<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0" xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
	<channel>
		<title><![CDATA[Thi Ẩm Lâu - Tàng thư viện]]></title>
		<link>https://thiamlau.com/forum/</link>
		<description><![CDATA[Thi Ẩm Lâu - https://thiamlau.com/forum]]></description>
		<pubDate>Thu, 23 Apr 2026 21:35:41 +0000</pubDate>
		<generator>MyBB</generator>
		<item>
			<title><![CDATA[Truyện ma Nguyễn Ngọc Ngạn]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-2177.html</link>
			<pubDate>Mon, 24 Oct 2016 14:08:53 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=69">hvn</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-2177.html</guid>
			<description><![CDATA[Năm trước tôi có nghe thử một vài truyện ngắn của nhà văn <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Ng%E1%BB%8Dc_Ng%E1%BA%A1n" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Nguyễn Ngọc Ngạn</a>, thế là ghiền luôn. Ông này có một văn phong dí dỏm, độc đáo, hay đưa vào truyện những tình tiết sinh động, bất ngờ, lắm lúc khiến người nghe bật cười, rồi lại thảng thốt, như mình đã thấy chuyện tương tự diễn ra ở đâu đó, rất mới đây thôi, một thời không xa lắm.<br />
<br />
Hình mẫu nhân vật trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Ngạn khá đa dạng, có thể bắt gặp trong truyện của ông từ gã quân tử Tàu đến hạng ất ơ, từ mấy ông đạo mạo cổ xưa đến những tay ăn chơi hiện đại, có người hào phóng, có kẻ ti tiện, có người sang cả, có kẻ nhếch nhác lôi thôi... nhân vật nào cũng được tác giả khắc họa một cách khéo léo, tỉ mỉ qua hình dáng, điệu bộ, cách nói năng, ứng xử, và nhất là diễn biến nội tâm. Lắm lúc, ông đưa nhân vật của mình vào những tình thế éo le, dở khóc dở cười, để anh ta loay hoay tháo gỡ, cho đến khi mọi chuyện trở nên không thể cứu vãn. Và rồi trong cái tột cùng bi đát đó, bản chất thật của con người cứ thế tự nhiên hiển hiện rõ nét.<br />
<br />
Cách kết truyện của Nguyễn Ngọc Ngạn thường lửng lơ, dang dở, nửa vời, kết mà như chưa kết. Nhiều thính giả nghe xong truyện của ông cứ tức anh ách, chả biết rồi ra số phận của các nhân vật sẽ đi về đâu. <br />
<br />
Nguyễn Ngọc Ngạn thành công với 2 thể loại: truyện ma và truyện tâm lý xã hội. Thread này tôi sẽ chỉ giới thiệu các truyện ma, còn mảng tâm lý xã hội thì mọi người có thể tìm trên YouTube. Những tác phẩm dài sau đây tôi đã nghe và thấy khá hấp dẫn: <a href="https://www.youtube.com/watch?v=TVWApFFvKPE&amp;list=PL2jVs1a4jY4q6E8hRztvh8BKzBtRYfiBN" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Xóm đạo</a>, <a href="https://www.youtube.com/watch?v=5PbPXGvpNRM" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Dòng mực cũ</a>, <a href="https://www.youtube.com/watch?v=7CD4Dd0NLbY" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Đếm những mảnh tình</a>, <a href="https://www.youtube.com/watch?v=O0bELPcLa6g" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Casino</a>, <a href="https://www.youtube.com/watch?v=e8ZI1Gm-lqw" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Nhìn quanh một mình</a>, <a href="https://www.youtube.com/watch?v=j3rp2Y65-Pg" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Cõi đêm</a>, <a href="https://www.youtube.com/watch?v=DEJXLl-LXAc" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Việt kiều</a>.<br />
<br />
Văn chương Nguyễn Ngọc Ngạn đến với người thưởng thức theo một con đường mới mẻ: audio book. Giọng đọc truyền cảm của ông và các cộng sự góp phần không nhỏ vào thành công của các tác phẩm. Khỏi tốn tiền mua sách rồi căng mắt đọc. Bạn chỉ việc tải về, mỗi đêm trước khi đi ngủ thì mở ra nghe vài đoạn, như nghe truyện đêm khuya <img src="https://duytuan2002.github.io/mybbscr/1.gif" alt="happy" title="happy" class="smilie smilie_281" /><br />
<br />
Nay nhân lúc tối trời, mưa phùn gió bấc, mời các cụ và quý vị cửa đóng then cài, giăng mùng trải chiếu, tắt điện chùm chăn, nghe trước một truyện ma cho đỡ sợ  <img src="https://thiamlau.com/forum/../backlink/images/smilies/Zing/020.gif" alt="020" title="020" class="smilie smilie_123" /> <br />
<br />
<br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><img src="https://i.ytimg.com/vi/v7Lw40OX0So/hqdefault.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: hqdefault.jpg]" class="mycode_img" /></div>
<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-size: xx-large;" class="mycode_size">Cõi âm</span></span><br />
<br />
Giọng đọc: Nguyễn Ngọc Ngạn, Hồng Đào<br />
Nhân vật: Quán, Hà, Giang...<br />
Bối cảnh: nông thôn miền Bắc<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Tóm tắt nội dung: </span>Vợ chồng Quán - Hà sống trong ngôi nhà lớn của ông bà nội để lại ở làng Đông Lý. Lấy nhau đã nhiều năm mà chưa có con, một lần nọ, khi bán hàng ngoài chợ, Hà gặp một cô gái tên Giang ở làng Phùng lưu lạc ngang qua. Thấy Giang không tiền bạc, không nơi nương tựa, Hà mủi lòng thương bèn đưa về nhà cho ở lại, nhận làm em nuôi. Giang tuy là tiểu thư có chữ nghĩa, lại xinh đẹp, nhưng rất chăm chỉ làm lụng, ngày ngày thức khuya dậy sớm đỡ đần vợ chồng Hà rất nhiều việc. Họ yêu quý Giang, bàn tính gả cho cậu em... Nhưng rồi giữa Quán và Giang phát sinh tình cảm. Một lần họ lén lút vụng trộm với nhau, bị Hà bắt gặp...<br />
<br />
<br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><iframe width="560" height="315" src="//www.youtube-nocookie.com/embed/HmdnNgOasLM" frameborder="0" allowfullscreen="true"></iframe></div>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Năm trước tôi có nghe thử một vài truyện ngắn của nhà văn <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Ng%E1%BB%8Dc_Ng%E1%BA%A1n" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Nguyễn Ngọc Ngạn</a>, thế là ghiền luôn. Ông này có một văn phong dí dỏm, độc đáo, hay đưa vào truyện những tình tiết sinh động, bất ngờ, lắm lúc khiến người nghe bật cười, rồi lại thảng thốt, như mình đã thấy chuyện tương tự diễn ra ở đâu đó, rất mới đây thôi, một thời không xa lắm.<br />
<br />
Hình mẫu nhân vật trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Ngạn khá đa dạng, có thể bắt gặp trong truyện của ông từ gã quân tử Tàu đến hạng ất ơ, từ mấy ông đạo mạo cổ xưa đến những tay ăn chơi hiện đại, có người hào phóng, có kẻ ti tiện, có người sang cả, có kẻ nhếch nhác lôi thôi... nhân vật nào cũng được tác giả khắc họa một cách khéo léo, tỉ mỉ qua hình dáng, điệu bộ, cách nói năng, ứng xử, và nhất là diễn biến nội tâm. Lắm lúc, ông đưa nhân vật của mình vào những tình thế éo le, dở khóc dở cười, để anh ta loay hoay tháo gỡ, cho đến khi mọi chuyện trở nên không thể cứu vãn. Và rồi trong cái tột cùng bi đát đó, bản chất thật của con người cứ thế tự nhiên hiển hiện rõ nét.<br />
<br />
Cách kết truyện của Nguyễn Ngọc Ngạn thường lửng lơ, dang dở, nửa vời, kết mà như chưa kết. Nhiều thính giả nghe xong truyện của ông cứ tức anh ách, chả biết rồi ra số phận của các nhân vật sẽ đi về đâu. <br />
<br />
Nguyễn Ngọc Ngạn thành công với 2 thể loại: truyện ma và truyện tâm lý xã hội. Thread này tôi sẽ chỉ giới thiệu các truyện ma, còn mảng tâm lý xã hội thì mọi người có thể tìm trên YouTube. Những tác phẩm dài sau đây tôi đã nghe và thấy khá hấp dẫn: <a href="https://www.youtube.com/watch?v=TVWApFFvKPE&amp;list=PL2jVs1a4jY4q6E8hRztvh8BKzBtRYfiBN" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Xóm đạo</a>, <a href="https://www.youtube.com/watch?v=5PbPXGvpNRM" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Dòng mực cũ</a>, <a href="https://www.youtube.com/watch?v=7CD4Dd0NLbY" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Đếm những mảnh tình</a>, <a href="https://www.youtube.com/watch?v=O0bELPcLa6g" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Casino</a>, <a href="https://www.youtube.com/watch?v=e8ZI1Gm-lqw" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Nhìn quanh một mình</a>, <a href="https://www.youtube.com/watch?v=j3rp2Y65-Pg" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Cõi đêm</a>, <a href="https://www.youtube.com/watch?v=DEJXLl-LXAc" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Việt kiều</a>.<br />
<br />
Văn chương Nguyễn Ngọc Ngạn đến với người thưởng thức theo một con đường mới mẻ: audio book. Giọng đọc truyền cảm của ông và các cộng sự góp phần không nhỏ vào thành công của các tác phẩm. Khỏi tốn tiền mua sách rồi căng mắt đọc. Bạn chỉ việc tải về, mỗi đêm trước khi đi ngủ thì mở ra nghe vài đoạn, như nghe truyện đêm khuya <img src="https://duytuan2002.github.io/mybbscr/1.gif" alt="happy" title="happy" class="smilie smilie_281" /><br />
<br />
Nay nhân lúc tối trời, mưa phùn gió bấc, mời các cụ và quý vị cửa đóng then cài, giăng mùng trải chiếu, tắt điện chùm chăn, nghe trước một truyện ma cho đỡ sợ  <img src="https://thiamlau.com/forum/../backlink/images/smilies/Zing/020.gif" alt="020" title="020" class="smilie smilie_123" /> <br />
<br />
<br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><img src="https://i.ytimg.com/vi/v7Lw40OX0So/hqdefault.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: hqdefault.jpg]" class="mycode_img" /></div>
<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-size: xx-large;" class="mycode_size">Cõi âm</span></span><br />
<br />
Giọng đọc: Nguyễn Ngọc Ngạn, Hồng Đào<br />
Nhân vật: Quán, Hà, Giang...<br />
Bối cảnh: nông thôn miền Bắc<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Tóm tắt nội dung: </span>Vợ chồng Quán - Hà sống trong ngôi nhà lớn của ông bà nội để lại ở làng Đông Lý. Lấy nhau đã nhiều năm mà chưa có con, một lần nọ, khi bán hàng ngoài chợ, Hà gặp một cô gái tên Giang ở làng Phùng lưu lạc ngang qua. Thấy Giang không tiền bạc, không nơi nương tựa, Hà mủi lòng thương bèn đưa về nhà cho ở lại, nhận làm em nuôi. Giang tuy là tiểu thư có chữ nghĩa, lại xinh đẹp, nhưng rất chăm chỉ làm lụng, ngày ngày thức khuya dậy sớm đỡ đần vợ chồng Hà rất nhiều việc. Họ yêu quý Giang, bàn tính gả cho cậu em... Nhưng rồi giữa Quán và Giang phát sinh tình cảm. Một lần họ lén lút vụng trộm với nhau, bị Hà bắt gặp...<br />
<br />
<br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><iframe width="560" height="315" src="//www.youtube-nocookie.com/embed/HmdnNgOasLM" frameborder="0" allowfullscreen="true"></iframe></div>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Im lặng của Thiền sư]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1934.html</link>
			<pubDate>Thu, 17 Jul 2014 11:27:34 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=860">chikim</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1934.html</guid>
			<description><![CDATA[Truyện ngắn của Phan Trang Hy<br />
<br />
<br />
                 IM LẶNG CỦA THIỀN SƯ<br />
 <br />
1. Trời vần vũ. Bao tinh cầu xoay chuyển. Chỉ gió, chỉ tiếng gầm rú của chúng sinh. Không thể nhìn thấy mọi vật. Chỉ một màu đỏ ối trên trời. Mặt trăng biến thành quả cầu lửa.   <br />
Ađam lăn lộn trong cõi hỗn mang. Bỗng hai thằng người tách ra từ Ađam. Chúng cãi nhau giành phần thắng.<br />
Nhiều con thú cười nói như người. Rồi tất cả thú hóa người nhảy múa vui mừng tru lên những giai điệu cuồng mê trong cõi vô minh. Những gương mặt thú biến mất trong phép của quỷ thần tích tụ. Chỉ có người và người. <br />
- Hoan hô ! Hoan hô ! Đánh nữa đi !                                                   <br />
- Đả đảo ! Đả đảo !<br />
        Đám đông cuồng loạn. Vang trong cõi vô minh tiếng hò hét ầm ĩ điệu nhạc chiến tranh.<br />
Cung kính, Thanh Văn bạch :<br />
       - Thưa sư phụ ! Nếu dùng thần lực của con tính đếm trong nghìn kiếp mới có thể biết bọn họ làm gì.<br />
       Thiền sư bảo :<br />
       - Ông hãy tính đếm đi !<br />
       Nói xong, ngài nhắm nghiền mắt.<br />
<br />
3. Âm nhạc. Tiếng trống, tiếng thanh la, tiếng kèn đồng, tiếng tù và, tiếng đàn, tiếng sáo…Vũ điệu. Tango, chachacha, lambađa, hiphop…Ánh sáng. Xanh, đỏ, tím, vàng, đen…Tiếng la hét hòa nhịp nhàng với ngàn âm vũ điệu :<br />
       - Hãy lên án tên giết người!<br />
       - Hãy giết hết bọn khủng bố !<br />
        - Hãy bắt tên tội phạm chiến tranh!<br />
         - Giết nó đi để trừ hậu hoạn !  <br />
         - Hoan hô ! Phe ta đã thắng ! <br />
         - Đả đảo quân khát máu ! <br />
          Đám đông hò hét ủng hộ. Đám đông hò hét phản kháng. Hỗn loạn ! Hỗn độn cảnh hỗn chiến !<br />
          Thiền sư thiền định.<br />
                                                                         <br />
   4.   - Bạch sư phụ ! - Thanh Văn hốt hoảng gọi thiền sư.<br />
         - Gì thế ?  <br />
    - Thưa sư phụ ! Bọn người mê loạn trong cảnh đánh nhau.    <br />
    - Theo ông, chúng ta phải làm gì ? <br />
    - Theo con nghĩ chúng ta phải dùng phép màu tiêu diệt bọn họ.<br />
     Nụ cười hiền hậu nở trên môi, thiền sư ôn tồn nói :<br />
         - Đức háo sanh  là  căn nguyên  tạo nên trời đất, muôn vật. Kể cả tính   <br />
Phật cũng bởi đức háo sanh mà ra. Ta nhân danh Phật mà tru diệt chúng sinh ư ? Không ! Ta phải dùng pháp mà giải thoát chúng sinh.<br />
         - Thưa sư phụ ! Người dùng pháp gì ?  <br />
         Thiền sư im lặng.<br />
<br />
    5.  Eva múa khúc nghê thường. Nàng mơ màng hát khúc tình ca bất tử. Nàng trút bỏ xiêm y. Nàng khỏa thân khoe vẻ đẹp diệu kỳ của tạo hóa ban tặng.    <br />
          Những cô gái bắt chước Eva. <br />
          Eva cùng những cô gái xuân trẻ tắm mát cơ thể trong các dòng sông. Các cô khoe thân thể. Các cô đến giữa bầy người cuồng loạn.                        <br />
          Đám đông im bặt. Hai thằng người trở thành Ađam như lúc mới sinh. Bọn đàn ông làm theo Ađam.<br />
          Mặt trăng dịu dàng tỏa sáng.<br />
         - Bạch sư phụ ! - Thanh Văn mừng rỡ thưa - Chúng sinh chung sống hòa bình rồi!    <br />
          Thiền sư im lặng… <br />
 <br />
                                     Năm 1996 <br />
                                 Phan Trang Hy  <br />
<br />
Trích từ tập truyện NGƯỜI THẦY DẠY BÚP BÊ, Nxb Văn nghệ, 2009<br /><!-- start: postbit_attachments_attachment -->
<br /><!-- start: attachment_icon -->
<img src="https://thiamlau.com/forum/images/attachtypes/doc.gif" title="Microsoft Word Document" border="0" alt=".doc" />
<!-- end: attachment_icon -->&nbsp;&nbsp;<a href="attachment.php?aid=70" target="_blank" title="">Im lặng của thiền sư.doc</a> (Kích cỡ: 50.5 KB / Tải về: 37)
<!-- end: postbit_attachments_attachment -->]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Truyện ngắn của Phan Trang Hy<br />
<br />
<br />
                 IM LẶNG CỦA THIỀN SƯ<br />
 <br />
1. Trời vần vũ. Bao tinh cầu xoay chuyển. Chỉ gió, chỉ tiếng gầm rú của chúng sinh. Không thể nhìn thấy mọi vật. Chỉ một màu đỏ ối trên trời. Mặt trăng biến thành quả cầu lửa.   <br />
Ađam lăn lộn trong cõi hỗn mang. Bỗng hai thằng người tách ra từ Ađam. Chúng cãi nhau giành phần thắng.<br />
Nhiều con thú cười nói như người. Rồi tất cả thú hóa người nhảy múa vui mừng tru lên những giai điệu cuồng mê trong cõi vô minh. Những gương mặt thú biến mất trong phép của quỷ thần tích tụ. Chỉ có người và người. <br />
- Hoan hô ! Hoan hô ! Đánh nữa đi !                                                   <br />
- Đả đảo ! Đả đảo !<br />
        Đám đông cuồng loạn. Vang trong cõi vô minh tiếng hò hét ầm ĩ điệu nhạc chiến tranh.<br />
Cung kính, Thanh Văn bạch :<br />
       - Thưa sư phụ ! Nếu dùng thần lực của con tính đếm trong nghìn kiếp mới có thể biết bọn họ làm gì.<br />
       Thiền sư bảo :<br />
       - Ông hãy tính đếm đi !<br />
       Nói xong, ngài nhắm nghiền mắt.<br />
<br />
3. Âm nhạc. Tiếng trống, tiếng thanh la, tiếng kèn đồng, tiếng tù và, tiếng đàn, tiếng sáo…Vũ điệu. Tango, chachacha, lambađa, hiphop…Ánh sáng. Xanh, đỏ, tím, vàng, đen…Tiếng la hét hòa nhịp nhàng với ngàn âm vũ điệu :<br />
       - Hãy lên án tên giết người!<br />
       - Hãy giết hết bọn khủng bố !<br />
        - Hãy bắt tên tội phạm chiến tranh!<br />
         - Giết nó đi để trừ hậu hoạn !  <br />
         - Hoan hô ! Phe ta đã thắng ! <br />
         - Đả đảo quân khát máu ! <br />
          Đám đông hò hét ủng hộ. Đám đông hò hét phản kháng. Hỗn loạn ! Hỗn độn cảnh hỗn chiến !<br />
          Thiền sư thiền định.<br />
                                                                         <br />
   4.   - Bạch sư phụ ! - Thanh Văn hốt hoảng gọi thiền sư.<br />
         - Gì thế ?  <br />
    - Thưa sư phụ ! Bọn người mê loạn trong cảnh đánh nhau.    <br />
    - Theo ông, chúng ta phải làm gì ? <br />
    - Theo con nghĩ chúng ta phải dùng phép màu tiêu diệt bọn họ.<br />
     Nụ cười hiền hậu nở trên môi, thiền sư ôn tồn nói :<br />
         - Đức háo sanh  là  căn nguyên  tạo nên trời đất, muôn vật. Kể cả tính   <br />
Phật cũng bởi đức háo sanh mà ra. Ta nhân danh Phật mà tru diệt chúng sinh ư ? Không ! Ta phải dùng pháp mà giải thoát chúng sinh.<br />
         - Thưa sư phụ ! Người dùng pháp gì ?  <br />
         Thiền sư im lặng.<br />
<br />
    5.  Eva múa khúc nghê thường. Nàng mơ màng hát khúc tình ca bất tử. Nàng trút bỏ xiêm y. Nàng khỏa thân khoe vẻ đẹp diệu kỳ của tạo hóa ban tặng.    <br />
          Những cô gái bắt chước Eva. <br />
          Eva cùng những cô gái xuân trẻ tắm mát cơ thể trong các dòng sông. Các cô khoe thân thể. Các cô đến giữa bầy người cuồng loạn.                        <br />
          Đám đông im bặt. Hai thằng người trở thành Ađam như lúc mới sinh. Bọn đàn ông làm theo Ađam.<br />
          Mặt trăng dịu dàng tỏa sáng.<br />
         - Bạch sư phụ ! - Thanh Văn mừng rỡ thưa - Chúng sinh chung sống hòa bình rồi!    <br />
          Thiền sư im lặng… <br />
 <br />
                                     Năm 1996 <br />
