai,Minh Thy..và cả Lãng , Hà Miên đã là nạn nhân ..máu họ đã đổ  vì Ngũ Đại.<br />
Khi đó ông vẫn một mực liên lạc , một mực chăm sóc trìu mến, ve vuốt những số phận bi ai , rủ rỉ tâm tình , trau chuốt vầng nguyệt đôi ..nhưng hoài công vô ích ../Họ đã đi và họ đã xa..xa lắm .Thất vọng lắm , suy nghĩ lung lắm để rồi ông phán :<br />
<br />
<br />
_ Ngũ Đại Thi Nhân sáng tài là vì ông phát hiện. ..Và cũng những tài năng này đã giết chết tâm hồn ông..Đã thế Ông theo Cách Mạng cho biết tay.<br />
<br />
<br />
Nỗi lòng của người chiến sĩ  Thâm Nho vẫn đau đáu ngày đêm với các vấn đề biện chứng, duy vật vã, và duy tâm ngã một cách triệt để .Ông dồn hết tâm lực vào đào tạo lớp trẻ.Trước là Lan Phương sau là Hương Nhu.Sau là Tử Diệp Nguyệt, Kind, Tee, Bỏng Ngô, Băng Phong (dù có thu tiền cắt cổ, nhưng xứng đáng từng chữ ).Đồn tai truyền miệng thế nào mà bọn ác ý đồn thổi là ông bị bất lực và sợ đàn bà.!?<br />
<br />
<br />
<br />
Hoàng Vỹ Nhiên vẫn trung thành với những nguyên tắc của cuộc đời mình .Ông ăn rau luộc, trứng luộc, thịt luộc và tất thảy lạt. Vì với ông Thuốc Lá Đắng, Trà Ngọt, và phụ nữ là Chị.<br />
<br />
<br />
Thế đấy..cho đến một ngày ..Con Sông Thạch Hãn  hung dữ bỗng dưng dâng đầy chất thục nữ yểu điểu của người con gái Kinh Bắc và đẫm chất đa tình sốc nổi của vùng đất Đông Nam Bộ. Hoàng Vỹ Nhiên vẫn thừa khôn khéo và gan dạ vượt qua tất thảy Ngũ Đại Thi Nhân và độc chiếm Ấy Ơi .<br />
<br />
<br />
<br />
Sự thật hiển nhiên làm cho người ta có cảm giác thời gian qua  như một sự sắp đặt của tạo hóa trớ trêu.<br />
Kẻ dùng tiền , kẻ dụng tài, kẻ dụng mẽ , tất thảy đều bại dưới sự nhỏ nhẹ..chân chất ..nhưng cũng không kém bi kịch .Bi kịch diễm tình!!!<br />
<br />
<br />
Cũng có thể,thiên nhiên đã thấm vào con người của ông..tình yêu cách mạng đã đi sau trong tiềm thức.và thế là bầu trời Thi Ẩm lại sản sinh ra một nhà giáo, một trụ cột cách mạng, và một nghệ sỹ nhân dân .Và một’’ ấy ơi’’ trong trắng !<br />
<br />
Vâng , với sự thán phục tự đáy lòng Tây Ngạo ta đành thức đêm thức hôm, gõ máy đến sưng cả tay chỉ để viếc về ông .<br />
<br />
 Hoàng Vỹ Nhiên bất diệt .(Tiền)<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Tây Ngạo Kính Phiếm</span>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Tố Nhiên, Cụ Hột ,hvn, Ngọc Tiêu Thần Thám, Chị Về Bến Cũ Mưa Sa , Huế Buồn Rồi Đừng Khóc nữa Em Ơi ..đó là những tên gọi,những cuộc đời trên giấy? .Những dòng chảy lãng đãng nổi trôi,hay tên gọi có thật trong  đời ?.<br />
<br />
<br />
 Và đó cũng chả có gì quan trọng bởi khi người đời biết đến những câu chuyện ấy  cũng là biết đến Hoàng Vỹ Nhiên..Một nhà phê bình  văn học danh tiếng, một nhà thơ Cách Mạng, một con người hào hoa và tài năng của vùng đất Mê Linh trỗi khởi ..<br />