                                 Phan Trang Hy  <br />
<br />
Trích từ tập truyện NGƯỜI THẦY DẠY BÚP BÊ, Nxb Văn nghệ, 2009<br /><!-- start: postbit_attachments_attachment -->
<br /><!-- start: attachment_icon -->
<img src="https://thiamlau.com/forum/images/attachtypes/doc.gif" title="Microsoft Word Document" border="0" alt=".doc" />
<!-- end: attachment_icon -->&nbsp;&nbsp;<a href="attachment.php?aid=70" target="_blank" title="">Im lặng của thiền sư.doc</a> (Kích cỡ: 50.5 KB / Tải về: 37)
<!-- end: postbit_attachments_attachment -->]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Một thoáng tình cờ]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1933.html</link>
			<pubDate>Thu, 17 Jul 2014 11:26:08 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=860">chikim</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1933.html</guid>
			<description><![CDATA[Truyện ngắn của Phan Trang Hy<br />
 <br />
                      MỘT THOÁNG TÌNH CỜ	<br />
 <br />
     Rộn ràng ngày hội. Ánh sáng thiên diệu trải khắp mọi nơi. Thiện nam tín nữ dập dìu du xuân. Từng đôi nam thanh nữ tú hòa vào cảnh trời xuân. Từng gương mặt sáng , từng tiếng chào, từng nụ cười tươi. Lòng người hớn hở. Tất cả trải lòng chào đón cảnh sắc thiên nhiên. Và  tôi cũng hòa vào trong không gian - thời gian của lễ hội.<br />
       Lòng tôi có tiếng reo vui. Tôi như thấy mọi người ai cũng làm ra vẻ quan trọng, làm như chỉ có mình mới làm cho lễ hội thêm phần rộn rịp. Chung quanh tôi đủ âm thanh. Nào là âm của đôi trai gái rủ rỉ nói tiếng yêu ; nào là âm của những người bán hàng đang chèo kéo khách; nào là tiếng nhạc điện thoại, tiếng gọi điện thoại lấn át cả tiếng mõ, tiếng chuông, tiếng khánh ; nào là tiếng kêu cứu của ai đó đang bị trộm cướp…Tôi tiếp nhận những âm thanh đó như thể rằng mình đang bị tra tấn. Bỗng bên tai tôi có tiếng gọi ngọt ngào. Tôi quay lại nhìn. Ồ thì ra là nàng…<br />
       Nàng là bạn học cũ của tôi từ thời trung học. Một thời nàng là đối tượng để các cậu học trò như tôi thành thi sĩ. Lại hiện về trong tôi những lời lẽ ngây ngô, những cử chỉ vụng dại của thời traỉ trẻ…Tôi như đang thẫn thờ ngồi trên bàn học nhìn nàng. Mái tóc nè ! Cổ nè ! Cả tà áo dài trắng của nàng nữa ! Và lời hát của những bản tình ca thời tiền chiến. Ôi, quả là dịu ngọt !<br />
       Mới như hôm qua ! Nàng và tôi xa nhau không biết là cái cớ gì ? Mới thôi, mới như tôi vừa ngủ dậy mở mắt nhìn mặt trời lên, mở mắt nhìn trăng hiển hiện ; mới như tôi vừa nghe xong một giai điệu giao hưởng, vừa nghe tiếng kinh cầu. Sao thời gian nhanh thế ? Quá nhanh như những dự tính của con người chẳng thể làm xong khi  tóc bắt đầu điểm bạc.<br />
       Nàng nhìn tôi cười, tôi cũng nhìn nàng và cười. Chúng tôi không biết nói gì. Nói lại chuyện xưa ư ? Cả hai đều biết cả rồi mà ! Nói chuyện nay ư ? Cả hai đều có chuyện riêng của đời mình, nhưng không gian này, thời gian này làm sao chúng tôi nói cho hết được.<br />
       Một sự ngẫu nhiên và định mệnh nào đó cho chúng tôi gặp nhau ? Cuối cùng, tôi chỉ khẽ hỏi : “Bây giờ, bạn thế nào ?” Nàng cười: “Còn anh ?”…Và rồi cả hai chúng tôi như trẻ nhỏ cười vô tư giữa ngày hội : “Chúng ta còn độc thân !”<br />
       Chúng tôi vào lễ Phật. Tôi quỳ chắp tay nguyện cầu cho quốc thái dân an. Tôi khấn cho tôi có vợ. Nàng cũng đang quỳ bên tôi. Tôi không biết nàng thầm khấn những gì. Tất cả mùi hương âm sắc ở đây đều toát lên sự trầm mặc, uy nghiêm…Tôi vẫn cứ quỳ và chắp tay trước ngực. Mắt tôi nhắm…Tôi mường tượng Đức Phật trên đài sen. Người trầm mặc, tĩnh lự trước lời khẩn cầu của tôi.<br />
       Đức Phật trên đài sen như đang biến hóa trong tâm tưởng tôi. Lúc là tôi. Lúc là nàng. Lúc là này. Lúc là nọ…Và cuối cùng tôi như thấy chính tôi…Tôi mở mắt.<br />
        Đức Phật trên đài sen vẫn tĩnh lự. Nàng không còn bên tôi. Chỉ còn tôi ! <br />
                                    		<br />
                 Phan Trang Hy	<br />
Trích từ tập truyện Người Thầy Dạy Búp Bê, Nxb Văn nghệ, 2009<br /><!-- start: postbit_attachments_attachment -->
<br /><!-- start: attachment_icon -->
<img src="https://thiamlau.com/forum/images/attachtypes/doc.gif" title="Microsoft Word Document" border="0" alt=".doc" />
<!-- end: attachment_icon -->&nbsp;&nbsp;<a href="attachment.php?aid=69" target="_blank" title="">Một thoáng tình cờ.doc</a> (Kích cỡ: 34.5 KB / Tải về: 32)
<!-- end: postbit_attachments_attachment -->]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Truyện ngắn của Phan Trang Hy<br />
 <br />
                      MỘT THOÁNG TÌNH CỜ	<br />
 <br />
     Rộn ràng ngày hội. Ánh sáng thiên diệu trải khắp mọi nơi. Thiện nam tín nữ dập dìu du xuân. Từng đôi nam thanh nữ tú hòa vào cảnh trời xuân. Từng gương mặt sáng , từng tiếng chào, từng nụ cười tươi. Lòng người hớn hở. Tất cả trải lòng chào đón cảnh sắc thiên nhiên. Và  tôi cũng hòa vào trong không gian - thời gian của lễ hội.<br />
       Lòng tôi có tiếng reo vui. Tôi như thấy mọi người ai cũng làm ra vẻ quan trọng, làm như chỉ có mình mới làm cho lễ hội thêm phần rộn rịp. Chung quanh tôi đủ âm thanh. Nào là âm của đôi trai gái rủ rỉ nói tiếng yêu ; nào là âm của những người bán hàng đang chèo kéo khách; nào là tiếng nhạc điện thoại, tiếng gọi điện thoại lấn át cả tiếng mõ, tiếng chuông, tiếng khánh ; nào là tiếng kêu cứu của ai đó đang bị trộm cướp…Tôi tiếp nhận những âm thanh đó như thể rằng mình đang bị tra tấn. Bỗng bên tai tôi có tiếng gọi ngọt ngào. Tôi quay lại nhìn. Ồ thì ra là nàng…<br />
       Nàng là bạn học cũ của tôi từ thời trung học. Một thời nàng là đối tượng để các cậu học trò như tôi thành thi sĩ. Lại hiện về trong tôi những lời lẽ ngây ngô, những cử chỉ vụng dại của thời traỉ trẻ…Tôi như đang thẫn thờ ngồi trên bàn học nhìn nàng. Mái tóc nè ! Cổ nè ! Cả tà áo dài trắng của nàng nữa ! Và lời hát của những bản tình ca thời tiền chiến. Ôi, quả là dịu ngọt !<br />
       Mới như hôm qua ! Nàng và tôi xa nhau không biết là cái cớ gì ? Mới thôi, mới như tôi vừa ngủ dậy mở mắt nhìn mặt trời lên, mở mắt nhìn trăng hiển hiện ; mới như tôi vừa nghe xong một giai điệu giao hưởng, vừa nghe tiếng kinh cầu. Sao thời gian nhanh thế ? Quá nhanh như những dự tính của con người chẳng thể làm xong khi  tóc bắt đầu điểm bạc.<br />
       Nàng nhìn tôi cười, tôi cũng nhìn nàng và cười. Chúng tôi không biết nói gì. Nói lại chuyện xưa ư ? Cả hai đều biết cả rồi mà ! Nói chuyện nay ư ? Cả hai đều có chuyện riêng của đời mình, nhưng không gian này, thời gian này làm sao chúng tôi nói cho hết được.<br />
       Một sự ngẫu nhiên và định mệnh nào đó cho chúng tôi gặp nhau ? Cuối cùng, tôi chỉ khẽ hỏi : “Bây giờ, bạn thế nào ?” Nàng cười: “Còn anh ?”…Và rồi cả hai chúng tôi như trẻ nhỏ cười vô tư giữa ngày hội : “Chúng ta còn độc thân !”<br />
       Chúng tôi vào lễ Phật. Tôi quỳ chắp tay nguyện cầu cho quốc thái dân an. Tôi khấn cho tôi có vợ. Nàng cũng đang quỳ bên tôi. Tôi không biết nàng thầm khấn những gì. Tất cả mùi hương âm sắc ở đây đều toát lên sự trầm mặc, uy nghiêm…Tôi vẫn cứ quỳ và chắp tay trước ngực. Mắt tôi nhắm…Tôi mường tượng Đức Phật trên đài sen. Người trầm mặc, tĩnh lự trước lời khẩn cầu của tôi.<br />
       Đức Phật trên đài sen như đang biến hóa trong tâm tưởng tôi. Lúc là tôi. Lúc là nàng. Lúc là này. Lúc là nọ…Và cuối cùng tôi như thấy chính tôi…Tôi mở mắt.<br />
        Đức Phật trên đài sen vẫn tĩnh lự. Nàng không còn bên tôi. Chỉ còn tôi ! <br />
                                    		<br />
                 Phan Trang Hy	<br />
Trích từ tập truyện Người Thầy Dạy Búp Bê, Nxb Văn nghệ, 2009<br /><!-- start: postbit_attachments_attachment -->
<br /><!-- start: attachment_icon -->
<img src="https://thiamlau.com/forum/images/attachtypes/doc.gif" title="Microsoft Word Document" border="0" alt=".doc" />
<!-- end: attachment_icon -->&nbsp;&nbsp;<a href="attachment.php?aid=69" target="_blank" title="">Một thoáng tình cờ.doc</a> (Kích cỡ: 34.5 KB / Tải về: 32)
<!-- end: postbit_attachments_attachment -->]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Lãng tử hồi đầu.]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1926.html</link>
			<pubDate>Fri, 20 Jun 2014 13:51:03 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=13">1t2u3a4n</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1926.html</guid>
			<description><![CDATA[<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Đìu, char. VLTK TTTH đợt này hên ghê. Tính sơ ổng cũng lụm được 3 cuốn bí kíp, 1 phi tiêu hnl, một THBT, 1 TTT, 1 dc KTC (chưa kịp nhìn mặt em nó đã bị vợ thẳng tay phi shop thần chưởng). <br />
<br />
Tiền trong rương cứ đầy lên, tiền ở ngoài cạn dần đi và độ tự kỷ ngày một cao lên, đó là VLTK .<br />
<br />
Thông thường, người ta đọc truyện đôi khi có giật mình vì những nét tương đồng giữa nhân vật và bản thân. Song họ luôn có một lập luận, một lý do chính đáng nào đó để chống chế. Tỉ như truyện này, thể nào cũng có người nghĩ: mình chẳng bao giờ như thế. Song chỉ cần bạn ham mê quên gọi một cuộc điện thoại, không chat chit với một người bạn thân.. thì nó cũng mang tính biểu hiện tương tự như Vũ Dương trong truyện mà thôi.</span><br />
<br />
<span style="font-size: x-large;" class="mycode_size"><font color=#0000CD>LÃNG TỬ HỒI ĐẦU</font></span><br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">(TÁC GIẢ: MADCAT)</span></span><br />
<br />
Vũ Dương, quê ở Ái Châu, từ nhỏ đã thông minh nổi tiếng trong làng. Lên 2 tuổi biết nhận mặt bảng chữ cái, lên 3 tuổi biết ghép vần, 4 tuổi đọc thông viết thạo. Đi học lớp 1, trong khi các bạn ngồi đọc ê a thì Dương chống tay lên cằm ngồi suy nghĩ về phương thức kết hợp giữa chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết của Garcia Marquez với lại yếu tố lãng mạn trong thơ của Beaudelair. Tính Dương trầm tĩnh, quyết đoán, thực dụng, vui buồn không lộ ra mặt. Bạn bè thảy đều yêu mến kính trọng, lại có ba phần sợ hãi.<br />
<br />
Năm 18 tuổi, Dương thi đỗ vào Đại học Bách Khoa Hà Nội, mặc dù đề thi quá dễ so với học lực, song với bản tính thận trọng, Dương tự làm sai một câu để tránh được điểm tuyệt đối. Cây vươn quá cao thì bị bão bẻ gãy, chim bay quá cao thì bị máy bay đâm phải, lời nói ấy chẳng phải đúng lắm ru?<br />
<br />
Dương khăn gói lên đất Hà Thành, ban ngày đi học, buổi tối đi dạy thêm tiếng Anh cho các thí sinh luyện thi lấy học bổng PhD ở Mỹ. Những lúc rảnh rỗi lại du ngoạn khắp đất Hà Thành, tìm hiểu văn vật, kết giao bằng hữu, ba ngày thì gặp gỡ thêm một giáo sư, bảy ngày kết bạn thêm một Viện sỹ. Lòng ôm hoài bão lớn, kinh sử làu thông, kinh tế chính trị quân sự văn hóa thảy đều hiểu biết. Duy chỉ có những thuyết duy tâm huyền ảo như Lão, Trang, Phật, Heghen.. là tránh xa, Dương quan niệm những gì hư ảo thảy đều là không có thực, cuộc sống chỉ hiện hữu những gì ta nhìn thấy, sờ được, có được thôi. Ở Hà Thành đã được hai năm, Dương như ẩn sỹ không nhuốm bụi trần, những trò vui vô bổ giết thời gian của sinh viên như nhậu nhẹt, bài bạc, game online Dương không hề vướng phải, mắt thấy tâm khinh. Thật là phong độ của một hào kiệt đỉnh thiên lập địa vậy.<br />
<br />
Năm 20 tuổi, nhân dịp nghỉ hè năm thứ 2, Dương quyết định làm một chuyến hành trình xuyên Việt. Nam tử chí lớn, há lại không tìm hiểu về non sông đất nước mình? Chặng đường từ Bắc vào Nam, Dương đêm đi ngày ngủ, lúc cao hứng thì đi bộ làm thơ, khi mỏi mệt thì thuê Mercedec S500 nằm nghỉ, đói đã có cơm nắm mang theo, khát thì dùng tạm Johny Walker Blue lấy sức. Cứ thế mà đi, thấm thoắt hơn một tháng, cửa ngõ Sài Gòn đã hiện ra trước mắt.<br />
<br />
Sài Gòn hoa lệ hòn ngọc Viễn Đông nhìn từ trên cao xuống như một dải ngân hà nhấp nháy muôn vạn ngôi sao với những dòng sông ánh sáng chảy về trung tâm là một quả cầu sáng khổng lồ. Tuy nhiên Dương đi xe ôm vào thành phố, qua vai bác xế chỉ thấy bụi đường mù mịt, xe cộ như nêm, quán nhậu như rừng, người đông... như quân Nguyên (1). Trong ví chỉ còn lại hơn một triệu (1.000.000VND) không đủ vào mấy khách sạn 5 sao ở quận 1 như New World, Sheraton, Continental... Dương đành bảo bác tài xế xe ôm chở về khu biệt thự ven sông Sài Gòn để thuê nhà tá túc. Lúc này đêm đã về khuya, gió sông lồng lộng thổi chếch một góc 34 độ theo hướng xe đi làm Dương vô cùng sảng khoái, mắt nhìn cảnh vật mờ ảo trong đêm, miệng hát nho nhỏ một câu hò xứ Nghệ.<br />
<br />
Hốt nhiên chiếc xe đang đi nhanh bỗng loạng choạng phanh gấp rồi dừng lại, thì ra bánh sau đã bị thủng bởi một chiếc đinh do bọn đinh tặc rải trên đường. May sao cách đó không xa có ánh đèn le lói, bác tài và Dương dắt xe lại gần, thì ra là một quán nước nhỏ, có kiêm luôn cả dịch vụ sửa xe. Chủ quán là một ông già râu tóc bạc phơ, có khí chất thanh cao thoát tục, tiên phong đạo cốt. Đinh trên đường có phải do chủ quán rải ra không, tạm thời không cần hỏi đến. Trong khi chủ quán vừa sửa xe vừa nói chuyện với bác tài, Dương tranh thủ ngả lưng trên chiếc võng xếp Duy Lợi đặt ở góc nhà. Nhìn ngó lơ đãng xung quanh, bỗng nhiên Dương khẽ giật mình. Trong bóng tối phía sau quán, qua tấm phên thưa, chỉ thấy có một đôi mắt lấp lánh phát ra nhãn quang nhu hòa như nước hồ thu, lại có khí thần nội liễm như một cao thủ võ lâm tuyệt đỉnh đang chiếu về phía Dương. Bất đồ Dương như say như tỉnh, thần trí mông lung, đẩy cửa hậu bước ra.........<br />
<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">(1) Chú thích của tác giả:  Dương so sánh để lấy hình ảnh vậy thôi, chứ quân Nguyên vào nước ta có khoảng 50vạn (theo một số nhà sử học thì còn ít hơn nhiều) làm sao bằng dân số Sài Gòn từ 7-10 triệu được.</span>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Đìu, char. VLTK TTTH đợt này hên ghê. Tính sơ ổng cũng lụm được 3 cuốn bí kíp, 1 phi tiêu hnl, một THBT, 1 TTT, 1 dc KTC (chưa kịp nhìn mặt em nó đã bị vợ thẳng tay phi shop thần chưởng). <br />
<br />
Tiền trong rương cứ đầy lên, tiền ở ngoài cạn dần đi và độ tự kỷ ngày một cao lên, đó là VLTK .<br />
<br />
Thông thường, người ta đọc truyện đôi khi có giật mình vì những nét tương đồng giữa nhân vật và bản thân. Song họ luôn có một lập luận, một lý do chính đáng nào đó để chống chế. Tỉ như truyện này, thể nào cũng có người nghĩ: mình chẳng bao giờ như thế. Song chỉ cần bạn ham mê quên gọi một cuộc điện thoại, không chat chit với một người bạn thân.. thì nó cũng mang tính biểu hiện tương tự như Vũ Dương trong truyện mà thôi.</span><br />
<br />
<span style="font-size: x-large;" class="mycode_size"><font color=#0000CD>LÃNG TỬ HỒI ĐẦU</font></span><br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">(TÁC GIẢ: MADCAT)</span></span><br />
<br />
Vũ Dương, quê ở Ái Châu, từ nhỏ đã thông minh nổi tiếng trong làng. Lên 2 tuổi biết nhận mặt bảng chữ cái, lên 3 tuổi biết ghép vần, 4 tuổi đọc thông viết thạo. Đi học lớp 1, trong khi các bạn ngồi đọc ê a thì Dương chống tay lên cằm ngồi suy nghĩ về phương thức kết hợp giữa chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết của Garcia Marquez với lại yếu tố lãng mạn trong thơ của Beaudelair. Tính Dương trầm tĩnh, quyết đoán, thực dụng, vui buồn không lộ ra mặt. Bạn bè thảy đều yêu mến kính trọng, lại có ba phần sợ hãi.<br />
<br />
Năm 18 tuổi, Dương thi đỗ vào Đại học Bách Khoa Hà Nội, mặc dù đề thi quá dễ so với học lực, song với bản tính thận trọng, Dương tự làm sai một câu để tránh được điểm tuyệt đối. Cây vươn quá cao thì bị bão bẻ gãy, chim bay quá cao thì bị máy bay đâm phải, lời nói ấy chẳng phải đúng lắm ru?<br />
<br />
Dương khăn gói lên đất Hà Thành, ban ngày đi học, buổi tối đi dạy thêm tiếng Anh cho các thí sinh luyện thi lấy học bổng PhD ở Mỹ. Những lúc rảnh rỗi lại du ngoạn khắp đất Hà Thành, tìm hiểu văn vật, kết giao bằng hữu, ba ngày thì gặp gỡ thêm một giáo sư, bảy ngày kết bạn thêm một Viện sỹ. Lòng ôm hoài bão lớn, kinh sử làu thông, kinh tế chính trị quân sự văn hóa thảy đều hiểu biết. Duy chỉ có những thuyết duy tâm huyền ảo như Lão, Trang, Phật, Heghen.. là tránh xa, Dương quan niệm những gì hư ảo thảy đều là không có thực, cuộc sống chỉ hiện hữu những gì ta nhìn thấy, sờ được, có được thôi. Ở Hà Thành đã được hai năm, Dương như ẩn sỹ không nhuốm bụi trần, những trò vui vô bổ giết thời gian của sinh viên như nhậu nhẹt, bài bạc, game online Dương không hề vướng phải, mắt thấy tâm khinh. Thật là phong độ của một hào kiệt đỉnh thiên lập địa vậy.<br />
<br />
Năm 20 tuổi, nhân dịp nghỉ hè năm thứ 2, Dương quyết định làm một chuyến hành trình xuyên Việt. Nam tử chí lớn, há lại không tìm hiểu về non sông đất nước mình? Chặng đường từ Bắc vào Nam, Dương đêm đi ngày ngủ, lúc cao hứng thì đi bộ làm thơ, khi mỏi mệt thì thuê Mercedec S500 nằm nghỉ, đói đã có cơm nắm mang theo, khát thì dùng tạm Johny Walker Blue lấy sức. Cứ thế mà đi, thấm thoắt hơn một tháng, cửa ngõ Sài Gòn đã hiện ra trước mắt.<br />
<br />
Sài Gòn hoa lệ hòn ngọc Viễn Đông nhìn từ trên cao xuống như một dải ngân hà nhấp nháy muôn vạn ngôi sao với những dòng sông ánh sáng chảy về trung tâm là một quả cầu sáng khổng lồ. Tuy nhiên Dương đi xe ôm vào thành phố, qua vai bác xế chỉ thấy bụi đường mù mịt, xe cộ như nêm, quán nhậu như rừng, người đông... như quân Nguyên (1). Trong ví chỉ còn lại hơn một triệu (1.000.000VND) không đủ vào mấy khách sạn 5 sao ở quận 1 như New World, Sheraton, Continental... Dương đành bảo bác tài xế xe ôm chở về khu biệt thự ven sông Sài Gòn để thuê nhà tá túc. Lúc này đêm đã về khuya, gió sông lồng lộng thổi chếch một góc 34 độ theo hướng xe đi làm Dương vô cùng sảng khoái, mắt nhìn cảnh vật mờ ảo trong đêm, miệng hát nho nhỏ một câu hò xứ Nghệ.<br />
<br />