<br />
<br />
Chân dung của Hoàng Vỹ Nhiên có thể ví như một đại diện cho nền văn hóa TAL và rộng hơn là nước nhà và thế giới.<br />
Ở ông ta phát hiện nét vừa trẻ trung,vừa cổ kính, vừa hóm hỉnh, giễu cợt, xen lẫn cái chua chát của sự đời đen bạc ..Đọc văn của ông xong  chúng ta cảm giác đang soi tấm gương vào thực trạng xã hội với triết lý nhân sinh.<br />
<br />
Sinh ngày …Tháng …Năm .Tại Làng Lạc Quần..Xã Hành Quần ,Huyện Tiên Quần _Vũng Cố .Mê Linh.<br />
Hoàng Vỹ Nhiên lớn lên trong một gia đình nhà nho,vào thời điểm ấy tầm ảnh hưởng của triết lý Nho học dần tàn lụi.Phải chăng vì thế mà vào thời điểm Ngũ đại thi nhân chưa ai biết đến là ai.Ông đã có cái nhìn chuẩn mực và phóng khoáng,tuy nhiên vẫn rất thâm trầm nho nhã còn gọi là Thâm Nho.Ông đã viết bài luận để đời.Và từ đó trên nền trời TAL có 5 ngôi sao rực sáng...<br />
<br />
<br />
<br />
Và cả khi Ngũ đại Thi Nhân đàn áp Phó Rùm , gần như một chế độ thực dân, một chế độ tàn sát phụ nữ..hàng loạt tên tuổi nữ thi nhân chịu không nổi kềm xiết đã ra đi ..có thể là mãi mãi cũng có thể đang núp trong lùm, hoặc coi cọp từ ngoài vào ..Dẫu sao thời điểm ấy Điềm Nhi, Đông Nhi, Tiểu Tử, Café Vỉa Hè, Thiên Nhai,Minh Thy..và cả Lãng , Hà Miên đã là nạn nhân ..máu họ đã đổ  vì Ngũ Đại.<br />
Khi đó ông vẫn một mực liên lạc , một mực chăm sóc trìu mến, ve vuốt những số phận bi ai , rủ rỉ tâm tình , trau chuốt vầng nguyệt đôi ..nhưng hoài công vô ích ../Họ đã đi và họ đã xa..xa lắm .Thất vọng lắm , suy nghĩ lung lắm để rồi ông phán :<br />
<br />
<br />
_ Ngũ Đại Thi Nhân sáng tài là vì ông phát hiện. ..Và cũng những tài năng này đã giết chết tâm hồn ông..Đã thế Ông theo Cách Mạng cho biết tay.<br />
<br />
<br />
Nỗi lòng của người chiến sĩ  Thâm Nho vẫn đau đáu ngày đêm với các vấn đề biện chứng, duy vật vã, và duy tâm ngã một cách triệt để .Ông dồn hết tâm lực vào đào tạo lớp trẻ.Trước là Lan Phương sau là Hương Nhu.Sau là Tử Diệp Nguyệt, Kind, Tee, Bỏng Ngô, Băng Phong (dù có thu tiền cắt cổ, nhưng xứng đáng từng chữ ).Đồn tai truyền miệng thế nào mà bọn ác ý đồn thổi là ông bị bất lực và sợ đàn bà.!?<br />
<br />
<br />
<br />
Hoàng Vỹ Nhiên vẫn trung thành với những nguyên tắc của cuộc đời mình .Ông ăn rau luộc, trứng luộc, thịt luộc và tất thảy lạt. Vì với ông Thuốc Lá Đắng, Trà Ngọt, và phụ nữ là Chị.<br />
<br />
<br />
Thế đấy..cho đến một ngày ..Con Sông Thạch Hãn  hung dữ bỗng dưng dâng đầy chất thục nữ yểu điểu của người con gái Kinh Bắc và đẫm chất đa tình sốc nổi của vùng đất Đông Nam Bộ. Hoàng Vỹ Nhiên vẫn thừa khôn khéo và gan dạ vượt qua tất thảy Ngũ Đại Thi Nhân và độc chiếm Ấy Ơi .<br />
<br />
<br />
<br />