Hốt nhiên chiếc xe đang đi nhanh bỗng loạng choạng phanh gấp rồi dừng lại, thì ra bánh sau đã bị thủng bởi một chiếc đinh do bọn đinh tặc rải trên đường. May sao cách đó không xa có ánh đèn le lói, bác tài và Dương dắt xe lại gần, thì ra là một quán nước nhỏ, có kiêm luôn cả dịch vụ sửa xe. Chủ quán là một ông già râu tóc bạc phơ, có khí chất thanh cao thoát tục, tiên phong đạo cốt. Đinh trên đường có phải do chủ quán rải ra không, tạm thời không cần hỏi đến. Trong khi chủ quán vừa sửa xe vừa nói chuyện với bác tài, Dương tranh thủ ngả lưng trên chiếc võng xếp Duy Lợi đặt ở góc nhà. Nhìn ngó lơ đãng xung quanh, bỗng nhiên Dương khẽ giật mình. Trong bóng tối phía sau quán, qua tấm phên thưa, chỉ thấy có một đôi mắt lấp lánh phát ra nhãn quang nhu hòa như nước hồ thu, lại có khí thần nội liễm như một cao thủ võ lâm tuyệt đỉnh đang chiếu về phía Dương. Bất đồ Dương như say như tỉnh, thần trí mông lung, đẩy cửa hậu bước ra.........<br />
<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">(1) Chú thích của tác giả:  Dương so sánh để lấy hình ảnh vậy thôi, chứ quân Nguyên vào nước ta có khoảng 50vạn (theo một số nhà sử học thì còn ít hơn nhiều) làm sao bằng dân số Sài Gòn từ 7-10 triệu được.</span>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Madcat tự truyện.]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1915.html</link>
			<pubDate>Fri, 30 May 2014 16:26:56 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=13">1t2u3a4n</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1915.html</guid>
			<description><![CDATA[Chào anh chị em,<br />
<br />
Mới đây, VNG mở lại trò chơi Võ lâm truyền kỳ (phiên bản Tình trong thiên hạ, mô phỏng bản Công thành chiến sơ khai 9 năm trước). Dù thực sự đây không phải là một game quá nổi trội, nhưng với hoàn cảnh lúc đó (2005) và tình cảm của người chơi, VLTK đối với nhiều người thực sự đã trở thành truyền kỳ như tên gọi, là một quãng đường xao xuyến, một hồi ức không quên. Những mối tình đẹp như mơ trong game đến các cuộc hôn nhân đầy bất ngờ ngoài đời thực, hoa hồng trong game đến hoa cưới ngoài đời, áo lễ phục trong game đến áo cưới cô dâu, bao cuộc chém giết băng lửa độc đầy trời đến hàng loạt cuộc chém gió offline hoành tráng... Chúng tôi đã sống những khoảnh khắc như thế, và đôi khi, chỉ nghe điệu nhạc quen thuộc của game là bao kỷ niệm lại ùa về.<br />
<br />
Là một game nhập vai kiếm hiệp, VLTK thu hút hàng triệu người chơi trên khắp cả nước. 1t2u3a4n hoá thân thành một tiểu tăng, ngày ngày tụng kinh gõ mõ, tối đến ra cổng thành Biện Kinh hoá duyên cho những kẻ còn nặng nợ trần ai. Khi hì hục luyện công khổ ải, lúc thảnh thơi dạo cảnh ngắm trăng... Võ công thành tựu thì bôn tẩu giang hồ, chuyên giúp nhà giàu xiết nợ người nghèo, đồ sát kẻ yếu... không có chuyện nào là chưa làm. Trong quá trình hành hiệp trượng nghĩa đó, tiểu tăng đã có duyên gặp được Madcat đại sư tại hậu viện chùa Thiếu Lâm. Có thể câu chuyện dưới đây sẽ thú vị hơn nếu ace đã từng là 1 nhân vật của VLTK, nhưng không cũng chẳng hề chi. Càng về cuối, càng tình tiết càng đi sâu vào đời thực hơn là game, đủ làm rung động những tâm hồn lãng mạn. Sau đây, Madcat tự truyện xin được bắt đầu...<br />
<br />
<font color=#0000CD><span style="font-size: x-large;" class="mycode_size">MADCAT TỰ TRUYỆN</span></font><br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">(TÁC GIẢ: MADCAT)</span></span><br />
 <br />
Xin chào mọi người, bần tăng xin tự giới thiệu là Thiếu Lâm môn nhân, đã theo học quyền pháp Thiếu Lâm từ khi bắt đầu sơ nhập giang hồ đến nay. Đẳng cấp trung bình 65, ra ngoài đường chẳng bằng được ai nhưng đại khái cũng có bánh bao đội trên đầu, coi như hoà mình được vào các bác 6x, 7x, phi ngựa dọc ngang, nhìn qua không ai biết được.<br />
 <br />
Võ công Thiếu Lâm mênh mông bát ngát ở đâu không biết, nhưng từ trên núi Thiếu Thất xuống tới đồng bằng Trung Hoa đại luc rồi lại xuất khẩu sang Viêt Nam bị rơi rớt quá nhiều, nên cứ thấy nhà sư ở đâu là có hai con giun quấn quanh chân ở đó. Bần tăng ngậm ngùi xài giun từ lúc vào chùa đến nay vừa mừng vừa tủi. Mừng vì hai con giun giúp cho bần tăng chơi solo được, lên level được, tiền kiếm đều đều, xài đồ xịn không phải ngửa tay đi xin hảo hữu. Tủi vì hơn tháng trời ròng rã, thấy người là thấy giun, thấy giun cũng như thấy người, việc luyện công trở nên nhàm chán vô cùng. Nhiệm vụ thì đi làm hết rồi không làm lại lần hai được nữa, buôn bán thì vô duyên với thương truờng, toàn mua đắt bán rẻ bị người đời cười chê...<br />
 <br />
Từ khi lên 6x tới giờ, cột điểm Exp đã cao tới hơn 5 triệu. Một ngày bần tăng bỏ vào việc luyện công 2-3 tiếng xem ra cũng chẳng ăn thua. Trung bình mất 3-4 ngày mới lên được 1 cấp, rồi 6-7 ngày mới lên 1 cấp. Cứ tính như vậy thì đường xa vạn dặm, đến lúc con bần tăng lớn may ra thì có 1 char. cấp 90 di chúc để lại cho nó được.<br />
 <br />
Luyện công bế tắc thì phải chiến đấu, hành hiệp trượng nghĩa thi thố với đời. Nghĩ vậy bần tăng mua một ba lô lương thực nước uống, thuốc men bông băng cồn gạc ra cổng Biện Kinh xem có sự việc bất bình nào thì ra tay giúp đỡ. Quả nhiên xã hội loạn lạc, giữa thanh thiên bạch nhật mà chốn kinh kỳ lại có một đám du thủ du thực đang loạn đả xà ngầu, quần nhau tung hoành ngựa hí vang lừng, người chửi thề vung vít ko coi vương pháp ra gì. Bần tăng bèn miệng nam mô tay lần tràng hạt đầu đội bánh bao xông vào giữa đám du côn đó, những mong lấy phật pháp từ bi để giáo hoá chúng sinh cứu vớt họ ra khỏi con đường đen tối, rửa sạch bạo lực khỏi những bàn tay đang nhuốm máu kia....<br />
 <br />
Hỡi ôi, mới chỉ đi được ba bước bần tăng bỗng thấy người mình nửa xanh nửa vàng, xây xẩm mặt mày (chắc là bị cảm phong hàn) ngất đi lúc nào không biết. Tỉnh dậy thấy bên cạnh mình có một cụ già mặt mũi hiền từ đang đứng, dưới chân cụ có mấy cái rương chứa đồ...<br />
 <br />
Lòng thương chúng sinh thôi thúc khôn nguôi, bần tăng gượng dậy lại lao ra cổng thành. Thấy một đại hán vóc dáng to lớn đang đuổi đánh một cô nương nhỏ bé, bần tăng chặn đuờng hắn để cho cô nương chạy thoát. Hắn bèn gườm gườm nhìn bần tăng :<br />
 <br />
- Ê ku, muốn gì đây?<br />
 <br />
- Tại hạ là nhà sư Thiếu lâm, không phải là ku.<br />
 <br />
- Sư thì không có ku ah, lắm chuyện quá, thích đánh nhau ha?<br />
 <br />
- Phật pháp vô biên lấy từ bi hỉ xả làm đầu, hảo hán lấy sức mạnh ăn hiếp nữ nhi như vậy đâu phải là hành vi của bậc chính nhân quân tử...<br />
 <br />
- Thằng dở hơi này, lằng nhằng quá, có muốn đánh nhau thì làm một ván, không thì biến đi để ông còn chơi tiếp.<br />
 <br />
Bần tăng nghĩ bụng, Phật tổ còn có lúc hiển lộ oai phong để trừ ma tróc quỷ, đệ tử dù bất tài cũng xin được giáo huấn kẻ thất phu lỗ mãng này để hắn chùa cái thói ỷ mạnh hiếp yếu đi.<br />
 <br />
- Được, tôi với ông chơi 1 ván, f9 đi. - Ok, roài.<br />
 <br />
Bần tăng hét lên một tiếng vang dội, bánh bao sáng rực trên đầu, hai con giun quấn quýt dưới chân lao vào đại hán. Chỉ thấy đại hán nhẹ nhàng quay ngụa lướt qua, tung ra một quả cầu xanh chết chóc. Giun của bần tăng chui hết xuống đất (vì giun vốn là giun mà), còn ngưòi bần tăng chuyển màu xanh lè, nhìn vô cùng bẩn thỉu. Mặc dù bị hàng trăm con trùng độc công phá phủ tạng, bần tăng vẫn nhịn đau lao vào lần nữa. Kết quả giun lại về với giun, còn Độc về với tim, tất nhiên là tim của bần tăng.<br />
 <br />
Máu trong hành trang sắp hết, bần tăng bỗng nhớ lời các sư huynh chỉ dạy, trong trường hợp đối phương tránh né nhiều thì ta chớ tìm cách lao vào mà phải bình tĩnh tìm cách dụ đối phương, lợi dụng sơ hở đánh chặn đầu, hoặc chớp thời cơ đối phương ra đòn thì đánh trước. Bần tăng bèn đứng lại tìm cách thực hiện lời giáo huấn này. Chỉ thấy đại hán cũng dừng lại nhìn bần tăng cười cười, nhìn lại thì thấy trên đầu bần tăng đã có một cục tròn tròn màu xanh đang cháy sáng rực. Bần tăng đợi hắn lao vào để đánh chặn đầu, nhưng hắn thản nhiên đứng nhìn bần tăng không nói năng gì. Chẳng lẽ lại bảo là xin mời ông đánh tôi nên bần tăng cũng đành đứng yên nhìn hắn. Bỗng nhiên trời đất quay cuồng, bần tăng lại lăn ra ngất xỉu một lần nữa, tỉnh dậy đã thấy mình nằm gối đầu lên rương chứa đồ.....<br />
 <br />
<font color=#0000CD><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Hành trình Ma Ha Vô Lượng<br />
 </span></font><br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Cuộc gặp giữa đường.</span><br />
 <br />
Lại nói bần tăng bất tỉnh nhân sự đang nằm gối đầu lên rương chứa đồ, mặc dù cơ thể như bị rút hết sinh khí nhưng vẫn nhớ văng vẳng bên tai tiếng cười tiếu ngạo của đại hán : Hahha, các người cứ tưởng ngũ hành tương khắc là ghê gớm àh, đã biết được sự lợi hại của Ngũ độc phái ta chưa....<br />
 <br />
Thân xác mệt mỏi, linh hồn rã rời, bần tăng thất thểu rời khỏi kinh thành, tìm đường đến một ngôi cổ tự nhỏ ở phía tây thành Tương Dương, nơi có một sư huynh đang trụ trì ở đó, để trú ngụ một thời gian cho vơi nỗi sầu bi. Một mình rảo bước trên con đường thiên lý, bỗng nghe tiếng vó ngựa từ đằng xa lộp cộp, rồi bóng một tráng sĩ hiện ra. Ngựa sùi bọt mép, người nhuốm bụi đường, nhưng vẫn hiển lộ tinh anh qua dôi mắt sáng rực hàm chứa một nội công thâm hậu. Tráng sĩ hỏi : <br />
<br />
- Đại sư đi đâu mà trời sắp tối rồi còn chưa kiếm chỗ nghỉ chân?<br />
 <br />
- Bần tăng đang tìm đường đến chùa Phật Quang, còn tráng sĩ đi đâu mà dáng vẻ phong trần vậy?<br />
 <br />
- Tại hạ là đệ tử Thiên Vương bang level 64, theo tiếng gọi của chính nghĩa đi gia nhập đoàn quân Tống binh bảo vệ quốc gia khỏi nạn xâm lăng của người Kim.<br />
 <br />
- Thiện tai thiện tai, tráng sĩ chí lớn hơn người, võ công xuất sắc, thật là đáng cho người ta phải khâm phục.<br />
 <br />
Tráng sĩ cả cười nói : - Sao đại sư biết là ta có võ công xuất sắc?<br />
 <br />
- Cứ nhìn vào thần khí của tráng sĩ,và thân pháp cưỡi ngựa của người là ta đoán được rồi. <br />
<br />
- Không dám, không dám. Võ công của tại hạ chỉ đáng làm Sơn đông mãi võ mua vui cho người thôi. Thiếu Lâm xưa nay là Thái sơn bắc đẩu võ học mới đáng kể chứ, tại hạ đã hâm mộ từ lâu? À nhân gặp đại sư giữa đường kể cũng có chút nhân duyên, không biết có thể chỉ giáo một ít võ học chính tông để tại hạ được mở rộng tầm mắt.<br />
 <br />
- Chả giấu gì tráng sĩ, võ công bổn môn bao la bát ngát, thư tịch chất đầy Tàng kinh các, nhưng bần tăng tài hèn sức mọn từ khi vào chùa đến giờ, từ level 10 đến level 65 chỉ học được mỗi môn Hàng Long Bất Vũ thôi, không bõ để tráng sĩ chê cười.<br />
 <br />
- Umh, đại sư chớ có khiêm nhường thái quá, đã là võ học chính tông thì chiêu thức level 10 cũng huyền ảo lắm rồi, xin chớ làm ta thất vọng.<br />
 <br />
- Tráng sĩ làm bần tăng khó nghĩ quá. Nhưng thôi, cung kính không bằng tuân mệnh, bần tăng xin khoe cái xấu ra vậy. Mời tráng sĩ f9 đi.<br />
 <br />
- Vâng, xin mời đại sư động thủ.<br />
 <br />
Bần tăng bèn lên ngựa sẵn sàng, miệng tụng Nam mô, đầu đội bánh bao vàng rực, tay thủ sẵn đôi giun để quăng vào người đối thủ. Chuẩn bị xong rồi bần tăng thúc ngựa xông tới. Tráng sĩ cũng rất khẳng khái trực diện lao vào không hề tránh né.Hai bên giáp chiến, bần tăng hét lên một tiếng vang dội, rồi thi triển Hàng Long Bất Vũ, đôi giun lao ra, tiếng xé không khí thật là oai mãnh.﻿<br />
 <br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">(còn tiếp)</span>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Chào anh chị em,<br />
<br />
Mới đây, VNG mở lại trò chơi Võ lâm truyền kỳ (phiên bản Tình trong thiên hạ, mô phỏng bản Công thành chiến sơ khai 9 năm trước). Dù thực sự đây không phải là một game quá nổi trội, nhưng với hoàn cảnh lúc đó (2005) và tình cảm của người chơi, VLTK đối với nhiều người thực sự đã trở thành truyền kỳ như tên gọi, là một quãng đường xao xuyến, một hồi ức không quên. Những mối tình đẹp như mơ trong game đến các cuộc hôn nhân đầy bất ngờ ngoài đời thực, hoa hồng trong game đến hoa cưới ngoài đời, áo lễ phục trong game đến áo cưới cô dâu, bao cuộc chém giết băng lửa độc đầy trời đến hàng loạt cuộc chém gió offline hoành tráng... Chúng tôi đã sống những khoảnh khắc như thế, và đôi khi, chỉ nghe điệu nhạc quen thuộc của game là bao kỷ niệm lại ùa về.<br />
<br />
Là một game nhập vai kiếm hiệp, VLTK thu hút hàng triệu người chơi trên khắp cả nước. 1t2u3a4n hoá thân thành một tiểu tăng, ngày ngày tụng kinh gõ mõ, tối đến ra cổng thành Biện Kinh hoá duyên cho những kẻ còn nặng nợ trần ai. Khi hì hục luyện công khổ ải, lúc thảnh thơi dạo cảnh ngắm trăng... Võ công thành tựu thì bôn tẩu giang hồ, chuyên giúp nhà giàu xiết nợ người nghèo, đồ sát kẻ yếu... không có chuyện nào là chưa làm. Trong quá trình hành hiệp trượng nghĩa đó, tiểu tăng đã có duyên gặp được Madcat đại sư tại hậu viện chùa Thiếu Lâm. Có thể câu chuyện dưới đây sẽ thú vị hơn nếu ace đã từng là 1 nhân vật của VLTK, nhưng không cũng chẳng hề chi. Càng về cuối, càng tình tiết càng đi sâu vào đời thực hơn là game, đủ làm rung động những tâm hồn lãng mạn. Sau đây, Madcat tự truyện xin được bắt đầu...<br />
<br />
<font color=#0000CD><span style="font-size: x-large;" class="mycode_size">MADCAT TỰ TRUYỆN</span></font><br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">(TÁC GIẢ: MADCAT)</span></span><br />
 <br />
Xin chào mọi người, bần tăng xin tự giới thiệu là Thiếu Lâm môn nhân, đã theo học quyền pháp Thiếu Lâm từ khi bắt đầu sơ nhập giang hồ đến nay. Đẳng cấp trung bình 65, ra ngoài đường chẳng bằng được ai nhưng đại khái cũng có bánh bao đội trên đầu, coi như hoà mình được vào các bác 6x, 7x, phi ngựa dọc ngang, nhìn qua không ai biết được.<br />
 <br />
Võ công Thiếu Lâm mênh mông bát ngát ở đâu không biết, nhưng từ trên núi Thiếu Thất xuống tới đồng bằng Trung Hoa đại luc rồi lại xuất khẩu sang Viêt Nam bị rơi rớt quá nhiều, nên cứ thấy nhà sư ở đâu là có hai con giun quấn quanh chân ở đó. Bần tăng ngậm ngùi xài giun từ lúc vào chùa đến nay vừa mừng vừa tủi. Mừng vì hai con giun giúp cho bần tăng chơi solo được, lên level được, tiền kiếm đều đều, xài đồ xịn không phải ngửa tay đi xin hảo hữu. Tủi vì hơn tháng trời ròng rã, thấy người là thấy giun, thấy giun cũng như thấy người, việc luyện công trở nên nhàm chán vô cùng. Nhiệm vụ thì đi làm hết rồi không làm lại lần hai được nữa, buôn bán thì vô duyên với thương truờng, toàn mua đắt bán rẻ bị người đời cười chê...<br />
 <br />
Từ khi lên 6x tới giờ, cột điểm Exp đã cao tới hơn 5 triệu. Một ngày bần tăng bỏ vào việc luyện công 2-3 tiếng xem ra cũng chẳng ăn thua. Trung bình mất 3-4 ngày mới lên được 1 cấp, rồi 6-7 ngày mới lên 1 cấp. Cứ tính như vậy thì đường xa vạn dặm, đến lúc con bần tăng lớn may ra thì có 1 char. cấp 90 di chúc để lại cho nó được.<br />
 <br />
Luyện công bế tắc thì phải chiến đấu, hành hiệp trượng nghĩa thi thố với đời. Nghĩ vậy bần tăng mua một ba lô lương thực nước uống, thuốc men bông băng cồn gạc ra cổng Biện Kinh xem có sự việc bất bình nào thì ra tay giúp đỡ. Quả nhiên xã hội loạn lạc, giữa thanh thiên bạch nhật mà chốn kinh kỳ lại có một đám du thủ du thực đang loạn đả xà ngầu, quần nhau tung hoành ngựa hí vang lừng, người chửi thề vung vít ko coi vương pháp ra gì. Bần tăng bèn miệng nam mô tay lần tràng hạt đầu đội bánh bao xông vào giữa đám du côn đó, những mong lấy phật pháp từ bi để giáo hoá chúng sinh cứu vớt họ ra khỏi con đường đen tối, rửa sạch bạo lực khỏi những bàn tay đang nhuốm máu kia....<br />
 <br />
Hỡi ôi, mới chỉ đi được ba bước bần tăng bỗng thấy người mình nửa xanh nửa vàng, xây xẩm mặt mày (chắc là bị cảm phong hàn) ngất đi lúc nào không biết. Tỉnh dậy thấy bên cạnh mình có một cụ già mặt mũi hiền từ đang đứng, dưới chân cụ có mấy cái rương chứa đồ...<br />
 <br />
Lòng thương chúng sinh thôi thúc khôn nguôi, bần tăng gượng dậy lại lao ra cổng thành. Thấy một đại hán vóc dáng to lớn đang đuổi đánh một cô nương nhỏ bé, bần tăng chặn đuờng hắn để cho cô nương chạy thoát. Hắn bèn gườm gườm nhìn bần tăng :<br />
 <br />
- Ê ku, muốn gì đây?<br />
 <br />
- Tại hạ là nhà sư Thiếu lâm, không phải là ku.<br />
 <br />
- Sư thì không có ku ah, lắm chuyện quá, thích đánh nhau ha?<br />
 <br />
- Phật pháp vô biên lấy từ bi hỉ xả làm đầu, hảo hán lấy sức mạnh ăn hiếp nữ nhi như vậy đâu phải là hành vi của bậc chính nhân quân tử...<br />
 <br />
- Thằng dở hơi này, lằng nhằng quá, có muốn đánh nhau thì làm một ván, không thì biến đi để ông còn chơi tiếp.<br />
 <br />
Bần tăng nghĩ bụng, Phật tổ còn có lúc hiển lộ oai phong để trừ ma tróc quỷ, đệ tử dù bất tài cũng xin được giáo huấn kẻ thất phu lỗ mãng này để hắn chùa cái thói ỷ mạnh hiếp yếu đi.<br />
 <br />
- Được, tôi với ông chơi 1 ván, f9 đi. - Ok, roài.<br />
 <br />
Bần tăng hét lên một tiếng vang dội, bánh bao sáng rực trên đầu, hai con giun quấn quýt dưới chân lao vào đại hán. Chỉ thấy đại hán nhẹ nhàng quay ngụa lướt qua, tung ra một quả cầu xanh chết chóc. Giun của bần tăng chui hết xuống đất (vì giun vốn là giun mà), còn ngưòi bần tăng chuyển màu xanh lè, nhìn vô cùng bẩn thỉu. Mặc dù bị hàng trăm con trùng độc công phá phủ tạng, bần tăng vẫn nhịn đau lao vào lần nữa. Kết quả giun lại về với giun, còn Độc về với tim, tất nhiên là tim của bần tăng.<br />
 <br />
Máu trong hành trang sắp hết, bần tăng bỗng nhớ lời các sư huynh chỉ dạy, trong trường hợp đối phương tránh né nhiều thì ta chớ tìm cách lao vào mà phải bình tĩnh tìm cách dụ đối phương, lợi dụng sơ hở đánh chặn đầu, hoặc chớp thời cơ đối phương ra đòn thì đánh trước. Bần tăng bèn đứng lại tìm cách thực hiện lời giáo huấn này. Chỉ thấy đại hán cũng dừng lại nhìn bần tăng cười cười, nhìn lại thì thấy trên đầu bần tăng đã có một cục tròn tròn màu xanh đang cháy sáng rực. Bần tăng đợi hắn lao vào để đánh chặn đầu, nhưng hắn thản nhiên đứng nhìn bần tăng không nói năng gì. Chẳng lẽ lại bảo là xin mời ông đánh tôi nên bần tăng cũng đành đứng yên nhìn hắn. Bỗng nhiên trời đất quay cuồng, bần tăng lại lăn ra ngất xỉu một lần nữa, tỉnh dậy đã thấy mình nằm gối đầu lên rương chứa đồ.....<br />
 <br />
<font color=#0000CD><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Hành trình Ma Ha Vô Lượng<br />
 </span></font><br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Cuộc gặp giữa đường.</span><br />
 <br />
Lại nói bần tăng bất tỉnh nhân sự đang nằm gối đầu lên rương chứa đồ, mặc dù cơ thể như bị rút hết sinh khí nhưng vẫn nhớ văng vẳng bên tai tiếng cười tiếu ngạo của đại hán : Hahha, các người cứ tưởng ngũ hành tương khắc là ghê gớm àh, đã biết được sự lợi hại của Ngũ độc phái ta chưa....<br />
 <br />
Thân xác mệt mỏi, linh hồn rã rời, bần tăng thất thểu rời khỏi kinh thành, tìm đường đến một ngôi cổ tự nhỏ ở phía tây thành Tương Dương, nơi có một sư huynh đang trụ trì ở đó, để trú ngụ một thời gian cho vơi nỗi sầu bi. Một mình rảo bước trên con đường thiên lý, bỗng nghe tiếng vó ngựa từ đằng xa lộp cộp, rồi bóng một tráng sĩ hiện ra. Ngựa sùi bọt mép, người nhuốm bụi đường, nhưng vẫn hiển lộ tinh anh qua dôi mắt sáng rực hàm chứa một nội công thâm hậu. Tráng sĩ hỏi : <br />
<br />
- Đại sư đi đâu mà trời sắp tối rồi còn chưa kiếm chỗ nghỉ chân?<br />
 <br />
- Bần tăng đang tìm đường đến chùa Phật Quang, còn tráng sĩ đi đâu mà dáng vẻ phong trần vậy?<br />
 <br />
- Tại hạ là đệ tử Thiên Vương bang level 64, theo tiếng gọi của chính nghĩa đi gia nhập đoàn quân Tống binh bảo vệ quốc gia khỏi nạn xâm lăng của người Kim.<br />
 <br />
- Thiện tai thiện tai, tráng sĩ chí lớn hơn người, võ công xuất sắc, thật là đáng cho người ta phải khâm phục.<br />
 <br />
Tráng sĩ cả cười nói : - Sao đại sư biết là ta có võ công xuất sắc?<br />
 <br />
- Cứ nhìn vào thần khí của tráng sĩ,và thân pháp cưỡi ngựa của người là ta đoán được rồi. <br />
<br />
- Không dám, không dám. Võ công của tại hạ chỉ đáng làm Sơn đông mãi võ mua vui cho người thôi. Thiếu Lâm xưa nay là Thái sơn bắc đẩu võ học mới đáng kể chứ, tại hạ đã hâm mộ từ lâu? À nhân gặp đại sư giữa đường kể cũng có chút nhân duyên, không biết có thể chỉ giáo một ít võ học chính tông để tại hạ được mở rộng tầm mắt.<br />
 <br />
- Chả giấu gì tráng sĩ, võ công bổn môn bao la bát ngát, thư tịch chất đầy Tàng kinh các, nhưng bần tăng tài hèn sức mọn từ khi vào chùa đến giờ, từ level 10 đến level 65 chỉ học được mỗi môn Hàng Long Bất Vũ thôi, không bõ để tráng sĩ chê cười.<br />
 <br />
- Umh, đại sư chớ có khiêm nhường thái quá, đã là võ học chính tông thì chiêu thức level 10 cũng huyền ảo lắm rồi, xin chớ làm ta thất vọng.<br />
 <br />
- Tráng sĩ làm bần tăng khó nghĩ quá. Nhưng thôi, cung kính không bằng tuân mệnh, bần tăng xin khoe cái xấu ra vậy. Mời tráng sĩ f9 đi.<br />
 <br />
- Vâng, xin mời đại sư động thủ.<br />
 <br />
Bần tăng bèn lên ngựa sẵn sàng, miệng tụng Nam mô, đầu đội bánh bao vàng rực, tay thủ sẵn đôi giun để quăng vào người đối thủ. Chuẩn bị xong rồi bần tăng thúc ngựa xông tới. Tráng sĩ cũng rất khẳng khái trực diện lao vào không hề tránh né.Hai bên giáp chiến, bần tăng hét lên một tiếng vang dội, rồi thi triển Hàng Long Bất Vũ, đôi giun lao ra, tiếng xé không khí thật là oai mãnh.﻿<br />
 <br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">(còn tiếp)</span>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Miếng ngon Hà Nội - Vũ Bằng]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1702.html</link>
			<pubDate>Sun, 29 Sep 2013 08:55:20 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=12">lanhdien</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1702.html</guid>
			<description><![CDATA[<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">* Từ Món lạ Miền Nam sẵn lôi cái này về luôn, thỉnh thoảng nhâm nhi đọc lại cũng coi như cách ẩm thực ngôn ngữ...</span><br />
<br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"> PHỞ BÒ</span></div>
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">MÓN QUÀ CĂN BẢN</span><br />
<br />
Sao lại là quà căn bản?<br />
Vâng, chính thế; người ta có thể nói rằng người Việt Nam có thể không ăn bánh bao, bánh bẻ, có thể không ăn mằn thắn hay mì, có thể không ăn xôi lúa, nhưng chắc chắn là ai cũng đã từng ăn phở.<br />
<br />
Rẻ lắm. Theo giá trị của đồng bạc bây giờ năm đồng một bát phở, mà ba đồng cũng được một bát phở ngon như thường.<br />
Vì thế, từ cô bán hàng trong một cửa hiệu buôn cho đến một ông công chức, từ một bà mệnh phụ nhà có cửa võng sơn son thiếp vàng, đến một người thợ vắt mũi không đủ nuôi miệng, ai cũng ăn bát phở. Ngon miệng thì ăn hai, riêng tôi thì tôi đã từng thấy có người điểm tâm buổi sáng tới ba bát liền, mỗi bát tám đồng, vị chi hai mươi bốn, hai mươi nhăm đồng bạc.<br />
Thật thế, phở đối với một hạng người, không còn là một món ăn nữa, mà là một thứ nghiện như nghiện thuốc lào, thuốc lá, trà tươi, thuốc phiện.<br />
<br />
Ngay từ ở đằng xa, mùi phở cũng đã có một sức huyền bí quyến rũ ta như mây khói chùa Hương đẩy bước chân ta, thúc bách ta phải trèo lên đỉnh núi để vào chùa trong rồi lại ra chùa ngoài. Ta tiến lại gần một cửa hàng bán phở, thật là cả một bài trí nên thơ. Qua lần cửa kính ta đã thấy gì? Một bó hành hoa xanh như lá mạ, dăm quả ớt đỏ buộc vào một cái dây, vài miếng thịt bò tươi và mềm, chín có, tái có, sụn có, mỡ gầu có, vè cũng có... Người bán hàng đứng thái bánh, thái thịt luôn tay, thỉnh thoảng lại mở nắp một cái thùng sắt ra để lấy nước dùng chan vào bát. Một làn khói tỏa ra khắp gian hàng, bao phủ những người ngồi ăn ở chung quanh trong một làn sương mỏng, mơ hồ như một bức tranh Tàu vẽ những ông tiên ngồi đánh cờ ở trong rừng mùa thu.<br />
<br />
Trông mà thèm quá! Nhất là về mùa rét, có gió bấc thổi hiu hiu, mà thấy người ta ăn phở như thế, thì chính mình đứng ở ngoài cũng thấy ấm áp ngon lành. Có ai lại đừng vào ăn cho được...<br />
Ấy vậy mà người sành ăn phở, người ăn phở kỹ càng không thể dễ tính, nhất tề bước vào một cửa hiệu phở thứ nhất nào để mà ăn liều ăn lĩnh.<br />
<br />
Bởi vì những người sành ăn đó, thường không tin gì cho lắm ở những hàng phở mở cửa hàng. Người ta bảo rằng phần nhiều những hàng phở mở hiệu như thế, nước dùng không được ngọt, hoặc có ngọt là cái ngọt của mì chính, chứ không phải là cái ngọt của xương bò, ấy là chưa nói rằng lại còn cửa hiệu phở quá vụng về muốn có nước dùng ngọt lại cho đường vào nữa. Ăn phải một bát phở như thế, không những tiếc tiền, mà lại còn thấy phí phạm cả cái công ăn, đến sinh ra lợm giọng, bực mình là khác.<br />
<br />
Vì thế, người ăn phở muốn cho thật đúng cung cách, phải thăm dò, phải điều tra, phải thí nghiệm kỹ càng rồi mới ăn mà một khi đã chịu giọng rồi, ta có thể tin chắc rằng người đó sẽ là một người khách trung thành, cũng như một người đàn ông nghệ sĩ trung thành với hơi hướng của một người yêu, cũng như một người chồng mê vợ vì người vợ đã có tài làm một hai món khéo, ăn vào hợp giọng.<br />
<br />
* * *<br />
Chính vì lẽ đó, chúng ta đã từng thấy có những người vất vả vì ăn phở. Trước kia, còn thái bình, ta đã từng thấy có buổi sáng, hàng trăm người chen chúc khổ sở vào cái ngõ con bề ngang không quá một thước ở phố Hàng Khay, bên cạnh nhà Bát Si Nha hay xuống tận đằng sau chợ Hôm, trong một cái quán lá tồi tàn để thưởng thức cho kỳ được một hay hai bát phở mới yên tâm.<br />
<br />
Thời đó, nổi tiếng có anh phở Sứt sáng lập ra món phở giò (lấy thịt bò quận lại như cái dăm bông rồi thái mỏng từng khoanh nhỏ điểm vào với thịt). Phở Nhà thương Phủ Doãn ăn được nhưng nước hơi nhạt; phở Đông Mỹ ở phố Mới ăn êm, nhưng tẩy gừng hơi quá tay; phở Cống Vọng, kéo xe, ngon, nhưng nước dùng hơi hôi; phở Mũ Đỏ ở đằng sau miếu chợ Hôm vô thưởng vô phạt, ăn khá, nhưng chưa có gì quyến rũ.<br />
<br />
Còn một anh phở nữa là anh phở Tàu Bay lúc đó cũng nổi tiếng lắm; sáng sáng, người ta đứng đầy cả ra ở ngã ba đầu Hàm Long, xế cửa Sở Hưu bổng để mà tranh nhau ăn, như thể lúc mới hồi cư, người ta tranh nhau đứng lĩnh “bông” sữa, bông vải vậy. Thịt mềm, nước cũng đã ngọt, nhưng thật ra thì chưa có thể gọi là trác tuyệt.<br />
<br />
Phải đợi đến lúc hồi cư về, ta mới thấy, phong trào phở tiến nhanh và tiến mạnh như thế nào. Họa hoằn về phía chợ Đuổi mới thấy một hai hàng phở xe. Còn thì là phở gánh và phở hiệu.<br />
<br />
Một gian nhà đổ căng một cái bạt, bắc vài cái ghế; một cổng đình chắn một tấm phên tre; một cái ngõ, che mấy tấm tôn và kê một hai tấm ghế dài: thế là đã thành ra một cửa hàng rồi, ngồi ăn được, mà rất có thể lại ngon lành là khác.<br />
Bởi vì ta phải biết rằng, người đi ăn phở - nói cho thật đúng nghĩa chữ ăn phở - không kỳ quản lắm đến sự bài trí của chỗ ăn, cũng như người ăn thuốc phiện, nghiện tiệm, không cứ là phải nằm hút ở một chỗ sang trọng có dọc đẹp, đèn pha lê và tiêm móc làm bằng bạc.<br />
<br />
Nếu ta đã từng thấy có những người giàu có, nghiện thuốc phiện, chui vào những cầu gác bẩn thỉu, hôi hám để ăn thuốc mới thấy “đã thèm”. Thì ta lại cũng thấy biết bao nhiêu người sang trọng lần mò tới chỗ rất tồi tàn để ăn cho được một hai bát phở.<br />
<br />
Đó là do người ăn phở sành, hầu hết, chỉ chủ tâm đến cái điểm chính là phở mà thôi, chứ không quan tâm đến ngoại cảnh làm gì. Điều cần thiết là bánh phải mỏng và dẻo, thịt mềm, và nhất là nước dùng phải ngọt, ngọt kiểu chân thật, nghĩa là ngọt vì nhiều xương, tẩy vừa vặn không nồng, mà lại tra vừa mắm muối, không mặn quá mà không nhạt quá.<br />
Đạt được mấy điểm đó tức là ăn phở được đấy.<br />
<br />
Vào khoảng 1948-1949, phở Phú Xuân ở phố Rixô ăn được; đồng thời có phở Đông Mỹ, phở Tứ. Phở Tứ, phở Tàu Bay (bây giờ đã dọn thành cửa hiệu) và một ít hàng nữa mà ta không kể hết. Nhưng phở nào hình như cũng chỉ có một thời. Vì thế, nhiều hiệu và nhiều gánh phở có tiếng bây giờ nằm ngủ ở trên danh vọng. Người ta nghiệm thấy điều này: phần nhiều hàng phở lúc còn gánh thì ngon, mà dọn thành cửa hàng rồi thì kém.<br />
<br />
Có phải đó là vì chểnh mảng trong sự cố gắng, hay là vì thành kiến của người ăn?<br />
Duy ta có thể chắc được điểm này là một hàng phở đương làm ngon mà sút kém đi thì chỉ trong một tuần lễ, nửa tháng, cả Hà Nội đều biết rõ; trái lại, mới có một hàng phở nào làm ăn được thì cũng chỉ dăm bữa, mươi ngày là cả Hà Nội cùng đổ xô ngay đến để mà “nếm thử”, không cần phải quảng cáo lên nhật báo lấy một dòng!<br />
Âu đó cũng là một điểm đặc biệt trong thương trường vậy.<br />
<br />
Nhiều người cho rằng sở dĩ thế ấy là vì món phở đứng cao hơn mọi sự lừa bịp của thời này: phở ngon là ngon, chứ không thể lừa dối người ta được.<br />
<br />
Mà lừa dối làm sao?<br />
Một người lầm, nhưng không thể một nghìn người lầm được. Người ta ăn phở có phải là tiêu hóa rồi mà thôi đâu? Không.<br />
Cũng như đọc một áng văn hay, gấp sách lại mà còn dư âm phảng phất, còn suy nghĩ, còn trầm mặc, người ta ăn phở xong cũng đắn đo ngẫm nghĩ, rồi có khi đem thảo luận với anh em, nhất là các công chức và các tay thương gia rỗi thì giờ thì lại luận bàn kỹ lắm.<br />
<br />
Thì ra phở không những là một món ăn, một sự thích thú cho khứu giác, mà còn là cả một vấn đề; vấn đề ăn phở, vấn đề làm phở.<br />
<br />
Muốn thấu triệt hai phương diện của vấn đề, chúng ta cần phải bỏ mấy tiếng đồng hồ lên trước cửa trường Hàng Than để quan sát một hàng phở nổi danh nhất bấy giờ: phở Tráng - mà có người yêu mến quá mức đã gọi (chẳng biết đùa hay thực?) là “vua phở 1952"<br />
Tráng là tên ông “vua phở” này. Nhưng người ta không gọi anh bằng tên, cũng như người ta ít khi gọi những hàng phở ngon bằng tên của người bán, mà gọi bằng tên phố người hàng phở đứng bán (như phở Tráng thì gọi là phở Hàng Than, phở Sứt thì gọi là phở Hàng Khay), hoặc gọi bằng sướt hiệu (như phở Lùn, phở Cụt, phở Mũ Đỏ) hoặc gọi bằng đặc điểm nào đó của cái cửa hàng (phở xe đầu Hàng Cá), hoặc gọi bằng tên tự (như phở Đông Mỹ, phở Tân Tân, Phú Xuân) và có khi lại gọi bằng một phù hiệu (như phở Tàu Bay, Tàu Bò)...<br />
Vậy thì ông vua ấy tên là Tráng, nhưng người ta vẫn gọi là phở Hàng Than.<br />
<br />
Hình thù, vóc dáng của anh ta trông thật nản. Người gầy, môi hơi thưỡi, mắt thì lờ đờ như người chết rồi. Bất cứ lúc nào, nhìn thấy anh, ông cũng cảm giác đó là một người vừa mới thăng đồng, đương sống trong một cái thế giới u minh; thêm vào đó, lại bịt ở trên đầu một cái mùi soa trắng, trông mới lại càng... “thiểu số”.<br />
<br />
Người đâu mà lại “lỳ xì” đến thế là cùng! Hàng năm bảy chục người, hàng tám chín chục người đứng vòng lấy gánh hàng của anh ta, chật cả một cái hè đường để mua ăn, để “đòi ăn” - phải, họ đòi ăn thật - mà anh ta cứ làm như thể không trông thấy gì, không nghe thấy gì.<br />
<br />
Anh ta cứ thản nhiên, thái thịt, dốc nước mắm, rưới nước dùng - ai đợi lâu, mặc; ai phát bẳn lên; mặc; mà ai chửi, anh ta cũng mặc.<br />
<br />
Đi ôtô đến ăn cũng thế, mặc áo vải đến ăn cũng thế; các bà các cô đẹp đáo để, đến ăn cũng thế. Anh ta không đặc biệt riêng với ai - kể cũng dân chủ đấy! - nhưng có nhiều bà tức vì anh ta không nịnh đầm.<br />
<br />
Ghét quá. Thế thì thuê một cái nhà rộng, mượn thêm người làm có phải lợi không? Hay là điều đình với xưởng củi người ta để cho một gian, bày mấy cái bàn, cái ghế, có người trông nom, tính tiền cẩn thận có phải không mất mát không?<br />
Mặc cho ông cứ nói, anh phở Tráng không trả lời - nhất là không bao giờ cười.<br />
<br />
Trông mà lộn ruột, muốn tát cho một cái. Chết một nỗi ghét người thì thế, nhưng đến cái phở của anh ta muốn ghét, không tài nào ghét được.<br />
<br />
Có ai chen chúc vất vả, hò hét đứt hơi được một bát phở của anh, mà lại chưa ăn ngay, còn dừng lại một phút để ngắm nghía, phân tách bát phở đó ra thế nào không?<br />
<br />
Thật là kỳ lạ! Bánh phở không trắng và dẻo hơn, thịt thì cũng chẳng nhiều, nhưng mà làm sao ngon lạ, ngon lùng đến thế? Chưa ăn đã biết là ngon rồi.<br />
<br />
Cứ nhìn bát phở không thôi, cũng thú. Một nhúm bánh phở; một ít hành hoa thái nhỏ, điểm mấy ngọn rau thơm xanh biêng biếc; mấy nhát gừng màu vàng thái mướt như tơ; mấy miếng ớt mỏng vừa đỏ màu hoa hiên vừa đỏ sẫm như hoa lựu... ba bốn thứ màu sắc đó cho ta cái cảm giác được ngắm một bức họa lập thể của một họa sĩ trong phái văn nghệ tiền tiến dùng màu sắc hơi lố lỉnh, hơi bạo quá, nhưng mà đẹp mắt.<br />
<br />
Trên tất cả mấy thứ đó, người bán hàng bây giờ mới thái thịt bò từng miếng bày lên.<br />
<br />
Đến đây thì Tráng vẫn không nói năng gì, nhưng tỏ ra biết chiều ý khách hàng một cách đáng yêu.<br />
<br />
Ông muốn xơi chỗ thịt nào cũng có: vè, sụn nạm, mỡ gầu, mỡ lật, vừa mỡ vừa nạc, vừa nạm vừa sụn, thứ gì anh ta cũng chọn cho kỳ được vừa ý ông - miễn là ông đến xơi phở đừng muộn quá.<br />
<br />
Ăn phở chín thì như thế là xong, chỉ còn phải lấy nước dùng và rắc một chút hạt tiêu, hay vắt mấy giọt chanh (nếu không là tí dấm).<br />
<br />
Nếu ông lại thích vừa tái vừa chín thì trước khi rưới nước dùng, anh Tráng vốc một ít thịt tái đã thái sẵn để ở trong một cái bát ôtô, bày lên trên cùng rồi mới rưới nước dùng sau.<br />
<br />
Thế là “bài thơ phở” viết xong rồi đấy, mời ông cầm đũa. Húp một tí nước thôi, đừng nhiều nhé! Ông đã thấy tỉnh người rồi phải không?<br />
<br />
Nước dùng nóng lắm đấy, nóng bỏng rẫy lên, nhưng ăn phở có như thế mới ngon. Thịt thì mềm, bánh thì dẻo, thỉnh thoảng lại thấy cay cái cay của gừng, cay cái cay của hạt tiêu, cay cái cay của ớt; thỉnh thoảng lại thấy thơm nhè nhẹ cái thơm của hành hoa, thơm hăng hắc cái thơm của rau thơm, thơm dìu dịu cái thơm của thịt bò tươi và mềm... rồi thì hòa hợp tất cả những vị đó lại, nước dùng ngọt cứ lừ đi, ngọt một cách hiền lành, êm dịu, ngọt một cách thành thực, thiên nhiên, không có chất gì là hóa học... không, ông phải thú nhận với tôi đi: “Có phải ăn một bát phở như thế thì khoan khoái quá, phải không?”<br />
Quả vậy, ăn một bát phở như thế, phải nói rằng có thể “lâm li” hơn là nghe thấy một câu nói hữu tình của người yêu, ăn một bát phở như thế, thú có thể ví như sau một thời gian xa cách, được ngã vào trong vòng tay một người vợ đẹp mà lại đa tình vậy!<br />
<br />
Y hẳn cũng có người cảm giác như tôi, cho nên biết bao nhiêu bận đứng chờ làm phở, tôi đã thấy những người đàn bà, đàn ông, người già, trẻ con, bưng lấy bát phở mà đôi mắt sáng ngời lên. Người ta chờ lâu thì bực thật đấy, nhưng cũng vẫn cứ chờ cho được, tuồng như đã đến mà không được ăn thì chính mình lại phải tội với mình, vì đã đánh lừa thần khẩu - hay nói một cách khác, đến đấy mà không cố ăn cho kỳ được thì rồi sẽ hối hận như một người tình đã để lỡ cơ hội chiếm người yêu...<br />
Nhưng mà dù thiết tha đến bực nào, ông cũng rất có thể một hôm nào đó bị ra về mà không được ăn - dù một bát thôi. Ấy là vì chỉ độ chín giờ, chín rưỡi thì thường là phở Hàng Than đã hết.<br />
<br />
Cho nên những người thật nghiện phở thường vẫn rủ nhau đi ăn thật sớm. Theo lời họ nói lại, muốn thưởng thức hoàn toàn hương vị phở Hàng Than, cần phải dậy đi ăn từ sáu giờ, vào lúc trời chưa sáng hẳn. Lúc đó, trời mờ mờ chưa rõ mặt người, phố xá họa hoằn mới có dăm ba người qua lại. Anh đi ăn sẽ thấy một cái thú khác lạ nữa là ăn ngon trong tịch mịch, ăn ngon trong không khí trong lành.<br />
<br />
Khách chưa có ai, anh muốn ăn kiểu gì, muốn xơi chỗ thịt nào, muốn dùng nước thịt bò tươi rưới lên bánh, muốn có mỡ lật, mỡ gầu, muốn nước trong hay béo, tha hồ mà hạch! Anh được như ý và anh sẽ vừa ăn vừa nhìn mấy thanh củi tạ ở trong lò kêu lách tách và bắn ra ngoài trời sắc sữa những hoa lửa vi ti màu đỏ tươi.<br />
* * *<br />
Dù sao, ta cũng phải nhận rằng đến vấn đề ăn phở thì người Việt Nam quả là khó tính lạ lùng.<br />