Sự thật hiển nhiên làm cho người ta có cảm giác thời gian qua  như một sự sắp đặt của tạo hóa trớ trêu.<br />
Kẻ dùng tiền , kẻ dụng tài, kẻ dụng mẽ , tất thảy đều bại dưới sự nhỏ nhẹ..chân chất ..nhưng cũng không kém bi kịch .Bi kịch diễm tình!!!<br />
<br />
<br />
Cũng có thể,thiên nhiên đã thấm vào con người của ông..tình yêu cách mạng đã đi sau trong tiềm thức.và thế là bầu trời Thi Ẩm lại sản sinh ra một nhà giáo, một trụ cột cách mạng, và một nghệ sỹ nhân dân .Và một’’ ấy ơi’’ trong trắng !<br />
<br />
Vâng , với sự thán phục tự đáy lòng Tây Ngạo ta đành thức đêm thức hôm, gõ máy đến sưng cả tay chỉ để viếc về ông .<br />
<br />
 Hoàng Vỹ Nhiên bất diệt .(Tiền)<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Tây Ngạo Kính Phiếm</span>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Tào Lao về Một Cái Hồ]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1681.html</link>
			<pubDate>Sun, 22 Sep 2013 05:11:10 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=9">Ngạo</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1681.html</guid>
			<description><![CDATA[Trong cuộc sống thường nhật với biết bao bề bộn và lo toan , biết bao là sầu muộn.Nó nhuốm lên tâm hồn con người những vết sẹo bi ai.Nhưng nơi tận sâu trong mỗi con người lại có một chốn bình yên.Một nơi thanh thản để mỗi khi đến đó, tưởng về nó lại thấy thanh thản và bình yên.Bình yên như trờ về với vòng tay của người mẹ bao dung.<br />
<br />
Có người thì đau đáu một nỗi niềm với một dòng sông, có kẻ là trời,là biển, là hoàng hôn, bình minh.Còn với tôi đó là Bờ Hồ cái tên gọi dân dã của Hồ Xuân Hương.<br />
<br />
<br />
<img src="http://yatlat.com/cam-nang-du-lich/wp-content/uploads/2013/08/Ho-Xuan-Huong-diem-di-du-lich-Da-Lat-1.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: Ho-Xuan-Huong-diem-di-du-lich-Da-Lat-1.jpg]" class="mycode_img" /><br />
<br />
<br />
<br />
Trích Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:<br />
Hồ Xuân Hương nguyên là thung lũng có dòng suối Cam Ly chảy qua, nơi quần tụ của các cư dân Lạch buổi ban đầu. [cần dẫn nguồn] Năm 1919, từ sáng kiến của viên công sứ Cunhac, kỹ sư công chánh Labbé đã tiến hành việc ngăn dòng suối làm thành hồ. Năm 1923, chính quyến đương thời lại cho xây thêm một đập phía dưới tạo thành 2 hồ. Tháng 3 năm 1932, một cơn bão lớn làm cả hai đập bị vỡ. Năm 1934 - 1935, kỹ sư Trần Đăng Khoa lại thiết kế, xây dựng một đập lớn bằng đá: đó là cầu ông Đạo ngày nay. Người Pháp đặt tên là Grand Lac (Hồ Lớn).<br />
<br />
Đập này nằm trước Dinh Quản Đạo mà vị Quản đạo bấy giờ là Phạm Khắc Hòe vẫn được dân địa phương xưng gọi "ông Đạo" nên khi đập cũng là cầu xây xong, người dân quen gọi là "Cầu Ông Đạo". Năm 1953, Nguyễn Vỹ, chủ tịch hội đồng thị xã, đề nghị đổi tên Grand Lac thành Hồ Xuân Hương.<br />