Một người bạn đã từng nếm đủ hương vị của tất cả những hàng phở danh tiếng ở Hà thành khoảng ba mươi năm trở lại đây, một hôm, cho tôi biết rằng: “Đến cái năm 1952 này, phở hình như đã tiến tới chỗ tuyệt đỉnh của nó rồi, cũng như một bản nhạc tuyệt kỹ... không chê vào đâu được, nghĩa là không thể thêm một món gì hay giảm một món gì”.<br />
<br />
Theo anh ta thì phở mà cho magi vào thì rất hỏng mà quấy “lạp chiếu chương” vào cũng lại dở vô cùng. Phải là hoàn toàn gia vị Việt Nam mới được: hồ tiêu Bắc, chanh, ớt, hành hoa, rau thơm hay là một tí mùi, thế thôi, ngoại giả cấm hết, không có thì là tục đấy!<br />
<br />
Có người kể chuyện rằng trước đây mười lăm, hai mươi năm, đã có một hàng phở ở phố Mới tìm lối cải cách phở, cũng như Năm Châu, Phùng Há dạo nào cải cách cải lương Nam kỳ, tung ra sân khấu những bản “De đơ dà múa”. Họ cho mà dầu và đậu phụ vào phở, nhưng cố nhiên là thất bại.<br />
<br />
Sau còn có người làm phở cho cà rốt thái nhỏ, hay làm phở ăn đệm với đu đủ ngâm giấm hoặc là cần Tây, nhưng thảy thảy đều hỏng bét vì cái bản nhạc soạn bừa bãi như thế, nó không... êm giọng chút nào.<br />
Một chú khách ở chợ Hôm, chuyên về lối “phở nhừ”, bánh thì thái to, thịt thì thái con cờ hầm chín, nước cho húng lìu, một dạo cũng đã làm cho người nói tới, song những người sành phở chỉ dùng một vài lần thôi, vì không những đã không có vị phở, thịt ăn lại bã, mà nước thì đục mà ngấy quá.<br />
<br />
Một hàng phở ngon là một hàng phở ăn một bát, lại muốn ăn hai và nếu còn sức ăn nữa thì phải ăn ba không thấy chán.<br />
Gặp phải ngày ta se mình, ngửi mùi thịt thấy sợ, hàng phở ngon vẫn có thể làm cho ta ăn ngon miệng với một bát phở chay, chỉ có bánh và nước thôi. Làm như thế mà ngon, thế mới là ngon đấy.<br />
<br />
Một bát phở vừa tái vừa chín ngon, chưa đủ để định giá trị của hàng phở được; muốn biết chân giá trị của nó, theo lời người biết ăn phở, phải là thứ phở chín không thôi, phở chín mà ngon thì mới thật là ngon đấy.<br />
<br />
Thực ra, điều quan hệ trong một bát phở là cái bánh, nhưng thứ nhứt, như trên kia đã nói, cần phải có nước dùng thật ngọt. Bí quyết là ở chỗ đó. Và tất cả những hàng phở ngon đều giữ cái bí quyết ấy rất kín đáo, y như người Tàu giữ của, vì thế cho nên trong làng ăn phở, vấn đề nước vẫn là một vấn đề then chốt để cho người ta tranh luận.<br />
Hầu hết người ta đều nhận thấy rằng muốn có một nồi nước dùng ngon, cần phải pha mì chính. Nhưng chưa chắc thế đã hoàn toàn là phải.<br />
<br />
Thuyết cho đường nhất định là bị loại rồi. Có người cho rằng phải có nhiều đầu cá mực bỏ vào; có người chủ trương cần phải có thứ nước mắm tốt lại có người quả quyết với tôi rằng muốn có nước dùng ngọt, không thể thoát được món cua đồng - cua đồng giã nhỏ ra, lọc lấy nước, cho vào hầm với nhiều xương ống, nhưng phải chú ý tẩy cho thật khéo, mà cũng đừng ninh kỹ quá sợ nồng.<br />
<br />
Đến bây giờ, ai đã thật biết cái bí mật ấy chưa? Riêng tôi, tôi cũng đã tìm tòi suy nghĩ rất cẩn thận mỗi khi trịnh trọng nâng một bát phở lên ăn, nhưng thú thực, tôi vẫn chưa biết rằng trong tất cả những “giả<br />
thuyết” về “phương pháp làm nước dùng phở” người ta kể ra đó, giả thuyết nào là đúng.<br />
Kết cục, tôi đã gạt bỏ tất cả những sự băn khoăn đó sang một bên và không buồn nghĩ nữa, vì tôi thấy rằng ăn một miếng phở, húp một tí nước dùng ngon thỉnh thoảng điểm một lá thơm hăng ngát mà không biết tại sao phở lại ngon như thế thì có phần hứng thú hơn là mình biết rõ ràng quá cái bí quyết ngon của phở.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">* Từ Món lạ Miền Nam sẵn lôi cái này về luôn, thỉnh thoảng nhâm nhi đọc lại cũng coi như cách ẩm thực ngôn ngữ...</span><br />
<br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"> PHỞ BÒ</span></div>
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">MÓN QUÀ CĂN BẢN</span><br />
<br />
Sao lại là quà căn bản?<br />
Vâng, chính thế; người ta có thể nói rằng người Việt Nam có thể không ăn bánh bao, bánh bẻ, có thể không ăn mằn thắn hay mì, có thể không ăn xôi lúa, nhưng chắc chắn là ai cũng đã từng ăn phở.<br />
<br />
Rẻ lắm. Theo giá trị của đồng bạc bây giờ năm đồng một bát phở, mà ba đồng cũng được một bát phở ngon như thường.<br />
Vì thế, từ cô bán hàng trong một cửa hiệu buôn cho đến một ông công chức, từ một bà mệnh phụ nhà có cửa võng sơn son thiếp vàng, đến một người thợ vắt mũi không đủ nuôi miệng, ai cũng ăn bát phở. Ngon miệng thì ăn hai, riêng tôi thì tôi đã từng thấy có người điểm tâm buổi sáng tới ba bát liền, mỗi bát tám đồng, vị chi hai mươi bốn, hai mươi nhăm đồng bạc.<br />
Thật thế, phở đối với một hạng người, không còn là một món ăn nữa, mà là một thứ nghiện như nghiện thuốc lào, thuốc lá, trà tươi, thuốc phiện.<br />
<br />
Ngay từ ở đằng xa, mùi phở cũng đã có một sức huyền bí quyến rũ ta như mây khói chùa Hương đẩy bước chân ta, thúc bách ta phải trèo lên đỉnh núi để vào chùa trong rồi lại ra chùa ngoài. Ta tiến lại gần một cửa hàng bán phở, thật là cả một bài trí nên thơ. Qua lần cửa kính ta đã thấy gì? Một bó hành hoa xanh như lá mạ, dăm quả ớt đỏ buộc vào một cái dây, vài miếng thịt bò tươi và mềm, chín có, tái có, sụn có, mỡ gầu có, vè cũng có... Người bán hàng đứng thái bánh, thái thịt luôn tay, thỉnh thoảng lại mở nắp một cái thùng sắt ra để lấy nước dùng chan vào bát. Một làn khói tỏa ra khắp gian hàng, bao phủ những người ngồi ăn ở chung quanh trong một làn sương mỏng, mơ hồ như một bức tranh Tàu vẽ những ông tiên ngồi đánh cờ ở trong rừng mùa thu.<br />
<br />
Trông mà thèm quá! Nhất là về mùa rét, có gió bấc thổi hiu hiu, mà thấy người ta ăn phở như thế, thì chính mình đứng ở ngoài cũng thấy ấm áp ngon lành. Có ai lại đừng vào ăn cho được...<br />
Ấy vậy mà người sành ăn phở, người ăn phở kỹ càng không thể dễ tính, nhất tề bước vào một cửa hiệu phở thứ nhất nào để mà ăn liều ăn lĩnh.<br />
<br />
Bởi vì những người sành ăn đó, thường không tin gì cho lắm ở những hàng phở mở cửa hàng. Người ta bảo rằng phần nhiều những hàng phở mở hiệu như thế, nước dùng không được ngọt, hoặc có ngọt là cái ngọt của mì chính, chứ không phải là cái ngọt của xương bò, ấy là chưa nói rằng lại còn cửa hiệu phở quá vụng về muốn có nước dùng ngọt lại cho đường vào nữa. Ăn phải một bát phở như thế, không những tiếc tiền, mà lại còn thấy phí phạm cả cái công ăn, đến sinh ra lợm giọng, bực mình là khác.<br />
<br />
Vì thế, người ăn phở muốn cho thật đúng cung cách, phải thăm dò, phải điều tra, phải thí nghiệm kỹ càng rồi mới ăn mà một khi đã chịu giọng rồi, ta có thể tin chắc rằng người đó sẽ là một người khách trung thành, cũng như một người đàn ông nghệ sĩ trung thành với hơi hướng của một người yêu, cũng như một người chồng mê vợ vì người vợ đã có tài làm một hai món khéo, ăn vào hợp giọng.<br />
<br />
* * *<br />
Chính vì lẽ đó, chúng ta đã từng thấy có những người vất vả vì ăn phở. Trước kia, còn thái bình, ta đã từng thấy có buổi sáng, hàng trăm người chen chúc khổ sở vào cái ngõ con bề ngang không quá một thước ở phố Hàng Khay, bên cạnh nhà Bát Si Nha hay xuống tận đằng sau chợ Hôm, trong một cái quán lá tồi tàn để thưởng thức cho kỳ được một hay hai bát phở mới yên tâm.<br />
<br />
Thời đó, nổi tiếng có anh phở Sứt sáng lập ra món phở giò (lấy thịt bò quận lại như cái dăm bông rồi thái mỏng từng khoanh nhỏ điểm vào với thịt). Phở Nhà thương Phủ Doãn ăn được nhưng nước hơi nhạt; phở Đông Mỹ ở phố Mới ăn êm, nhưng tẩy gừng hơi quá tay; phở Cống Vọng, kéo xe, ngon, nhưng nước dùng hơi hôi; phở Mũ Đỏ ở đằng sau miếu chợ Hôm vô thưởng vô phạt, ăn khá, nhưng chưa có gì quyến rũ.<br />
<br />
Còn một anh phở nữa là anh phở Tàu Bay lúc đó cũng nổi tiếng lắm; sáng sáng, người ta đứng đầy cả ra ở ngã ba đầu Hàm Long, xế cửa Sở Hưu bổng để mà tranh nhau ăn, như thể lúc mới hồi cư, người ta tranh nhau đứng lĩnh “bông” sữa, bông vải vậy. Thịt mềm, nước cũng đã ngọt, nhưng thật ra thì chưa có thể gọi là trác tuyệt.<br />
<br />
Phải đợi đến lúc hồi cư về, ta mới thấy, phong trào phở tiến nhanh và tiến mạnh như thế nào. Họa hoằn về phía chợ Đuổi mới thấy một hai hàng phở xe. Còn thì là phở gánh và phở hiệu.<br />
<br />
Một gian nhà đổ căng một cái bạt, bắc vài cái ghế; một cổng đình chắn một tấm phên tre; một cái ngõ, che mấy tấm tôn và kê một hai tấm ghế dài: thế là đã thành ra một cửa hàng rồi, ngồi ăn được, mà rất có thể lại ngon lành là khác.<br />
Bởi vì ta phải biết rằng, người đi ăn phở - nói cho thật đúng nghĩa chữ ăn phở - không kỳ quản lắm đến sự bài trí của chỗ ăn, cũng như người ăn thuốc phiện, nghiện tiệm, không cứ là phải nằm hút ở một chỗ sang trọng có dọc đẹp, đèn pha lê và tiêm móc làm bằng bạc.<br />
<br />
Nếu ta đã từng thấy có những người giàu có, nghiện thuốc phiện, chui vào những cầu gác bẩn thỉu, hôi hám để ăn thuốc mới thấy “đã thèm”. Thì ta lại cũng thấy biết bao nhiêu người sang trọng lần mò tới chỗ rất tồi tàn để ăn cho được một hai bát phở.<br />
<br />
Đó là do người ăn phở sành, hầu hết, chỉ chủ tâm đến cái điểm chính là phở mà thôi, chứ không quan tâm đến ngoại cảnh làm gì. Điều cần thiết là bánh phải mỏng và dẻo, thịt mềm, và nhất là nước dùng phải ngọt, ngọt kiểu chân thật, nghĩa là ngọt vì nhiều xương, tẩy vừa vặn không nồng, mà lại tra vừa mắm muối, không mặn quá mà không nhạt quá.<br />
Đạt được mấy điểm đó tức là ăn phở được đấy.<br />
<br />
Vào khoảng 1948-1949, phở Phú Xuân ở phố Rixô ăn được; đồng thời có phở Đông Mỹ, phở Tứ. Phở Tứ, phở Tàu Bay (bây giờ đã dọn thành cửa hiệu) và một ít hàng nữa mà ta không kể hết. Nhưng phở nào hình như cũng chỉ có một thời. Vì thế, nhiều hiệu và nhiều gánh phở có tiếng bây giờ nằm ngủ ở trên danh vọng. Người ta nghiệm thấy điều này: phần nhiều hàng phở lúc còn gánh thì ngon, mà dọn thành cửa hàng rồi thì kém.<br />
<br />
Có phải đó là vì chểnh mảng trong sự cố gắng, hay là vì thành kiến của người ăn?<br />
Duy ta có thể chắc được điểm này là một hàng phở đương làm ngon mà sút kém đi thì chỉ trong một tuần lễ, nửa tháng, cả Hà Nội đều biết rõ; trái lại, mới có một hàng phở nào làm ăn được thì cũng chỉ dăm bữa, mươi ngày là cả Hà Nội cùng đổ xô ngay đến để mà “nếm thử”, không cần phải quảng cáo lên nhật báo lấy một dòng!<br />
Âu đó cũng là một điểm đặc biệt trong thương trường vậy.<br />
<br />
Nhiều người cho rằng sở dĩ thế ấy là vì món phở đứng cao hơn mọi sự lừa bịp của thời này: phở ngon là ngon, chứ không thể lừa dối người ta được.<br />
<br />
Mà lừa dối làm sao?<br />
Một người lầm, nhưng không thể một nghìn người lầm được. Người ta ăn phở có phải là tiêu hóa rồi mà thôi đâu? Không.<br />
Cũng như đọc một áng văn hay, gấp sách lại mà còn dư âm phảng phất, còn suy nghĩ, còn trầm mặc, người ta ăn phở xong cũng đắn đo ngẫm nghĩ, rồi có khi đem thảo luận với anh em, nhất là các công chức và các tay thương gia rỗi thì giờ thì lại luận bàn kỹ lắm.<br />
<br />
Thì ra phở không những là một món ăn, một sự thích thú cho khứu giác, mà còn là cả một vấn đề; vấn đề ăn phở, vấn đề làm phở.<br />
<br />
Muốn thấu triệt hai phương diện của vấn đề, chúng ta cần phải bỏ mấy tiếng đồng hồ lên trước cửa trường Hàng Than để quan sát một hàng phở nổi danh nhất bấy giờ: phở Tráng - mà có người yêu mến quá mức đã gọi (chẳng biết đùa hay thực?) là “vua phở 1952"<br />
Tráng là tên ông “vua phở” này. Nhưng người ta không gọi anh bằng tên, cũng như người ta ít khi gọi những hàng phở ngon bằng tên của người bán, mà gọi bằng tên phố người hàng phở đứng bán (như phở Tráng thì gọi là phở Hàng Than, phở Sứt thì gọi là phở Hàng Khay), hoặc gọi bằng sướt hiệu (như phở Lùn, phở Cụt, phở Mũ Đỏ) hoặc gọi bằng đặc điểm nào đó của cái cửa hàng (phở xe đầu Hàng Cá), hoặc gọi bằng tên tự (như phở Đông Mỹ, phở Tân Tân, Phú Xuân) và có khi lại gọi bằng một phù hiệu (như phở Tàu Bay, Tàu Bò)...<br />
Vậy thì ông vua ấy tên là Tráng, nhưng người ta vẫn gọi là phở Hàng Than.<br />
<br />
Hình thù, vóc dáng của anh ta trông thật nản. Người gầy, môi hơi thưỡi, mắt thì lờ đờ như người chết rồi. Bất cứ lúc nào, nhìn thấy anh, ông cũng cảm giác đó là một người vừa mới thăng đồng, đương sống trong một cái thế giới u minh; thêm vào đó, lại bịt ở trên đầu một cái mùi soa trắng, trông mới lại càng... “thiểu số”.<br />
<br />
Người đâu mà lại “lỳ xì” đến thế là cùng! Hàng năm bảy chục người, hàng tám chín chục người đứng vòng lấy gánh hàng của anh ta, chật cả một cái hè đường để mua ăn, để “đòi ăn” - phải, họ đòi ăn thật - mà anh ta cứ làm như thể không trông thấy gì, không nghe thấy gì.<br />
<br />
Anh ta cứ thản nhiên, thái thịt, dốc nước mắm, rưới nước dùng - ai đợi lâu, mặc; ai phát bẳn lên; mặc; mà ai chửi, anh ta cũng mặc.<br />
<br />
Đi ôtô đến ăn cũng thế, mặc áo vải đến ăn cũng thế; các bà các cô đẹp đáo để, đến ăn cũng thế. Anh ta không đặc biệt riêng với ai - kể cũng dân chủ đấy! - nhưng có nhiều bà tức vì anh ta không nịnh đầm.<br />
<br />
Ghét quá. Thế thì thuê một cái nhà rộng, mượn thêm người làm có phải lợi không? Hay là điều đình với xưởng củi người ta để cho một gian, bày mấy cái bàn, cái ghế, có người trông nom, tính tiền cẩn thận có phải không mất mát không?<br />
Mặc cho ông cứ nói, anh phở Tráng không trả lời - nhất là không bao giờ cười.<br />
<br />
Trông mà lộn ruột, muốn tát cho một cái. Chết một nỗi ghét người thì thế, nhưng đến cái phở của anh ta muốn ghét, không tài nào ghét được.<br />
<br />
Có ai chen chúc vất vả, hò hét đứt hơi được một bát phở của anh, mà lại chưa ăn ngay, còn dừng lại một phút để ngắm nghía, phân tách bát phở đó ra thế nào không?<br />
<br />
Thật là kỳ lạ! Bánh phở không trắng và dẻo hơn, thịt thì cũng chẳng nhiều, nhưng mà làm sao ngon lạ, ngon lùng đến thế? Chưa ăn đã biết là ngon rồi.<br />
<br />
Cứ nhìn bát phở không thôi, cũng thú. Một nhúm bánh phở; một ít hành hoa thái nhỏ, điểm mấy ngọn rau thơm xanh biêng biếc; mấy nhát gừng màu vàng thái mướt như tơ; mấy miếng ớt mỏng vừa đỏ màu hoa hiên vừa đỏ sẫm như hoa lựu... ba bốn thứ màu sắc đó cho ta cái cảm giác được ngắm một bức họa lập thể của một họa sĩ trong phái văn nghệ tiền tiến dùng màu sắc hơi lố lỉnh, hơi bạo quá, nhưng mà đẹp mắt.<br />
<br />
Trên tất cả mấy thứ đó, người bán hàng bây giờ mới thái thịt bò từng miếng bày lên.<br />
<br />
Đến đây thì Tráng vẫn không nói năng gì, nhưng tỏ ra biết chiều ý khách hàng một cách đáng yêu.<br />
<br />
Ông muốn xơi chỗ thịt nào cũng có: vè, sụn nạm, mỡ gầu, mỡ lật, vừa mỡ vừa nạc, vừa nạm vừa sụn, thứ gì anh ta cũng chọn cho kỳ được vừa ý ông - miễn là ông đến xơi phở đừng muộn quá.<br />
<br />
Ăn phở chín thì như thế là xong, chỉ còn phải lấy nước dùng và rắc một chút hạt tiêu, hay vắt mấy giọt chanh (nếu không là tí dấm).<br />
<br />
Nếu ông lại thích vừa tái vừa chín thì trước khi rưới nước dùng, anh Tráng vốc một ít thịt tái đã thái sẵn để ở trong một cái bát ôtô, bày lên trên cùng rồi mới rưới nước dùng sau.<br />
<br />
Thế là “bài thơ phở” viết xong rồi đấy, mời ông cầm đũa. Húp một tí nước thôi, đừng nhiều nhé! Ông đã thấy tỉnh người rồi phải không?<br />
<br />
Nước dùng nóng lắm đấy, nóng bỏng rẫy lên, nhưng ăn phở có như thế mới ngon. Thịt thì mềm, bánh thì dẻo, thỉnh thoảng lại thấy cay cái cay của gừng, cay cái cay của hạt tiêu, cay cái cay của ớt; thỉnh thoảng lại thấy thơm nhè nhẹ cái thơm của hành hoa, thơm hăng hắc cái thơm của rau thơm, thơm dìu dịu cái thơm của thịt bò tươi và mềm... rồi thì hòa hợp tất cả những vị đó lại, nước dùng ngọt cứ lừ đi, ngọt một cách hiền lành, êm dịu, ngọt một cách thành thực, thiên nhiên, không có chất gì là hóa học... không, ông phải thú nhận với tôi đi: “Có phải ăn một bát phở như thế thì khoan khoái quá, phải không?”<br />
Quả vậy, ăn một bát phở như thế, phải nói rằng có thể “lâm li” hơn là nghe thấy một câu nói hữu tình của người yêu, ăn một bát phở như thế, thú có thể ví như sau một thời gian xa cách, được ngã vào trong vòng tay một người vợ đẹp mà lại đa tình vậy!<br />
<br />
Y hẳn cũng có người cảm giác như tôi, cho nên biết bao nhiêu bận đứng chờ làm phở, tôi đã thấy những người đàn bà, đàn ông, người già, trẻ con, bưng lấy bát phở mà đôi mắt sáng ngời lên. Người ta chờ lâu thì bực thật đấy, nhưng cũng vẫn cứ chờ cho được, tuồng như đã đến mà không được ăn thì chính mình lại phải tội với mình, vì đã đánh lừa thần khẩu - hay nói một cách khác, đến đấy mà không cố ăn cho kỳ được thì rồi sẽ hối hận như một người tình đã để lỡ cơ hội chiếm người yêu...<br />
Nhưng mà dù thiết tha đến bực nào, ông cũng rất có thể một hôm nào đó bị ra về mà không được ăn - dù một bát thôi. Ấy là vì chỉ độ chín giờ, chín rưỡi thì thường là phở Hàng Than đã hết.<br />
<br />
Cho nên những người thật nghiện phở thường vẫn rủ nhau đi ăn thật sớm. Theo lời họ nói lại, muốn thưởng thức hoàn toàn hương vị phở Hàng Than, cần phải dậy đi ăn từ sáu giờ, vào lúc trời chưa sáng hẳn. Lúc đó, trời mờ mờ chưa rõ mặt người, phố xá họa hoằn mới có dăm ba người qua lại. Anh đi ăn sẽ thấy một cái thú khác lạ nữa là ăn ngon trong tịch mịch, ăn ngon trong không khí trong lành.<br />
<br />
Khách chưa có ai, anh muốn ăn kiểu gì, muốn xơi chỗ thịt nào, muốn dùng nước thịt bò tươi rưới lên bánh, muốn có mỡ lật, mỡ gầu, muốn nước trong hay béo, tha hồ mà hạch! Anh được như ý và anh sẽ vừa ăn vừa nhìn mấy thanh củi tạ ở trong lò kêu lách tách và bắn ra ngoài trời sắc sữa những hoa lửa vi ti màu đỏ tươi.<br />
* * *<br />
Dù sao, ta cũng phải nhận rằng đến vấn đề ăn phở thì người Việt Nam quả là khó tính lạ lùng.<br />
Một người bạn đã từng nếm đủ hương vị của tất cả những hàng phở danh tiếng ở Hà thành khoảng ba mươi năm trở lại đây, một hôm, cho tôi biết rằng: “Đến cái năm 1952 này, phở hình như đã tiến tới chỗ tuyệt đỉnh của nó rồi, cũng như một bản nhạc tuyệt kỹ... không chê vào đâu được, nghĩa là không thể thêm một món gì hay giảm một món gì”.<br />
<br />
Theo anh ta thì phở mà cho magi vào thì rất hỏng mà quấy “lạp chiếu chương” vào cũng lại dở vô cùng. Phải là hoàn toàn gia vị Việt Nam mới được: hồ tiêu Bắc, chanh, ớt, hành hoa, rau thơm hay là một tí mùi, thế thôi, ngoại giả cấm hết, không có thì là tục đấy!<br />
<br />
Có người kể chuyện rằng trước đây mười lăm, hai mươi năm, đã có một hàng phở ở phố Mới tìm lối cải cách phở, cũng như Năm Châu, Phùng Há dạo nào cải cách cải lương Nam kỳ, tung ra sân khấu những bản “De đơ dà múa”. Họ cho mà dầu và đậu phụ vào phở, nhưng cố nhiên là thất bại.<br />
<br />
Sau còn có người làm phở cho cà rốt thái nhỏ, hay làm phở ăn đệm với đu đủ ngâm giấm hoặc là cần Tây, nhưng thảy thảy đều hỏng bét vì cái bản nhạc soạn bừa bãi như thế, nó không... êm giọng chút nào.<br />
Một chú khách ở chợ Hôm, chuyên về lối “phở nhừ”, bánh thì thái to, thịt thì thái con cờ hầm chín, nước cho húng lìu, một dạo cũng đã làm cho người nói tới, song những người sành phở chỉ dùng một vài lần thôi, vì không những đã không có vị phở, thịt ăn lại bã, mà nước thì đục mà ngấy quá.<br />
<br />
Một hàng phở ngon là một hàng phở ăn một bát, lại muốn ăn hai và nếu còn sức ăn nữa thì phải ăn ba không thấy chán.<br />
Gặp phải ngày ta se mình, ngửi mùi thịt thấy sợ, hàng phở ngon vẫn có thể làm cho ta ăn ngon miệng với một bát phở chay, chỉ có bánh và nước thôi. Làm như thế mà ngon, thế mới là ngon đấy.<br />
<br />
Một bát phở vừa tái vừa chín ngon, chưa đủ để định giá trị của hàng phở được; muốn biết chân giá trị của nó, theo lời người biết ăn phở, phải là thứ phở chín không thôi, phở chín mà ngon thì mới thật là ngon đấy.<br />
<br />
Thực ra, điều quan hệ trong một bát phở là cái bánh, nhưng thứ nhứt, như trên kia đã nói, cần phải có nước dùng thật ngọt. Bí quyết là ở chỗ đó. Và tất cả những hàng phở ngon đều giữ cái bí quyết ấy rất kín đáo, y như người Tàu giữ của, vì thế cho nên trong làng ăn phở, vấn đề nước vẫn là một vấn đề then chốt để cho người ta tranh luận.<br />
Hầu hết người ta đều nhận thấy rằng muốn có một nồi nước dùng ngon, cần phải pha mì chính. Nhưng chưa chắc thế đã hoàn toàn là phải.<br />
<br />
Thuyết cho đường nhất định là bị loại rồi. Có người cho rằng phải có nhiều đầu cá mực bỏ vào; có người chủ trương cần phải có thứ nước mắm tốt lại có người quả quyết với tôi rằng muốn có nước dùng ngọt, không thể thoát được món cua đồng - cua đồng giã nhỏ ra, lọc lấy nước, cho vào hầm với nhiều xương ống, nhưng phải chú ý tẩy cho thật khéo, mà cũng đừng ninh kỹ quá sợ nồng.<br />
<br />
Đến bây giờ, ai đã thật biết cái bí mật ấy chưa? Riêng tôi, tôi cũng đã tìm tòi suy nghĩ rất cẩn thận mỗi khi trịnh trọng nâng một bát phở lên ăn, nhưng thú thực, tôi vẫn chưa biết rằng trong tất cả những “giả<br />
thuyết” về “phương pháp làm nước dùng phở” người ta kể ra đó, giả thuyết nào là đúng.<br />
Kết cục, tôi đã gạt bỏ tất cả những sự băn khoăn đó sang một bên và không buồn nghĩ nữa, vì tôi thấy rằng ăn một miếng phở, húp một tí nước dùng ngon thỉnh thoảng điểm một lá thơm hăng ngát mà không biết tại sao phở lại ngon như thế thì có phần hứng thú hơn là mình biết rõ ràng quá cái bí quyết ngon của phở.]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Món Lạ Miền Nam - Vũ Bằng]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1701.html</link>
			<pubDate>Sun, 29 Sep 2013 08:24:26 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=12">lanhdien</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1701.html</guid>
			<description><![CDATA[Giới viết lách khi nhắc đến con người này đều lắc đầu thán phục trước lối viết tả chân và cũng như những cảm thụ về ẩm thực rất độc đáo, một lối viết cho đến bây giờ vẫn khó có ai bì kịp với ông. Đó chính là Vũ Bằng với những tác phẩm tiêu biểu Miếng Ngon Hà Nội, Thương Nhớ Mười Hai, Món Lạ Miền Nam...<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">(nguồn cóp từ vnthuquan.net )</span><br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">MÓN LẠ MIỀN NAM</span><br />
<br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">DỰNG</span></div>
<br />
Có người đọc cuốn “Miếng ngon Hà Nội”(1) của tôi xong, thúc giục:<br />
- Miền Nam nước Việt có nhiều thức ngon lành lắm, sao không sưu tầm lại mà viết thành một cuốn nữa coi chơi?<br />
Tôi bỏ nhà đi lang bạt từ lúc mười bảy tuổi. Đến Sài Gòn dạo đó, tôi đã ăn nem Thủ Đức, thưởng thức phá lấu Lồ Ồ, ăn tóp mỡ nhiễn đường ở Sa Đéc, nếm suông ở Cây Mai, thịt bò bảy món Bà Hom, mì Cột Đèn Năm Ngọn.<br />
Rồi đến kỳ này, lại trở về quê ngoại mến thương, tôi đã thưởng thức nhiều món hơn, nhưng thú thực tôi không thấy các món đó có nói lên được cái gì mới mẻ, lạ lùng cho lắm.<br />
Có lẽ tô cá chìa vôi ngon thực, nhưng lòng còn gởi về cố lý nên cá rô đầm Sét vẫn là hơn, trái su su mát như da cô gái tuyết trinh, ô hay, sao lại như đăng đắng, mà miếng thịt gà muốn chế hóa cách gì đi nữa cũng vẫn cứ nhạt phèo?<br />
Mãi đến gần đây, tôi mới nhận ra rằng hương vị của những miếng ngon không hoàn toàn do nơi khẩu cái. Tự nhiên, không vì lý do gì hết, vào một buổi chiều xuống mầu kia, mình thấy miếng thịt gà đậm đà hơn, trái su su thoang thoảng ngọt và con cá chìa vôi ăn béo mà thơm.<br />
Ồ, tại sao lại thế?<br />
Thì ra ngon hay không là tự ở lòng mình. Chưa chắc miếng ngon miền Nam bây giờ khác trước. Nhưng người xa nhà cảm thấy ngon lành khác trước, có lẽ vì bây giờ y nhận thức được lòng thương yêu của những người ở chung quanh rõ rệt, đậm đà hơn trước.<br />
Đương buồn day dứt, có một anh bạn rủ về Cái Bè ăn ốc gạo; năm tàn nhớ quê, một cô ở Cao Lãnh mang biếu bánh in và ngồi ngay bên cạnh tách ra từng lát mỏng mời ăn; bà già vợ ở Rạch Giá lễ mễ đem cho mấy cái bánh tét bắp, ít khô tra, khô gộc và xôi vị... Tất cả những cái đó có nghĩa lý gì đâu, nhưng ăn thấy đậm đà, ý vị, vì mình ăn vào một miếng mà cảm thấy họ cho mình cả một tấm lòng.<br />
Thương biết bao là thương, mến chừng nào là mến! Nhưng mến thương sao cho bằng thương mến người vợ miền Nam xót xa người chồng Bắc xa nhà, nay làm món ăn này, mai làm món ăn khác, mong sao cho chồng khuây khỏa được nỗi buồn thiên lý tương tư.<br />
Dùng thịt nhiều xót ruột em nấu canh chua cá lóc anh xơi; chạo tôm quận vào mía lao ăn ngọt và bùi; nếu anh mệt thì dùng bát cháo chìa vôi nhé!<br />
Bánh bèo bì ở Bún nổi tiếng là ngon; tô mì Bà Điểm; hủ tíu chợ giữa Mỹ Tho; bánh in Cao Lãnh; nem Tân Hương ăn mịn xớt mà giòn; tôm nướng Tân Thuận Đông vừa thơm vừa ngọt.<br />
Gà nhúng hèm ngon nhất là Bình Hòa; con “móng tay” Long Hải; bưởi Tân Triều; măng Lái Thiêu; cam Cái Bè; dừa xiêm Mỹ; dưa hấu Cầu Ngang; con cá nhám rào thịt ngon lừ, ăn mát ruột mà lành; trứng chích, trứng diệt vừa bùi vừa béo; có cô con gái theo chồng ra tỉnh mà vẫn còn nhớ mãi nem nướng Đức Hòa, cá cháy Cái Vồn, măng le Bà Rịa ngon hỡi là ngon!<br />
Chồng mà không chịu ăn thì vợ đừ ngay ra mặt, khóc đòi về với bà già. Tôi yêu người vợ miền Nam thực thà như đếm, yêu ai thì yêu lộ liễu, thích cái gì thì muốn cho ai cũng biết rằng mình thích mới nghe! Đẹp thì muốn đẹp cho sắc sảo, áo quần phải làm sao cho nổi bật lên hơn cả quần áo của chúng chị em; mà ngày lễ và chủ nhật phải nèo chồng đi chơi cho kỳ được để cho người ta thấy hạnh phúc lứa đôi của mình.<br />
Miếng ngon của miền Nam cũng thành thật như người đàn bà vậy. Ăn một miếng, ngon ngay, nhưng ngon không phải do vị của chính thức ăn, mà là tại xạ và ớt làm nổi vị lên, điểm cho khẩu cái một tơ duyên ấm áp.<br />
Ăn như thế cũng có một cái thú riêng, nhưng làm cho người ta yêu hơn các món ăn của miền Nam, chưa chắc đã là vì các món ăn đó có nhiều ớt và nhiều sả, mà cũng không phải vì món ăn của miền Nam nịnh khẩu cái ta ngay, để rồi chỉ lưu lại một dư vị rất mong manh trong cuống họng.<br />
Tôi yêu miếng ngon miền Nam nhiều là vì nó lạ - lạ đến nhiều khi không thể tưởng tượng được - và chính những cái lạ đó đã cho tôi thấy rõ hơn tính chất thực thà, bộc lộ và chất phác của người Nam.<br />
Ăn cháo cóc; nhậu nhẹt đun chiên; nhắm món dơi xào lăn với bánh mì; ăn ve con lăn bột; nhắm nấm chàm... rồi tráng miệng bằng một ly chè rùa hay một chén mủ trôm... thoạt mới nghe, mấy mà du khách không phải cho là “lạ hoắc”, “kỳ cục” hay “ớn quá”!.<br />
Nhưng có thưởng thức đủ cả những món lạ đó của miền Nam, người ta mới thật nhận thức được đất của miền Nam nước Việt phong phú biết chừng nào, người của miền Nam nước Việt hồn nhiên biết chừng nào, và miếng lạ của miền Nam nước Việt lạ biết chừng nào!<br />
Có nhận thức như thế, ta mới thấy món lạ của miền Nam ngon hơn lên và ta yêu hơn lên người miền Nam nước Việt qua những món lạ đó, không từng thấy ở Bắc hay Trung.<br />
Tôi viết cuốn “Món lạ miền Nam” này để ghi một chút ân tình lại trong những ngày xa phần tử, được các người xa lạ thương yêu như mẹ thương con, như vợ thương chồng, như em gái thương anh, chăm bón cho những miếng ngon vật lạ để khuây khỏa nỗi lòng của người mang nặng bảy tám biệt ly một lúc.<br />
Có bạn nào con đẻ của miền Nam nước Việt lúc này ở nơi hải giác thiên nhai, tình cờ đọc sách này, thấy tha thiết với xứ sở của mình hơn; có bạn nào chưa tới miền Nam nước Việt mà đã thấy có cảm tình qua những miếng lạ mà tôi sẽ nói tới dưới đây hay có bạn nào từ nơi xa lạ đến, không tìm thấy sự ngon lành của nước Việt miền Nam mà vì loạt bài này thấy thương mến miền Nam, miếng ăn của miền Nam, đất nước miền Nam hơn, thế là tôi mãn nguyện.<br />
--------<br />
(<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">1) "Miếng ngon Hà Nội" in lần thứ nhất trên báo Mới (xuất bản ở Sài Gòn năm 1950-52, in thành sách năm 1955, Nhà xuất bản Nguyễn An Ninh) tái bản năm 1957 (Nhà xuất bản Nam Chi trong Kim Lai Tùng thư)</span>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Giới viết lách khi nhắc đến con người này đều lắc đầu thán phục trước lối viết tả chân và cũng như những cảm thụ về ẩm thực rất độc đáo, một lối viết cho đến bây giờ vẫn khó có ai bì kịp với ông. Đó chính là Vũ Bằng với những tác phẩm tiêu biểu Miếng Ngon Hà Nội, Thương Nhớ Mười Hai, Món Lạ Miền Nam...<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">(nguồn cóp từ vnthuquan.net )</span><br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">MÓN LẠ MIỀN NAM</span><br />
<br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">DỰNG</span></div>
<br />
Có người đọc cuốn “Miếng ngon Hà Nội”(1) của tôi xong, thúc giục:<br />
- Miền Nam nước Việt có nhiều thức ngon lành lắm, sao không sưu tầm lại mà viết thành một cuốn nữa coi chơi?<br />
Tôi bỏ nhà đi lang bạt từ lúc mười bảy tuổi. Đến Sài Gòn dạo đó, tôi đã ăn nem Thủ Đức, thưởng thức phá lấu Lồ Ồ, ăn tóp mỡ nhiễn đường ở Sa Đéc, nếm suông ở Cây Mai, thịt bò bảy món Bà Hom, mì Cột Đèn Năm Ngọn.<br />
Rồi đến kỳ này, lại trở về quê ngoại mến thương, tôi đã thưởng thức nhiều món hơn, nhưng thú thực tôi không thấy các món đó có nói lên được cái gì mới mẻ, lạ lùng cho lắm.<br />
Có lẽ tô cá chìa vôi ngon thực, nhưng lòng còn gởi về cố lý nên cá rô đầm Sét vẫn là hơn, trái su su mát như da cô gái tuyết trinh, ô hay, sao lại như đăng đắng, mà miếng thịt gà muốn chế hóa cách gì đi nữa cũng vẫn cứ nhạt phèo?<br />
Mãi đến gần đây, tôi mới nhận ra rằng hương vị của những miếng ngon không hoàn toàn do nơi khẩu cái. Tự nhiên, không vì lý do gì hết, vào một buổi chiều xuống mầu kia, mình thấy miếng thịt gà đậm đà hơn, trái su su thoang thoảng ngọt và con cá chìa vôi ăn béo mà thơm.<br />
Ồ, tại sao lại thế?<br />
Thì ra ngon hay không là tự ở lòng mình. Chưa chắc miếng ngon miền Nam bây giờ khác trước. Nhưng người xa nhà cảm thấy ngon lành khác trước, có lẽ vì bây giờ y nhận thức được lòng thương yêu của những người ở chung quanh rõ rệt, đậm đà hơn trước.<br />
Đương buồn day dứt, có một anh bạn rủ về Cái Bè ăn ốc gạo; năm tàn nhớ quê, một cô ở Cao Lãnh mang biếu bánh in và ngồi ngay bên cạnh tách ra từng lát mỏng mời ăn; bà già vợ ở Rạch Giá lễ mễ đem cho mấy cái bánh tét bắp, ít khô tra, khô gộc và xôi vị... Tất cả những cái đó có nghĩa lý gì đâu, nhưng ăn thấy đậm đà, ý vị, vì mình ăn vào một miếng mà cảm thấy họ cho mình cả một tấm lòng.<br />
Thương biết bao là thương, mến chừng nào là mến! Nhưng mến thương sao cho bằng thương mến người vợ miền Nam xót xa người chồng Bắc xa nhà, nay làm món ăn này, mai làm món ăn khác, mong sao cho chồng khuây khỏa được nỗi buồn thiên lý tương tư.<br />
Dùng thịt nhiều xót ruột em nấu canh chua cá lóc anh xơi; chạo tôm quận vào mía lao ăn ngọt và bùi; nếu anh mệt thì dùng bát cháo chìa vôi nhé!<br />
Bánh bèo bì ở Bún nổi tiếng là ngon; tô mì Bà Điểm; hủ tíu chợ giữa Mỹ Tho; bánh in Cao Lãnh; nem Tân Hương ăn mịn xớt mà giòn; tôm nướng Tân Thuận Đông vừa thơm vừa ngọt.<br />
Gà nhúng hèm ngon nhất là Bình Hòa; con “móng tay” Long Hải; bưởi Tân Triều; măng Lái Thiêu; cam Cái Bè; dừa xiêm Mỹ; dưa hấu Cầu Ngang; con cá nhám rào thịt ngon lừ, ăn mát ruột mà lành; trứng chích, trứng diệt vừa bùi vừa béo; có cô con gái theo chồng ra tỉnh mà vẫn còn nhớ mãi nem nướng Đức Hòa, cá cháy Cái Vồn, măng le Bà Rịa ngon hỡi là ngon!<br />
Chồng mà không chịu ăn thì vợ đừ ngay ra mặt, khóc đòi về với bà già. Tôi yêu người vợ miền Nam thực thà như đếm, yêu ai thì yêu lộ liễu, thích cái gì thì muốn cho ai cũng biết rằng mình thích mới nghe! Đẹp thì muốn đẹp cho sắc sảo, áo quần phải làm sao cho nổi bật lên hơn cả quần áo của chúng chị em; mà ngày lễ và chủ nhật phải nèo chồng đi chơi cho kỳ được để cho người ta thấy hạnh phúc lứa đôi của mình.<br />
Miếng ngon của miền Nam cũng thành thật như người đàn bà vậy. Ăn một miếng, ngon ngay, nhưng ngon không phải do vị của chính thức ăn, mà là tại xạ và ớt làm nổi vị lên, điểm cho khẩu cái một tơ duyên ấm áp.<br />
Ăn như thế cũng có một cái thú riêng, nhưng làm cho người ta yêu hơn các món ăn của miền Nam, chưa chắc đã là vì các món ăn đó có nhiều ớt và nhiều sả, mà cũng không phải vì món ăn của miền Nam nịnh khẩu cái ta ngay, để rồi chỉ lưu lại một dư vị rất mong manh trong cuống họng.<br />
Tôi yêu miếng ngon miền Nam nhiều là vì nó lạ - lạ đến nhiều khi không thể tưởng tượng được - và chính những cái lạ đó đã cho tôi thấy rõ hơn tính chất thực thà, bộc lộ và chất phác của người Nam.<br />
Ăn cháo cóc; nhậu nhẹt đun chiên; nhắm món dơi xào lăn với bánh mì; ăn ve con lăn bột; nhắm nấm chàm... rồi tráng miệng bằng một ly chè rùa hay một chén mủ trôm... thoạt mới nghe, mấy mà du khách không phải cho là “lạ hoắc”, “kỳ cục” hay “ớn quá”!.<br />
Nhưng có thưởng thức đủ cả những món lạ đó của miền Nam, người ta mới thật nhận thức được đất của miền Nam nước Việt phong phú biết chừng nào, người của miền Nam nước Việt hồn nhiên biết chừng nào, và miếng lạ của miền Nam nước Việt lạ biết chừng nào!<br />
Có nhận thức như thế, ta mới thấy món lạ của miền Nam ngon hơn lên và ta yêu hơn lên người miền Nam nước Việt qua những món lạ đó, không từng thấy ở Bắc hay Trung.<br />
Tôi viết cuốn “Món lạ miền Nam” này để ghi một chút ân tình lại trong những ngày xa phần tử, được các người xa lạ thương yêu như mẹ thương con, như vợ thương chồng, như em gái thương anh, chăm bón cho những miếng ngon vật lạ để khuây khỏa nỗi lòng của người mang nặng bảy tám biệt ly một lúc.<br />
Có bạn nào con đẻ của miền Nam nước Việt lúc này ở nơi hải giác thiên nhai, tình cờ đọc sách này, thấy tha thiết với xứ sở của mình hơn; có bạn nào chưa tới miền Nam nước Việt mà đã thấy có cảm tình qua những miếng lạ mà tôi sẽ nói tới dưới đây hay có bạn nào từ nơi xa lạ đến, không tìm thấy sự ngon lành của nước Việt miền Nam mà vì loạt bài này thấy thương mến miền Nam, miếng ăn của miền Nam, đất nước miền Nam hơn, thế là tôi mãn nguyện.<br />
--------<br />
(<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">1) "Miếng ngon Hà Nội" in lần thứ nhất trên báo Mới (xuất bản ở Sài Gòn năm 1950-52, in thành sách năm 1955, Nhà xuất bản Nguyễn An Ninh) tái bản năm 1957 (Nhà xuất bản Nam Chi trong Kim Lai Tùng thư)</span>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Đò chiều - Nguyễn Trọng Tân]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1698.html</link>
			<pubDate>Sat, 28 Sep 2013 13:11:59 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=69">hvn</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1698.html</guid>
			<description><![CDATA[<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Tôi đọc Nguyễn Trọng Tân từ những ngày còn bé. Đó là tập truyện ngắn Đò chiều mà tôi lôi ra được trong một lần lục lọi tủ sách của ông chú. Cuốn đó có một số truyện ngắn đặc sắc với nhiều tình tiết kỳ quặc, bi thảm đã đeo bám trong tâm trí tôi rất lâu. Hôm rồi tôi có nhắc lại tên cuốn này với Hàn Tuyết và chợt muốn đọc lại. May mà trên VN Thư Quán cũng có vài tác phẩm của Nguyễn Trọng Tân, trong đó có Đò chiều, truyện ngắn mà tên được lấy đặt cho tập truyện hồi xưa tôi đã đọc.<br />
<br />
Nguyễn Trọng Tân sinh năm 1949, quê ở Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Trong hoạt động viết lách, ông còn dùng các bút danh như Nguyễn Lê My, Phù Việt Trang... <br />
<br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><img src="http://maxreading.com/data/books_images/9/2/92432bcb5364cbc996bfe7118497e64c.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: 92432bcb5364cbc996bfe7118497e64c.jpg]" class="mycode_img" /></div>
<br />
Trong giới hạn tập truyện Đò chiều, ấn tượng của tôi về bút pháp Nguyễn Trọng Tân là cách ông xây dựng nhân vật và tình tiết cực kỳ sinh động. Cách ông đặt tên cho nhân vật cũng rất lạ. Bối cảnh trong tác phẩm thường là làng quê Việt Nam, với tất cả những khốc liệt, bi tráng, trần trụi, đau đớn của phận người thời hậu chiến. Văn phong Nguyễn Trọng Tân khá chân phương, mộc mạc, dân dã, song có những lúc hưng phấn ông cũng viết ra những dòng vô cùng diễm lệ như ánh tà dương bất chợt bừng lên vào những khoảnh khắc cuối cùng của một ngày mưa bão.<br />