<br />
<br />
Với tôi sự tích Hồ Xuân Hương lại như thế này.<br />
Một ngày nọ thiên binh say rượu đánh nhau như tôi với lão Lãnh , chủ yếu là chém gió chứ chả máu chảy đầu rơi gì đâu.Thế rồi nhở tay làm lạc một giọt rượu xuống trần gian ô trọc.Để rồi từ đó trên cao nguyên langbiang có một thắng cảnh tuyệt vời.<br />
Để tôi dắt các bạn đi chơi nhá !<br />
Thả chân mình xuống con dốc thoai thoải, một bên là vách đá tràn đầy những dương sỉ,hoa dại không tên và cả dã quì hoang dại cô liêu, một bên là những tàng cây Mai anh đào cỗi cành u tịch ..thoảng trong gió có chút trầm mặc của hơi nước từ mặt hồ lan tỏa ..Hết con dốc là hàng phượng tím, cái loài hoa chỉ có trên Đà Lạt .Rồi đó trước mắt bạn hiện lên một viên ngọc lung linh. Nước chen hoa, hoa chen lá, lá chen mây trời, và tất thảy in hình trên mặt hồ lăn tăn gợn sóng.<br />
<br />
<br />
  Hồ Xuân Hương như một cô gái lạnh lùng kiêu sa..Ít thân thiện , nàng đẹp , vâng rất đẹp nhưng chứa trong cái đẹp của nàng có cả những nỗi oan khuất của đời người.Khi tôi còn nhỏ ,cứ mỗi lần có người tự sát vì tình thì hết 99% là họ gieo mình xuống hồ..và cả khi không muốn tự sát thì người ta vẫn chết đứ đừ với dòng nước lãnh đạm vô tình.Bởi trong em chứa cả một dòng nước băng lạnh vắt ngang mình ..<br />
<br />
<br />
<img src="http://www.mykoolvietnam.vn/sites/default/files/pinPhotos/slide0112_image131.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: slide0112_image131.jpg]" class="mycode_img" /><br />
<br />
<br />
    Hồ Xuân Hương đôi khi lại tím mơ màng..mơ màng khi em khoát lên mình chiếc áo sương khói bãng lãng của buổi bình minh..sương khói lượn lờ trên mặt hồ, ảo ảnh và lung linh.Tôi từng thử ôm chầm em vào lòng lúc bốn giờ sáng,và kết quả cái gì teo được thì đã teo bằng hết cỡ, cái gì run được cũng run  tất thảy từng thớ, nói khí phải cả cái lưỡi cũng lạnh run lên.<br />
<br />
  Hồ Xuân hương của những ngày mưa phùn , gió bấc..Gió bạt xiêu vẹo của những quang gánh quà rong, đổ nghiêng cả xe đạp thồ rau quả. Em tôi cuồng nộ sóng ba đào, sóng phủ lên sóng,sóng gào lên sóng, từng ngọn sóng quất vào bờ đá, quất vào thinh không hòng giải thoát khỏi chốn trần tục để về với cõi tiên xa tít tắp<br />
<img src="http://yatlat.com/cam-nang-du-lich/wp-content/uploads/2013/08/Ho-Xuan-Huong-diem-di-du-lich-Da-Lat-4.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: Ho-Xuan-Huong-diem-di-du-lich-Da-Lat-4.jpg]" class="mycode_img" /><br />
<br />
<br />
  Hồ Xuân Hương lại như bà mẹ bao dung..ôm con vào lòng ..những đứa trẻ hư trốn học tắm truồng..Chứa cả những giọt nước mắt của trẻ mồ côi lang thang giữa đất trời..nó chỉ hòng kiếm cho mình sự an ủi..và thế là mẹ lại đu đưa hàng phi lao..ru nó vào quên lãng muộn phiền, xóa nhòa vết thương âm ỉ rỉ máu.<br />