<br />
Mời các bạn thưởng thức truyện ngắn "Đò chiều" của Nguyễn Trọng Tân như chút hương vị cho ngày nghỉ. Tác phẩm được copy từ <a href="http://vnthuquan.net/truyen/truyentext.aspx?tid=2qtqv3m3237n2n2n0nvn31n343tq83a3q3m3237nvn" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">vnthuquan.net</a>, có chỉnh sửa một số lỗi typo.<br />
</span><br />
<br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><span style="font-size: x-large;" class="mycode_size">Đò chiều</span><br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Nguyễn Trọng Tân</span></div>
<br />
Nghề viết đưa tôi đi nhiều, gặp đủ hạng người. Song cái tạng tôi ngại tiếp xúc, lại lúc nào cũng thấy thảng thốt, như có lời giục giã đã từ đâu đó xa lắc: Hãy sống mau lên làm được gì có ích thì làm đi. Cuộc đời đáng yêu thật nhưng cũng chán ngắt. Cuộc đời có vinh nhục đủ cả nhưng không phải nơi ồn ã, trang trọng. ở đấy, cuộc đời trả giá, phù phiếm tới mức điệu nghệ. Phải chăng thế mà chuyến đi lặng lẽ về miệt rừng núi heo hút, cụ thể là cái trạm thuế con con bên ngã ba con đường Tây Bắc xuôi về làm tôi nhớ mãi.<br />
<br />
Duyên do chuyến đi bởi ông Cao Nhơn, người phụ trách nghành thuế tỉnh X. tôi quen ông khi ông làm Chủ Tịch một huyện lớn. Từ ngày ông về Thuế, tự dưng tôi thấy ngại gặp. Có thể do nỗi mặc cảm về cái nghề "thuế má" với những tay thước mặt mày hung gở in sâu trong trí nhớ tôi qua phim ảnh, sách báo thời còn trẻ.<br />
<br />
Dịp gặp nhau tại một lễ kỉ niệm; rượu vào, rượu lôi những điều ngại nói ra khỏi cổ, Cao Nhơn bảo tôi bằng cái giọng ngang ngang, ấm ức ra chiều:" Ông chẳng hiểu cóc khô gì cái nghề thu thuế của chúng tôi cả".<br />
<br />
- Này, hôm nào về với tôi ít ngày. Tôi đưa ông đi săn. Săn ở rừng cấm hẳn hoi. May được con hoẵng con chim, nếu trắng tay anh em thuế sẽ đãi ông bữa chẽo sông Bứa. Chẽo nướng, chẽo ôm măng tôi tin ông khối tư liệu viết còn hay hơn, tai quái hơn cái <a href="http://vnthuquan.net/truyen/truyentext.aspx?tid=2qtqv3m3237n2n2n0n1n31n343tq83a3q3m3237nvn" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u"><font color=#0000CD>Trang gia phả viết bằng vôi</font></span></a>.<br />
<br />
Tôi chột dạ. Ra cái ông thuế này chịu đọc hơn tôi tưởng. Truyện ngắn trang gia phả viết bằng vôi, in đã lâu trên một tờ báo nhỏ ở thủ đô. Nội dung chỉ là câu chuyện tôi chép từ cuốn gia phả họ được viết trước cách mạng. Truyện chẳng ra gì mà ông đọc, ông nhớ. Vậy là ông quý tôi. Còn tôi thì cứ giữ cái định kiến xưa nay cho rằng xưa nay niềm mê say duy nhất của mấy cán bộ thuế là tiền. Làm sao, bất luận thu được nhiều tiền. Lòng họ lạnh lùng chai sạn?; Tôi đâm phân vân. Đôi mắt Cao Nhơn cười cười, tai quái. Giọng ông dịu bớt vẻ gây sự:<br />
<br />
- Ngày học phổ thông tôi giỏi nhất môn văn học, nhưng số phận đẩy tôi đi làm tài chính. Tôi được đào tạo chính quy và cũng gắn bó với nghề. Sinh ư nghiệp mà, nhưng không bỏ được thú mê văn chương thế mới khổ.<br />
<br />
- Sao lại khổ? Tôi cảnh giác nhìn Cao Nhơn. Văn ấy đâu phải là nghề. Văn ấy là Người. Nó là phần tâm hồn, hương nhụy của bông hoa. Ông làm tài chính mà giầu tâm hồn ấy là người sướng, người tốt.<br />
<br />
Cao Nhơn cười cười giễu cợt:<br />
<br />
- "Em" là người lòng thành thôi.<br />
<br />
Tự nhiên tôi thấy phát cáu vì cái lối tưng hửng của ông. Tôi đay nghiến:<br />
<br />
- Lòng thành là cái phù phiếm bậc nhất. Nó vô giai cấp. Chỉ có lòng thành thôi ông cóc làm lãnh đạo người khác được. Dân buôn lậu cúng thần linh làm cho cánh phòng thuế, công an, có mắt như mù, có tai như điếc, có mồm như câm. Đấy là lúc họ thể hiện lòng thành nhất còn gì.<br />
<br />
Kha kha cười, cái cười như đám hạt ngô già nổ bung giữa cát bỏng, Cao Nhơn không giận:<br />
<br />
- Nói chuyện với mấy ông văn nghệ kinh bỏ xừ. Nhưng tôi chịu được.<br />
<br />
Tôi cũng dàn hòa:<br />
<br />
-Văn chương là cái kính chiếu yêu. Nó chịu người có tâm, nỡm kẻ mượn nó để tiến thân. Ông có tâm thì sợ gì.<br />
<br />
Tôi nhận lời đi săn cùng Cao Nhơn trong rừng cấm. Nói cho oai thế thôi, rừng cấm bây giờ sạch tinh tươm. Chẳng biết ông Nhơn chuẩn bị ngựa từ bao giờ, hai con ngựa đủ bộ lệ yên cương. Cái dáng ngồi ngựa của Cao Nhơn thật điệu đà, cái phất roi khiêu khích làm tôi phải khen thầm:" Cha này thật lắm tài". Tuổi Đinh Hợi lại có sao hỷ thần chiếu mệnh, nghe đâu ông là "tác giả" của bao chuyện hóm nghịch động trời. Dưới đây là một chuyện:<br />
<br />
"Một lần Cao Nhơn đi viếng đền. Cổng đền tạc hình hai ông Thiện Ác. Đấy là những ông lính gác. Sứ mệnh các ông là làm vệ binh cho các đấng thần linh. Người đời không thờ cúng hai ông. Vậy mà chẳng hiểu sao dưới chân các ông lại có hai bát hương to tướng. Khói táp đen cả võ phục oai vệ. Lúc Cao Nhơn đến, thấy một nữ tu đang lúi húi. Cô gái còn quá trẻ. Gương mặt đẹp và buồn đến não lòng. Đôi môi hồng cắn chỉ, mòng mọng như chỉ trực òa ra nỗi ẩn ức đớn đau, khiến bộ quần áo nâu xồng cô đang mang chỉ làm tăng nỗi da riết với cuộc đời trần tục. Cao Nhơm sững lại. Cái máu nghịch ngợm trong người kéo ông tới bên cô bé. Đợi cô cắm hương xong, ông chắp tay khấn mà như hát: "Con lạy hai ông. Hai ông sinh ra để gác cổng đền. Cần chi đến sự thờ phụng của người đời. Vậy mà ai lại vẽ chuyện thế này. Quanh năm suốt tháng hương lửa cháy đùng đùng con hỏi thật, hai ông có thấy nóng rát ở chỗ ấy không?". Miệng nói nhưng bao nhiêu "lòng thành" từ đôi mắt hấp háy nơi ông nghiêng ngả sang bộ nâu xồng. Nữ tu quá sức e thẹn, bối rối liếc xéo cái ông đệ tử tai quái. Gương mặt đẹp mê hồn như có lửa cháy. Cô ngoăn ngoắt bỏ đi như hờn như rỗi. Chút vốn liếng tu hành rõ ra chưa được mấy nả có cơ bong mất.<br />
<br />
Lúc hai con ngựa sóng đôi, tôi hỏi lại Cao Nhơn. Ông cười kha kha bảo:<br />
<br />
- Có chuyện đó thật. Nhưng dạo ấy tôi còn trẻ mà. Với lại cũng tại cô bé ấy xinh tệ. Người quá xinh đẹp không thể tu thành chính quả được. Họ đi náu đời, nhưng đời nào tha họ. Cửa Phật là nơi thanh tịnh cạn kiệt mầu mỡ, mà cô bé thì như tinh túy của trời đất. Bước chân vào đó cô ấy sẽ chết. Cao Nhơn nói như hụt hơi: "Đùa vậy mà không hiểu sao đêm về tôi cứ thấy đau. Nỗi đau buồn vô cớ. Cho mãi đến sau này, gương mặt người nữ tu, dáng vẻ lầm lụi với một bể tâm sự và cam chịu trong cái tấm thân mảnh mai ấy cứ trở về mỗi khi tôi đơn côi."<br />
<br />
Tôi chợt phát hiện ở Cao Nhơn nỗi đa cảm và cô đơn khủng khiếp. Cái dáng ngồi tưạ thanh thoát như đã biến đâu. Tấm lưng cong xuống nặng nề, tia mắt vút xa nơi vỉa núi đang sẫm dần lúc chiều buông.<br />
<br />
- Sau đó tôi nghe nói, ông có đi tìm nữ tu?<br />
<br />
- Có, tôi có nghe ngươi ta bảo cô bé sang đò ở gần bến Gành. Ngày rằm mồng một cô ấy vẫn qua lại các chùa trong vùng, nhưng sau hôm ấy không thấy trở sang nữa. Các cụ bảo: "Trai yêu bằng mắt" có lẽ thật. Chỉ nhìn thấy cô bé lần ấy mà tôi nhớ mãi. Nhớ đến nỗi sau này gặp ai có nét hao hao giống cô bé là tôi cảm tình ngay. Với tôi sắc đẹp phải là như thế, phải có hồn vía của bùn đất, của mưa nắng. Sau đó tôi có qua lại hàng chục ngôi chùa trong vùng nhưng đều vô ích. Cô bé như là một đốm sáng kì lạ đậu vào đời tôi trong chốc lát rồi biến đi. Chỉ thế thôi mà tôi cứ khắc khoải, cứ nhớ thương, cứ tôn thờ suốt cuộc đời. Nhiều lúc tôi giật mình tự hỏi không biết chuyện nữ tu là mơ hay thật. Tôi đã cố họa lại gương mặt đó, tôi chưa vẽ bao giờ cả vậy mà tôi đã thể hiện được sắc diện của "nàng" trên mặt giấy. Nàng như một sự ban tặng, lại như một đòn trừng phạt tôi trong cuộc đời.<br />
<br />
Chuyến đi săn quả thật trắng tay. Hình như anh em trạm thuế cũng biết thế. Họ đã chuẩn bị sẵn cơm. Có thịt chẽo thật. Chẽo rán vàng ươm. Món măng tre trắng phau ngâm với ớt chỉ thiên. Những trái ớt bé tý, nhọn hoắt chỉ nhìn thôi đã thấy cay xé lưỡi. Đêm ấy trong cái trạm thuế chon von giống như một nếp nhà nghèo bị bỏ quên nơi cửa rừng, tôi trằn trọc không ngủ nổi. Giường bên, Cao Nhơn vẫn nằm ngay ngắn như vô lo, mà quá nửa đêm ông nói tỉnh queo: "Từ dạo về thành phố ít được ngủ rừng. Cứ ngủ rừng tôi lại nhớ, lại đau..."<br />
<br />
Giát giường cọt kẹt. Tôi nhìn sang thấy ông đang lụi cụi trở dậy. Ông vừa mặc áo vừa nói:<br />
<br />
- Dậy uống trà vậy. Ngồi bên cửa sổ nhìn sông Bứa về đêm đẹp ra phết.<br />
<br />
Hai cánh cửa gỗ mở ra. Tiếng con sông nhánh vào loại cổ nhất vùng Tây Bắc cất lên dào dạt. Ban ngày nhìn dòng sông bé bỏng, tù túng. Lúc này nó lại có vẻ huyền bí, mơ màng. Cao Nhơn ngồi im như pho tượng. Điếu thuốc chợt lụi, chợt hồng làm gương mặt ông gãy gọn như những nét khắc. Bỗng Cao Nhơn hỏi mà cũng ra như không hỏi tôi.<br />
<br />
- Ông có thể không! Nhiều lúc tôi có cảm giác rất lạ về thời gian tồn tại của đời người. Nó giống như con sâu đo ấy. Nếu cứ để ý nhìn nó bò thì sốt ruột lắm, ấy vậy mà chỉ nhãng đi một chốc, một chốc thôi, ngoảnh lại mới thấy kinh ngạc bởi sự hiện diện của kiếp người trước cái vô cùng vô tận của trời đất.<br />
<br />
Tôi khẽ rùng mình vì âm sắc chìm đắm, nỗi cô đơn, yếu ớt trong lời ông. Và tôi cũng chợt hiểu ra rằng, ai yêu ông chắc cũng nhận ra phần trong trẻo, thơ ngây nơi ông bị khuất lấp sau không ít đớn đau, bụi bậm và cả sự hơ hớ vô hồn của cuộc đời.<br />
<br />
*<br />
<br />
Cuộc chiến tranh năm ấy giống như một trò đùa ác. Cái lưỡi lông lá của nó táp nhoáng nhoàng vào một vùng biên cương. Dẫu cái thời đặc biệt đó chỉ diễn ra trong vòng vài chục ngày, nó kịp xới tung cuộc sống quen thuộc của hàng triệu con người. Lo sợ, vất vả, chết chóc, và lâu dài hơn, nó làm bật rễ niềm xác tín vào những hiện hữu mà cuộc sống thanh bình, lành mạnh đã vun trồng nên.<br />
<br />
Ngàn, vợ Cao Nhơn ôm được hai đứa con theo xí nghiệp xơ tán về xuôi, chưa ổn định đựoc chỗ ăn ngủ thì lại nghe chiến tranh kết thúc. Lại lục đục kéo ngược. Lại chôn người, dựng nhà hàn gắn đổ vỡ. Cô gái vùng bãi vải thủa nào ánh mắt vẫn thăm thẳm và thật nhiều khao khát. Mười năm trước học xong trung cấp Tài chính, niềm cuốn hút của rừng lôi bật Ngàn lên miệt biên cương này. Ngày ấy mọi người đều chưa biết tính toán chuyện thiệt hơn. Với Ngàn, được lập thân xa nhà còn đặc biệt hấp dẫn cô.<br />
<br />
Cao Nhơn gặp Ngàn khi cô vừa chân ướt chân ráo từ dưới xuôi lên. Cái áo gụ cổ trái tim bó tấm thân tròn lẳn, vẻ bỡ ngỡ e ấp nơi cô động chạm đến một cái gì rất sâu trong anh. Cao Nhơn hơi sững người. ánh mắt anh như lửa vây bọc Ngàn mỗi khi hai người gặp nhau. Và dẫu chưa nói ra, những cử chỉ ấy đã quá đủ một lời thú nhận sự si mê của anh trước cô. Nó giống như một tình cảm đã được ém sẵn, một tảng than hồng vẫn âm ỉ cháy dưới làn tro mỏng, cô đến, khối lửa ấy bùng cháy thành tình yêu.<br />
<br />
Ngàn khá xinh gái. Ngoài cái hấp dẫn chết người của "đàn bà" dậy thì, gương mặt và hồn vía của đôi mắt phảng phất những nét mê đắm nhất ở người có cá tính riêng mạnh mẽ. Hơn thế cô đem tất cả những thứ mỏng manh ấy dấn thân vào đời với một sự bạo dạn hiếm có. Ngày còn học trung cấp Tài chính, giữa thời bom đạn phá tơi bời, Ngàn đã là một cô gái cứng cỏi, quyết đoán hơn đám bạn học. Nhà cách trường vài chục cây số, chiều thứ bảy cô lại xăm xăm cuốc bộ về quê, có khi chỉ để ăn một bữa thật no bù cho những bữa ăn học trò suốt tuần chỉ đủ tráng dạ. Có khi chỉ để rúc vào ngủ với mẹ một đêm, để mẹ nắn chân nắn tay cô con gái nần nẫn ra mà miệng thì xuýt xoa rằng con gầy yếu vì thiếu ăn, vì học hành vất vả. Sáng chủ nhật tíu tít cơm cháo, mẹ lại dúi cho vài chục bạc, có lúc túm ngô rang, vài cân gạo thế là vui.<br />
<br />
Một lần trường tan học muộn quá, cô về đến bến sông thì đã nửa đêm. Có gọi thì cũng chẳng còn ai chở đò, Ngàn mượn con đò vô chủ tự bơi qua sông mà về. Chuyện thân gái dặm trường sông nước ấy đã làm lác mắt khối đấng "tu mi nam tử". Nhưng với Cao Nhơn, tính cách ấy lại làm anh thấy hay hay. Một cuộc săn đuổi ngấm ngầm của vô khối chàng trai trong xí nghiệp nhằm tới Ngàn. Mà chẳng hiểu sao ngay từ đầu, cũng giống như Cao Nhơn, trái tim tưởng như ngỗ ngược của cô lại thổn thức vì anh. Nhìn vẻ bề ngoài Nhơn có vẻ không đăng đối lắm với cô. Anh nhỏ con hơn, trầm tính hơn. Nhưng có gần gụi thì mới thấy Cao Nhơn là tay nghịch ngầm có hạng. Đôi mắt heo heo, cái miệng đào hoa mim mỉm với những câu chuyện dí dủm, tai quái, bất ngờ như bỏ bùa mê cho Ngàn. Cứ thế tình yêu thắt chặt hai người giữa không ít "hằn học" của đám mày râu thất trận. Một năm rồi hai năm, những chuyến đi vất vả từ rừng núi về đồng bằng trình diện hai gia đình đối với họ cứ nhẹ tênh tênh, cứ dày thêm cái tổ ấm mà họ phải xây đắp. Đám cưới của Cao Nhơn với Ngàn được tổ chức ngay tại xí nghiệp, một xí nghiệp sơ tán được coi là khá yên ả giữa những ngày căng thẳng nhất của cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mĩ trên miền Bắc. Hạnh phúc ấy chẳng đòi hỏi gì nhiều. Cả nước thắt lưng buộc bụng để đánh giặc. Người người lấy chính tâm làm trọng. Xã hội trong yên lành, yên ả. Và ngày đất nước bùng lên tiếng reo chiến thắng thì trong cái tổ ấm con con của Cao Nhơn, đứa con trai đầu lòng của vợ chồng anh cũng chào đời. Rồi hai năm sau tiếp đứa con gái. Nhiều gia đình xin chuyển về xuôi, nhưng Cao Nhơn thì chưa thể lo chuyện đó. Anh được cơ quan cử đi một khóa đại học chuyên nghành. Nhìn gian nhà tập thể xộc xệch, hai đứa con thơ dại, anh đã định từ chối, nhưng Ngàn lại cứng cỏi hơn anh. Cô biết để anh đi, ba mẹ con ở nhà sẽ vất vả gấp bội, nhưng anh đi được thì tương lai của nhà chắc chắn sẽ tốt đẹp hơn. Chiến tranh buộc tất cả trong sự quân bình, nhưng hòa bình là sự phân biệt, là sự phân cấp bởi trình độ và tài năng. Vợ chồng anh coi như đã gắn bó cả cuộc đời với rừng núi này, nhưng còn tương lai của lũ trẻ? Đêm trước ngày Cao Nhơn về Hà Nội nhập học, vợ chồng anh dường như thức trắng. Anh biết đây là thử thách đối với Ngàn. Khó khăn trong cuộc sống và công việc anh không lo cho cô, nhưng dường như thế, ai càng cứng cỏi về lý trí tình cảm lại yếu mềm đến độ ngạc nhiên. Khoảng cách ngày mai gữa hai vợ chồng anh là hơn 300 cây số. Anh biết Ngàn cố dấu sự lo lắng khi không có anh bên cạnh.<br />
<br />
Những ngày hòa bình đầu tiên ở cái vùng núi xa lắc này thật náo nức, nhưng cũng nhanh chóng chìm đi bởi bao nhiêu kế hoạch lớn từ tác động của chiến thắng. Hàng ngàn người đã tưởng xây dựng quê mới ở đây, bắt đầu nhấp nhổm lo chuyển về thành phố. Cả một làng công nhân đông đúc nay chỉ còn lại những gia đình đã quá nặng gánh vì con cái trưởng thành an cư lạc nghiệp, hoặc quá nghèo mà trong tay chẳng có bằng cấp gì để xin việc ở thành phố. Xí nghiệp in của Ngàn vẫn hoạt động. Sản phẩm vẫn là thứ hàng đặt của các đơn vị trong tỉnh với loại giấy nứa đen xì. Do nhiều người nghỉ nên việc nhiều. Một nách hai con, chồng lại ở xa, Ngàn gắng gỏi để tăng thu nhập nuôi con. Ngoài việc chuyên môn, tối đến cô nhận thêm hàng về nhà làm. Hoàn cảnh như Ngàn, bằng cấp có, có điều kiện về xuôi mà vẫn yên tâm công tác, là người lao động tiên tiến, trở thành đối tượng bồi dưỡng phát triển của tổ chức. Nhưng sâu thẳm trong lòng Ngàn cứ bị một nỗi thắc thỏm lo lắng vô cớ. Lúc làm việc ở phân xưởng đông vui thì quên đi nhưng đêm về, con nhỏ, xung quanh là rừng núi mênh mang, mới thấy ngấm nỗi chông chênh của đàn bà vắng chồng. Cô lại chợt tiếc đã để anh đi học. Năm năm quả là dài đối với tuổi đàn bà hồi xuân. Ngàn biết mình là người mạnh bạo, quyết đoán vì thế nhu cầu tình cảm, khát khao hưởng thụ cũng mạnh mẽ không kém. Nhiều đêm trằn chọc không ngủ, nỗi khát khao càng dày vò cô tợn. Nước mắt tràn ra, cố ghìm lại tiếng thở dài cứ nối nhau đẩy đến tức ngực. Ngàn tháo tung chiếc áo con bó chặt bộ ngực săn chắc lại của mình, cuộn cái chăn chiên, ghì lên tấm thân nóng bỏng đang đòi hỏi. Mỗi đợt như thế người cô lại bơ phờ mấy hôm mới trở lại thăng bằng. Cô dò hỏi người bạn tên Thuận, chồng Thuận đi bộ đội đóng quân tận biên giới Tây Nam, Thuận nhe răng cười bảo:" Mày chết, thế là mày bị ách-ta-ri rồi. Những cô gái quá lứa hay bị mắc bệnh đó. Có chồng như mày mà bị thế là ghê lắm?;" " Có thuốc gì không?". Thuận dí ngón tay vào trán cô, giọng dài ra. "Có. Chỉ có mỗi một thứ thuốc, nhưng mày có dám không?". "Thuốc gì mà không dám?". "Đàn ông". Ngàn giật mình. "Thật đấy!". Thuận bảo, "Lúc lên cơn ách ta ri cứ cho một tay đàn ông nào đó yêu một tý hoặc chỉ cần sờ một tý là nguôi ngay".<br />
<br />
Từ hôm đó Ngàn không hỏi thêm gì Thuận, nhưng mỗi lần "bị" như thế, Ngàn lại nghĩ đến phương thuốc Thuận nói, không rõ thật hay đùa. Nhưng quả có thế những kỳ chồng cô về nghỉ hè, một thời gian dài sau đó, cô không thấy chuyện ấy xảy ra.<br />
<br />
*<br />
<br />
Quản đốc phân xưởng Trần Xạo, ngót bốn mươi tuổi. Nghe đâu vì vợ anh sinh toàn con gái nên anh ta chán xin lên làm việc ở cái phân xưởng sơ tán này. Nom bên ngoài Trần Xạo dễ làm người ta ngài ngại vì cái vẻ đồng cô tồi tội. Xạo ở một mình trong khu tập thể Xí nghiệp. Thỉnh thoảng anh ta mới về thành phố với vợ con. Xạo về được vài tháng thì Cao Nhơn đi học, hai người chỉ biết nhau sơ sơ.<br />
<br />
Từ ngày được tổ Đảng phân công giúp đỡ Ngàn phấn đấu, Trần Xạo mấy lần gặp riêng trò chuyện với cô. Sự khao khát vươn lên của mỗi người là lẽ tự nhiên, Ngàn cũng mừng vì được tổ chức quan tâm, nhưng mỗi lần gặp Xạo cô lại linh cảm thấy một nỗi lo lắng tuy rất mù mờ. Trần Xạo đặc biệt quan tâm, săn đón cô. Nhiều bận đã hết giờ làm anh ta còn giữ cô ở lại nói chuyện vu vơ, rồi một vài lần anh ta đến nhà vào buổi tối. Chuyện công tác, phấn đấu của cô hình như chỉ là cái cớ để anh gần gụi cô. Nhưng lòng đàn bà lại thế, dù đã biết mười mươi mối hiểm họa bên mình, họ vẫn không thắng được sự tò mò, một chút kiêu hãnh tự ve vuốt mình. Đối với Trần Xạo, một chút đó quá đủ để anh ta đánh gục cái danh tiết của bất kỳ người đàn bà nào. Cái bản mặt tồi tội, nhẫn nhục và đơn côi, cộng với những lời nỉ non mượt mà dối trá, được Trần Xạo sử dụng tài tình như cái chìa khóa đặc dụng len lỏi vào trúng nơi yếu lòng nhất của bất cứ quý bà nào muốn thách thức: "Cứ để xem sao".<br />