<br />
<br />
<br />
<img src="http://1.bp.blogspot.com/-uqWTL34xz58/UE7NBHATKCI/AAAAAAAAADo/FJGUUdAEnpw/s1600/hoxuan+huong.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: hoxuan+huong.jpg]" class="mycode_img" /><br />
<br />
<br />
<br />
  Hồ Xuân Hương lại chứa đựng trong mình biết bao mối tình.Tôi thấy em cười đùa với họ dưới trăng, mơn man họ bên con Thiên Nga trắng..và em e thẹn nhắm mắt khi..họ hôn nhau..thì thầm với nhau những gì ngọt ngào nhất.<br />
<br />
Đến tối, em tôi lại lộng lẫy kiêu sa..sắc màu như cầu vồng,  ồn ả  là đấy nhưng em vẫn lạnh lùng , ẩn sâu lại có cái tình và cả sự mâu thuẩn giữa đẹp và xấu .Vô lý hả , không đâu!<br />
<br />
Này nhé..em đẹp quá nên các cặp tình nhân dựa vào em để tự tình, dựa vào em để mần mò nhau..để rồi tan vỡ cuộc tình , kẻ thì bầu bí, kẻ lại trốn xừ đi tít mù núi, tít mù khơi ..<br />
<br />
<img src="http://xomnhiepanh.com/uploads/gallery/2009/08/35344_1251372698.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: 35344_1251372698.jpg]" class="mycode_img" /><br />
<br />
<br />
Linh tinh lang tang tôi lại ghét kẻ phá em..có dạo em tôi khô cháy lòng, có dạo em tôi bị rêu tảo độc phủ..xanh rì và thum thủm ..thế lày là thế lào ..<br />
Tôi quá yêu em nên tôi cất em vào tâm tưởng, tôi sợ đối diện em lại mất đi hồi ức mong manh..hồi ức về Hồ Xuân Hương nguyên sơ hoang dại ..bừng lửa như cô gái dân tộc ..thả rông ngực , vô tư vác gùi đi trên phố.<br />
<br />
Em giờ quần lượt áo là và tôi..thằng nhóc con trót yêu em giờ đã tóc thay màu ..Thế đó em..nhưng tôi vẫn đáu đáu một cõi để đến rồi đi, để đi lại nhớ quay quắt , thắt cả lòng khi nhớ em.<br />
<br />
<br />
<br />
Ngạo <br />
<br />
12:10 PM 22/9/2013]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Trong cuộc sống thường nhật với biết bao bề bộn và lo toan , biết bao là sầu muộn.Nó nhuốm lên tâm hồn con người những vết sẹo bi ai.Nhưng nơi tận sâu trong mỗi con người lại có một chốn bình yên.Một nơi thanh thản để mỗi khi đến đó, tưởng về nó lại thấy thanh thản và bình yên.Bình yên như trờ về với vòng tay của người mẹ bao dung.<br />
<br />
Có người thì đau đáu một nỗi niềm với một dòng sông, có kẻ là trời,là biển, là hoàng hôn, bình minh.Còn với tôi đó là Bờ Hồ cái tên gọi dân dã của Hồ Xuân Hương.<br />
<br />
<br />
<img src="http://yatlat.com/cam-nang-du-lich/wp-content/uploads/2013/08/Ho-Xuan-Huong-diem-di-du-lich-Da-Lat-1.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: Ho-Xuan-Huong-diem-di-du-lich-Da-Lat-1.jpg]" class="mycode_img" /><br />
<br />
<br />
<br />
Trích Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:<br />
Hồ Xuân Hương nguyên là thung lũng có dòng suối Cam Ly chảy qua, nơi quần tụ của các cư dân Lạch buổi ban đầu. [cần dẫn nguồn] Năm 1919, từ sáng kiến của viên công sứ Cunhac, kỹ sư công chánh Labbé đã tiến hành việc ngăn dòng suối làm thành hồ. Năm 1923, chính quyến đương thời lại cho xây thêm một đập phía dưới tạo thành 2 hồ. Tháng 3 năm 1932, một cơn bão lớn làm cả hai đập bị vỡ. Năm 1934 - 1935, kỹ sư Trần Đăng Khoa lại thiết kế, xây dựng một đập lớn bằng đá: đó là cầu ông Đạo ngày nay. Người Pháp đặt tên là Grand Lac (Hồ Lớn).<br />
<br />
Đập này nằm trước Dinh Quản Đạo mà vị Quản đạo bấy giờ là Phạm Khắc Hòe vẫn được dân địa phương xưng gọi "ông Đạo" nên khi đập cũng là cầu xây xong, người dân quen gọi là "Cầu Ông Đạo". Năm 1953, Nguyễn Vỹ, chủ tịch hội đồng thị xã, đề nghị đổi tên Grand Lac thành Hồ Xuân Hương.<br />
<br />
<br />
Với tôi sự tích Hồ Xuân Hương lại như thế này.<br />
Một ngày nọ thiên binh say rượu đánh nhau như tôi với lão Lãnh , chủ yếu là chém gió chứ chả máu chảy đầu rơi gì đâu.Thế rồi nhở tay làm lạc một giọt rượu xuống trần gian ô trọc.Để rồi từ đó trên cao nguyên langbiang có một thắng cảnh tuyệt vời.<br />
Để tôi dắt các bạn đi chơi nhá !<br />
Thả chân mình xuống con dốc thoai thoải, một bên là vách đá tràn đầy những dương sỉ,hoa dại không tên và cả dã quì hoang dại cô liêu, một bên là những tàng cây Mai anh đào cỗi cành u tịch ..thoảng trong gió có chút trầm mặc của hơi nước từ mặt hồ lan tỏa ..Hết con dốc là hàng phượng tím, cái loài hoa chỉ có trên Đà Lạt .Rồi đó trước mắt bạn hiện lên một viên ngọc lung linh. Nước chen hoa, hoa chen lá, lá chen mây trời, và tất thảy in hình trên mặt hồ lăn tăn gợn sóng.<br />
<br />
<br />
  Hồ Xuân Hương như một cô gái lạnh lùng kiêu sa..Ít thân thiện , nàng đẹp , vâng rất đẹp nhưng chứa trong cái đẹp của nàng có cả những nỗi oan khuất của đời người.Khi tôi còn nhỏ ,cứ mỗi lần có người tự sát vì tình thì hết 99% là họ gieo mình xuống hồ..và cả khi không muốn tự sát thì người ta vẫn chết đứ đừ với dòng nước lãnh đạm vô tình.Bởi trong em chứa cả một dòng nước băng lạnh vắt ngang mình ..<br />
<br />
<br />
<img src="http://www.mykoolvietnam.vn/sites/default/files/pinPhotos/slide0112_image131.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: slide0112_image131.jpg]" class="mycode_img" /><br />
<br />
<br />
    Hồ Xuân Hương đôi khi lại tím mơ màng..mơ màng khi em khoát lên mình chiếc áo sương khói bãng lãng của buổi bình minh..sương khói lượn lờ trên mặt hồ, ảo ảnh và lung linh.Tôi từng thử ôm chầm em vào lòng lúc bốn giờ sáng,và kết quả cái gì teo được thì đã teo bằng hết cỡ, cái gì run được cũng run  tất thảy từng thớ, nói khí phải cả cái lưỡi cũng lạnh run lên.<br />
<br />
  Hồ Xuân hương của những ngày mưa phùn , gió bấc..Gió bạt xiêu vẹo của những quang gánh quà rong, đổ nghiêng cả xe đạp thồ rau quả. Em tôi cuồng nộ sóng ba đào, sóng phủ lên sóng,sóng gào lên sóng, từng ngọn sóng quất vào bờ đá, quất vào thinh không hòng giải thoát khỏi chốn trần tục để về với cõi tiên xa tít tắp<br />
<img src="http://yatlat.com/cam-nang-du-lich/wp-content/uploads/2013/08/Ho-Xuan-Huong-diem-di-du-lich-Da-Lat-4.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: Ho-Xuan-Huong-diem-di-du-lich-Da-Lat-4.jpg]" class="mycode_img" /><br />
<br />
<br />
  Hồ Xuân Hương lại như bà mẹ bao dung..ôm con vào lòng ..những đứa trẻ hư trốn học tắm truồng..Chứa cả những giọt nước mắt của trẻ mồ côi lang thang giữa đất trời..nó chỉ hòng kiếm cho mình sự an ủi..và thế là mẹ lại đu đưa hàng phi lao..ru nó vào quên lãng muộn phiền, xóa nhòa vết thương âm ỉ rỉ máu.<br />
<br />
<br />
<br />
<img src="http://1.bp.blogspot.com/-uqWTL34xz58/UE7NBHATKCI/AAAAAAAAADo/FJGUUdAEnpw/s1600/hoxuan+huong.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: hoxuan+huong.jpg]" class="mycode_img" /><br />
<br />
<br />
<br />
  Hồ Xuân Hương lại chứa đựng trong mình biết bao mối tình.Tôi thấy em cười đùa với họ dưới trăng, mơn man họ bên con Thiên Nga trắng..và em e thẹn nhắm mắt khi..họ hôn nhau..thì thầm với nhau những gì ngọt ngào nhất.<br />
<br />
Đến tối, em tôi lại lộng lẫy kiêu sa..sắc màu như cầu vồng,  ồn ả  là đấy nhưng em vẫn lạnh lùng , ẩn sâu lại có cái tình và cả sự mâu thuẩn giữa đẹp và xấu .Vô lý hả , không đâu!<br />
<br />
Này nhé..em đẹp quá nên các cặp tình nhân dựa vào em để tự tình, dựa vào em để mần mò nhau..để rồi tan vỡ cuộc tình , kẻ thì bầu bí, kẻ lại trốn xừ đi tít mù núi, tít mù khơi ..<br />
<br />
<img src="http://xomnhiepanh.com/uploads/gallery/2009/08/35344_1251372698.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: 35344_1251372698.jpg]" class="mycode_img" /><br />
<br />
<br />
Linh tinh lang tang tôi lại ghét kẻ phá em..có dạo em tôi khô cháy lòng, có dạo em tôi bị rêu tảo độc phủ..xanh rì và thum thủm ..thế lày là thế lào ..<br />
Tôi quá yêu em nên tôi cất em vào tâm tưởng, tôi sợ đối diện em lại mất đi hồi ức mong manh..hồi ức về Hồ Xuân Hương nguyên sơ hoang dại ..bừng lửa như cô gái dân tộc ..thả rông ngực , vô tư vác gùi đi trên phố.<br />
<br />
Em giờ quần lượt áo là và tôi..thằng nhóc con trót yêu em giờ đã tóc thay màu ..Thế đó em..nhưng tôi vẫn đáu đáu một cõi để đến rồi đi, để đi lại nhớ quay quắt , thắt cả lòng khi nhớ em.<br />
<br />
<br />
<br />
Ngạo <br />
<br />
12:10 PM 22/9/2013]]></content:encoded>
		</item>
	</channel>
</rss>