<br />
Ba năm xa chồng, rồi cú giáng điếng người của cuộc chiến biên giới là thời điểm, là cái cớ xô Ngàn vào với Xạo. Giữa những ngày lao đao ấy, một nách hai con, Ngàn thấy yên lòng trong đôi cánh tay đàn ông dang ra đỡ đần. Những ngày đầu sự cảnh tỉnh trong cô còn mạnh, song nỗi lo sợ đơn côi cứ lớn lên thêm mỗi khi cô vui sướng được Trần Xạo quan tâm. Sự nhùng nhằng trong lòng người đàn bà là vết nứt đầu tiên tuột họ vào vòng sa ngã. Ngàn đã xuôi tay trong cái bẫy tình ái vừa ngọt ngào vừa đắng chát của số phận. Có nhiều đêm cô thấy mình thơ thới, sôi nổi như thuở đầu đời. Cũng chen giữa đó là sự giật mình hoảng sợ cho tương lai: Chồng con, sự nghiệp? Xong, cái cây đời đang xanh tươi thế. Những đêm núi rừng vừa thâm sâu vừa khêu gợi, đàn bà thao thức một mình, cái lý sự "thằng Bờm" có sức thuyết phục ghê hồn. Cứ thế Ngàn như người vừa tự giác vừa mộng du bước vào vòng tay của Xạo. Và khi đôi tay đó khép lại thì sự dùng dằng trong lòng người đàn bà cũng chấm dứt. Suốt những ngày tháng chồng ở xa, cô và Xạo lang thang trên con đường ven sông Lô. Dưới ánh trăng non, dòng sông như một dải lụa màu viền theo miên man núi đá. Dường như mọi thứ ngổn ngang sau cuộc chiến tranh với họ cũng không còn nặng nề ghê sợ nữa.<br />
<br />
* <br />
<br />
Suốt hai ngày trời, trên chuyến xe khách liên tỉnh, một người đàn bà đã đứng tuổi không lúc nào bớt nhầu nhĩ; cái túi du lịch kẹp vào giữa hai gót chân, lúc xe qua đoạn đường xấu chị lại nhăn mặt như đang có gì đạp thúc trong bụng. Đôi bàn chân gầy, với những sợi gân xanh như giữ cái túi khỏi nhảy lên mà lại như bám víu vào đó. Lúc chị đứng lên mới nhìn thấy cái bụng đã lùm lùm sau làn áo xanh công nhân khá chật. Xe vào bến, hành khách tỏa đi các ngả rất nhanh, hình như họ đều là người quen thuộc vùng này, chỉ có chị lạ lẫm. Người gác bến chỉ đường cho chị về ngôi nhà trọ gần xí nghiệp in của tỉnh. Chị Miền. Vợ của quản đốc Trần Xạo từ một xí nghiệp ở Hà Nội lên.<br />
<br />
Nghe nói mấy năm trước Xạo đã từng là phó giám đốc nhà máy nơi chị đang làm việc. Cũng vì lôi thôi thế nào với một nữ công nhân trẻ, Xạo bị anh chồng máu Trương Phi của cô ta đánh ghen chặt đứt một ngón tay. Chuyện ầm ĩ. Xạo bị lãnh án cách chức, và phải "hạ phóng" về xí nghiệp in sơ tán nơi rừng núi này. Miền đã có với Xạo hai con gái, chồng bị điều đi xa, chị với hai con vẫn ở lại Hà Nội. Vài tháng Xạo mới về thăm vợ. Chuyện cũ được thời gian và cả sự xa cách xóa mờ dần. Cũng cứ mong tình cảm được nuôi dưỡng trở lại. Biết khát khao của chồng về một đứa con trai, Miền cũng chiều lòng. Cái thai trong bụng chị lớn từng ngày. Theo kinh nghiệm của mẹ chị chắc lần này chị sẽ sinh con trai. Nỗi vui mừng cứ dâng lên cùng với hy vọng Xạo được trở về xum họp cùng gia đình lấn lướt cả nỗi áy náy vì chuyện sinh đẻ có kế hoạch của nhà máy. Nào ngờ Xạo lại lần nữa phụ bạc chị, chạy theo người đàn bà khác trong khi chị đã tha thứ cho anh ta. Chị cắn răng chịu đựng mọi lời dị nghị, mọi ánh mắt soi mói trước cái thai nhẽ ra không nên có, chịu thiệt thòi về quyền lợi và cả bước phấn đấu để mong anh ta tu tỉnh.<br />
<br />
Một tuần liền sau khi biết tin chồng, Miền như người mất trọng lượng. Chị dấu mẹ, dấu các con chuyện xấu hổ đó. Chị xin nhà máy nghỉ phép rồi gửi con cho mẹ, theo xe lên Hà Tuyên nơi Xạo đang làm việc. Hơn ba trăm cây số đường rừng, vất vả, cực nhọc với người đàn bà bụng mang dạ chửa không đáng ngại bằng chị phải giáp mặt với Xạo. Vì những đứa con cần có bố, chị cố gắng nén nỗi đau của người vợ bị phản bội. Nhưng lần này nữa chị cũng không biết mình phải xử sự ra sao. Chị không phải là loại đàn bà có thể túm tóc, lăng nhục người đàn bà khác đã ăn nằm với chồng chị. Nhưng nỗi ấm ức, ghen hờn vẫn cứ bập bùng cháy rát trong lòng.<br />
<br />
Nhà trọ vắng khách, chị được ở một phòng riêng. Nghỉ ngơi, tắm táp xong chị tìm người bạn gái tên Châu vốn trước cùng làm việc trong nhà máy. Chị bối rối và cay đắng khóc khi nghe Châu cứ sồn sồn "Tý nữa tao phải đưa mày đi, phải bắt tận tay day tận trán lũ mèo mả gà đồng ấy. Tao tức lắm. Chồng con Ngàn đi học vắng, lão Xạo suốt mấy tháng nay cứ dính kè với nó. Ngứa cả mắt!". Châu đanh đá, tốt bụng theo kiêu thẳng băng. Thấy chuyện bất bình của ai Châu cũng sắn tay vào can thiệp. Ngày trước chiến tranh, nhà máy còn ở tập trung, mấy ông lãnh đạo ngại nhất khi họp công nhân viên. Thế nào Châu cũng được mọi người phân công phát biểu. Tuổi Canh Dần thế nào Châu lại lấy được người chồng Kỷ Sửu, cả ngày anh ta chỉ lầm lũi, ậm à ậm ừ cho qua chuyện. Nghe Châu sôi sục, anh bảo: "Ở trên này ai cũng biết chuyện ấy cả nhưng đều ngại dây vào. Hay là để mai tôi bảo riêng ông Xạo gặp chị Miền. Hai vợ chồng có gì đóng cửa bảo nhau. Cứ nghe cô Châu làm ầm lên thế có khi gay!". "Gay là gay thế nào?". Châu vằn đôi mắt xếch lên. "Không làm cho chúng nó sợ thì ông Xạo dám bỏ vợ con theo nó lắm. Không lôi thôi gì cả. Ngồi đây ăn cơm rồi tao đưa đi. Tối nào mà hai đứa chẳng hú hí với nhau!".<br />
<br />
Tội thân chị Miền, mới chỉ nhìn thấy chồng cùng người đàn bà ấy ngồi với nhau, chị đã hức lên ngã vật xuống. Cái thai như rữa ra quặn thắt. Châu hoảng hốt réo tên Xạo. Ngàn thất thần rời vòng tay của Xạo lao về nhà. Xạo thảng thốt nhận ra Miền đang quằn quại trong đôi tay Châu, anh ta đưa Miền về trạm xá Xí nghiệp thì cái thai đã không giữ được. Bà y sĩ cho biết đã rõ hình hài một đứa bé trai.<br />
<br />
Chuyện giữa Miền và Xạo loang ra khắp các xí nghiệp trong vùng. Cao Nhơn buồn tê tái. Nỗi buồn của những người có tâm thường đi ngược vào trong gan ruột. Nó khiến mỗi tế bào đều đắng ngắt và rệu rã. Mấy ngày ở nhà. Cao Nhơn cứ cật vấn mình. Anh biết lỗi này cũng do mình một phần. Với một người nhiều khao khát, mạnh bạo như Ngàn thường dễ gẫy bởi những gì mù mờ, dai dẳng. Cô thanh minh, bào chữa cho việc mình làm cũng bằng cách hối hả, rành rẽ. Cao Nhơn cắn răng nghe, cố nhủ mình bình tĩnh, cảm thông. Anh không hề căn vặn nóng nảy. Dù không muốn thế, mà sâu lắng trong suy nghĩ, anh linh cảm có một điều gì đó nghiêm trọng đang bóp chết mọi cố gắng của anh: Hai đứa con thơ dại phải được lớn lên thanh thản dưới sự che chở của cả bố lẫn mẹ. Tâm hồn non nớt của chúng phải được bảo vệ. Bởi không giữ được những điều đó thì mọi lý do của người lớn với chúng tất thảy đều là giả dối, vô nghĩa.<br />
<br />
Gần một thàng hè ở nhà bên vợ con, Cao Nhơn cố gồng mình lên để không khí đỡ tẻ. Hai đứa con còn quá nhỏ, chúng chưa đủ nhạy cảm để hiểu sự ấm êm giả tạo mà bố mẹ chúng dựng lên. Nhưng Ngàn thì khác. Dưới cái mặt nước có vẻ bằng lặng của gia đình, là những cơn vật vã của sóng ngầm. Nó cứ khoét sâu vào cái chân đế hạnh phúc của vợ chồng cô đã nứt vỡ. Ngàn biết tất cả tại cô. Cao Nhơn muốn nhờ thời gian hàn gắn những vết rạn, nhưng chính tính cách quyết liệt của Ngàn lại chống lại cô. Cái sợi dây buộc cô với gia đình là hai đứa con chưa đủ khỏe trước sức hút của sự lỡ làng và nỗi dày vò xấu hổ. Sau khi Cao Nhơn về trường, Ngàn đem tất cả nỗi khổ tâm của mình đặt lên tay mấy ông thầy tướng. Trần Xạo vẫn lén lút gặp Ngàn. "Tình cũ không rủ cũng về", hai người ấy vẫn như con thiêu thân quáng mắt vì ánh đèn. Không dứt ra được với Xạo, Ngàn còn sa chân vào nơi mà trước đây cô không hề để ý tới: Cầu cúng. Cô giật mình vì những lời phán của thầy như đi guốc trong bụng cô. Gia cảnh nhà chồng, tính cách của mỗi người, mối tình với Xạo... tất cả cứ như được xếp đặt từ trước trong số mệnh. "Sách trời" đã ghi rằng đời cô phải "sang đò" chuyến nữa! Đôi lúc tự Ngàn cũng nghĩ rằng có ai đó đã làm thầy dùi cho mấy ông xem tướng để bắt cô phải tin như thế. Nhưng rồi mọi sự tưởng như mù mờ trong lối nói của "các thầy" cứ rành rẽ ra trong đầu óc của người đàn bà đang hoang mang và khát thèm một sự bấu víu, một nhu cầu giải tỏa. Hai lực hút cộng hưởng đưa cô về với cái vòng xoáy của nó. Mặc cảm tội lỗi với người thân, nỗi ám ảnh vô hình về tiền kiếp, duyên số bít chặt sự hồi tỉnh trong cô. Và rồi, vào lúc yếu lòng nhất, bấn loạn nhất, Ngàn bỏ lại hai đứa con, dứt tình với người chồng mà cô hằng yêu thuơng và chắc hẳn vẫn yêu thương, để khăn gói đi theo Trần Xạo.<br />
<br />
*<br />
<br />
Cơn bão số 9 sầm sập về thành phố. Những đụn mây đen tựa đôi cánh tả tơi của con quái vật khổng lồ quét nốt những đốm sao hiếm hoi trên bầu trời. Mưa quất xéo xuống sân ga. Nước sùng sục ngoạm tiếng đám bã mía, lá bánh, bột than vương vãi đẩy về phía miệng cống. Tiếng cống rên ùng ục. Tốp sinh viên năm cuối trường Ngoại thương nhảy từ cửa xe ca xuống mặt sân, áo mưa, mũ cối, cặp da, ai có thứ gì giơ lên che đầu thứ đó. Họ ào vào phòng đợi tầu khiến cái ga thị xã vốn yên ắng đến rầu rĩ bận rộn lên. Lưa thưa vài người khách chờ tầu đều ngước mắt lên nhìn.<br />
<br />
-Mưa bão thế này mà thi với cử, có mà trượt ráo.<br />
<br />
- Bọn khoa văn đến chưa mày ơi?<br />
<br />
- Chưa, còn sớm chán.<br />
<br />
Người đàn ông đứng tuổi chạy sau cùng. Gần cửa ga anh ta nhảy loi choi như con chuột túi. Vừa đặt chân vào đã la toáng lên:<br />
<br />
- Các cậu ơi, lại đây tý. Tàu xe đêm hôm cẩn tắc vô áy náy. Tất cả xem lại đi nào. Vé, hành lý rồi túm tụm vào với nhau cho gọn.<br />
<br />
Đám nữ sinh đang chải đầu quay ngoắt cả lại. Những con mắt nhóng nhánh tinh quái:<br />
<br />
- Đoàn trưởng Tùng ơi. Được túm tụm vào với nhau ạ?<br />
<br />
- Ha, ha... Được đấy! Con gái Ngoại thương mình cũng ra phết.<br />
<br />
Chàng trai vừa nói chợt ré lên. Một rừng móng tay chợt xoắn vào da thịt cậu. Những cái miệng nhọn ra nhao nhao:<br />
<br />
- Coi thường con gái Ngoại thương hả, hả? Vâng, các chị đây thì khô như ngói, đâu bằng "người" văn khoa nhà anh. Vừa đa cảm này, vừa dẻo mỏ này, văn thơ lênh láng này, đúng không? Thú nhận đi.<br />
<br />
Vừa chống đỡ cơn tá hỏa của đám bạn gái, vừa hềnh hệch cười lùi mãi về phía Tùng. Một cái sống lược dí vào trán chưa tha:<br />
<br />
-Tý nữa lên tàu lại chỗ bọn khoa văn mà ngồi nghe chưa.<br />
<br />
Tùng lụi cụi đẩy hai chiếc ghế băng sát vào nhau, vừa xong thì các cô ùa lại chiếm mất.<br />
<br />
- Nào thì túm. Anh Tùng ơi túm kiểu gì đây?;<br />
<br />
- Hừ nghiêm túc, nghiêm túc. Lúc nãy học trò vừa mới thưa thầy, thưa cô đấy nhé.<br />
<br />
- Em chã em chã đâu.<br />
<br />
Lại ồn ã một chặp nữa.<br />
<br />
Cao Nhơn ngồi thu lu mãi cuối phòng, gần cửa soát vé. Theo dõi đám sinh viên từ nãy anh thoáng vui lây. Anh cũng mới dời ghế nhà trường được hơn một năm nay. Nhưng ngay cả lúc sinh viên anh cũng thuộc loại các "chú". Không còn cái tuổi vô lo để nhảy nhót quậy phá. Thêm nữa chuyện gia đình làm cho năm cuối khóa học của anh nặng nề tưởng như chẳng còn muốn thi cử gì nữa. Ngàn bỏ đi theo Trần Xạo, gài lại mảnh giấy nhỏ trong cánh tủ: "Anh Nhơn. Em biết mình có lỗi. Em bỏ đi vì số mệnh của em phải vậy. Cầu mong các con hiểu cho em. Sau này, khi các con dựng vợ, gả chồng, nếu được, anh nhắn tin trên đài, erm sẽ về...". Cao Nhơn vẫn nhớ rõ cái cảm giác ghê gớm phút đầu cầm mẩu giấy lạnh lùng đó. Anh đã bổ đi tìm Ngàn mấy chuyến. Ai mách ở đâu cũng đi. Chiều hôm qua anh vừa từ trong Nam Bộ ra, tiện đường tạt về nhà người anh vợ báo tin. Chuyện xảy ra đã gần ba năm nhưng về phía nhà Ngàn gánh nặng tâm lý chưa thể giải tỏa được. Anh trai Ngàn là Sơn, đã lên tận Hà Tuyên, nơi Ngàn công tác để tìm hiểu. Giọt máu trên, rọt máu dưới không thể không xót xa. Nhưng đêm qua lúc anh em tâm sự, anh Sơn cũng phải nhận rằng cô Ngàn là người có lỗi chính. Cao Nhơn bảo rằng nghe có bạn trong Nam điện ra gặp một phụ nữ giống Ngàn ở Bến Tre. Bến Tre là một nơi mà cậu em trai Ngàn từng đóng quân, đến nay gia đình cũng không xác định được còn sống hay đã chết. Giấy của đơn vị chỉ báo tin cậu ta mất tích. Có thể Ngàn vào trong đó. Nhưng lúc Cao Nhơn nhờ người hỏi chuyện thì người đó không nhận. Nét mặt chỉ hao hao, linh cảm vợ chồng cũng mờ mịt, Cao Nhơn biết đó không phải là Ngàn.<br />
<br />
Đám sinh viên đã chán đùa. Họ xúm vào nhau, rù rì chuyện vãn, vài cô gục vào vai người bên cạnh ngủ. Cao Nhơn đưa mắt ra sau ga. Mưa đã tạnh. Hàng rào kẽm gai chạy song song với đường sắt thỉnh thoảng lóa lên bởi ánh chớp. Cái ga bé nhỏ lợp ngói này đã bao nhiêu lần đón đưa vợ chồng anh về thăm quê vợ. Mỗi bận chia tay, các em, các cháu lại đạp xe ra đưa tiễn. Lại ríu rít hẹn hò. Vậy mà giờ đây anh một mình thui thủi. Cao nhơn đốt thuốc, đi đi lại lại để tránh cơn buồn ngủ đã chớm đến. Chợt có tiếng gọi như reo:<br />
<br />
- Anh Nhơn, anh Nhơn phải không?<br />
<br />
- Ôi Hảo!<br />
<br />
- Anh làm gì mà ở đây?<br />
<br />
- Còn em? Nào ngồi xuống. Em đi coi thi phải không?<br />
<br />
- Vâng. Vừa xong buổi sớm, chiều ra tầu về thì gặp mưa.<br />
<br />
- Anh đi công tác à?<br />
<br />
- Không, chuyện dài lắm. Anh đi miền Nam ra, tạt về quê cô Ngàn.<br />
<br />
Hảo ngước mắt lên bạo dạn nhìn vào mắt Cao Nhơn.<br />
<br />
- Anh vẫn đi tìm chị ấy à?<br />
<br />
- Có người mách gặp Ngàn trong Bến Tre.<br />
<br />
-Khốn khổ cho anh! - Mắt Hảo chợt xỉu xuống, một chút hờn dỗi rất trẻ con - Chẳng đáng phải làm thế.<br />
<br />
Cao Nhơn nhìn đi chỗ khác, thở một luồng khói dài. Hảo cùng quê với anh, con một thầy giáo trường làng. Ngày bé Nhơn đã học cụ. Chuyện của vợ chồng Nhơn, cả làng biết. Đặc biệt ông bà giáo rất thương anh. Hai đứa con gửi ở quê cho bố mẹ anh chăm sóc vẫn được ông bà giáo và Hảo đón về chơi. Hảo kém anh hơn chục tuổi. Cô rất xinh gái, học giỏi. Ngày anh sắp tốt nghiệp đại học Kinh tế thì Hảo vào học Ngoại thương. Thỉnh thoảng anh mới gặp cô ở quê. Không ngờ Tết vừa rồi ông giáo mời anh sang uống rượu. Ông cụ vẫn giữ lối sống nghiêm khắc cũ. Mâm cỗ chỉ có hai thầy trò, bà cụ và chị em Hảo ngồi dưới bếp. Giữa chừng ông cụ nghiêm giọng bảo: "Anh Nhơn này. Tôi với ông cụ bên nhà là bạn bè cùng lứa. Chuyện vợ con anh thế âu cũng là cái số. Nhưng cảnh gà trống nuôi con. Lại còn công còn việc. Mấy năm nay anh cất công đi tìm chị ấy Không thể cứ thế mãi được. Tôi ngắm ra con Hảo nhà này nó quý mến anh lắm. Bây giờ dân chủ rồi chẳng còn ai nghĩ luẩn quẩn như ngày xưa nữa đâu. Phải duyên phải số thì tôi cho anh con Hảo đấy. Tôi xem ý nó cũng đồng ý. Tôi nói thế. Anh tính sao? Nếu ưng lúc nó ra trường đại học thì cưới..." Nhơn suýt chút nữa đánh rơi chén rượu. Mặt anh lựng đỏ. May lúc đó Hảo không có mặt ở đó. Hai gia đình anh và ông giáo vốn là chỗ thân tình. Anh quý Hảo như em gái lại chênh lệch tuổi tác, Nhơn đâu có nghĩ đến cô như bạn bè. Mấy năm nay, con gửi ở quê, tuần nào anh cũng từ cơ quan về vào chủ nhật, biết chúng gắn bó với Hảo nhưng lòng anh nào đã nghĩ đến chuyện gá nghĩa với ai, huống hồ với Hảo. Đến lúc nghe ông cụ nói anh mới lờ mờ nhớ ra chuyện này bố mẹ anh cũng đã ướm hỏi anh một vài lần. Hảo qua lại thăm anh, chăm sóc các con anh chân tình, thẳng thắn, còn anh thì chẳng để ý gì tới. Ngót một năm trời sau đó, anh bấu víu chuyển công tác từ Hà Nội về để gần gũi lo cho hai đứa con. Sự quan tâm của ông bà giáo, rồi nỗi khát khao của cha mẹ lo cho anh, cứ bị anh ậm ờ bỏ qua. Tình cảm của Hảo, anh cũng tưởng là sự cảm thông, nỗi xúc động ban đầu, thời gian sẽ làm cho cô nghĩ khác đi.<br />
<br />
Dù sao thì anh cũng có một đời vợ và một gáng nặng gia đình cùng hai đứa con. Nhưng mỗi lần về quê đến thăm ông bà anh nhận thấy ý định tác thành cho anh vẫn vững chắc trong quyết tâm của những người thân. Bối rối quá chừng, anh mấy tháng liền không về quê. Giống như một cuộc chạy trốn. Nhưng chính trong những ngày đó anh tự dưng lại nghĩ đến Hảo nhiều nhất. Không giống như nỗi nhớ của những người trai trẻ đang yêu. Không bồng bột, liều mạng mà cứ da riết, ấm áp. Đêm đêm khi hai đứa con đã ngủ, mỗi đứa lăn một góc giường, quần áo con Điệp nhàu nát, chân thằng Hoàng nhựa chuối bám đen, Nhơn lại nhớ đến những lần Hảo kỳ cọ tắm giặt cho chúng nó. Mồ hôi lấm tấm khắp khuôn trán và hai bên thái dương cô. Những chân tóc xanh mướt bị kéo căng làm chỗ thái dương rân rân đỏ. Cái cách buộc tóc của Hảo khiến Nhơn rất thích. Một vòng dây chun mộc mạc túm cái đuôi tóc vồng lên, đường ngôi thẳng thắn, cái cổ trắng thon thả, cao cao, trông cô đoan trang, hiền đảm hơn. Hai cái tay áo chật kéo cao, bó sít vào cánh tay tròn, mỗi lần cô vò quần áo, những đường cong trên vai, trên lưng lượn thật hút hồn. Lần đó anh đứng chẳng biết bao lâu. Ông giáo nghỉ trưa, hai đứa trẻ chắc cũng ngủ. Hảo cứ lúi cúi bên cạnh giếng không biết mình bị ngắm trộm. Đến lúc nghe có người ngoài cổng, anh mới chợt lên tiếng. Hảo giật mình quay lại. nỗi vui mừng hơi thái quá, cô chạy líu ríu ra đón anh, con mắt ngời ngợi. Hai má lừng lựng đỏ, e thẹn, đôi môi một thoáng cong lên như hờn giận rất trẻ con. Chỉ một cử chỉ ấy thôi khiến anh lại thấy vị chan chát trong ngực mình. Hảo còn quá trẻ đẹp, quá nhân hậu. Anh sợ!<br />
<br />
Sau một vài bận nữa anh về quê, nhưng không gặp Hảo. Cô đã sắp hết năm thứ ba, thời kì làm khóa luận để bước sang năm cuối khóa. Tình yêu của Hảo với Nhơn, nếu có thể gọi như thế, là một thứ tình yêu không giống với mọi người. Hảo không bao giờ viết thư hay đến thăm Nhơn, dù là cách xa nhau vài tháng, nhưng hễ gặp lại là hồ hởi, tha thiết, hờn dỗi. Hảo biết Nhơn mặc cảm. Nhơn thương Hảo nhưng kẻ cả, đàn anh. Nỗi đau và cả lòng thương người kiểu ấy khiến trái tim anh không bắt được tín hiệu yêu thương từ Hảo. Một tình yêu mạnh mẽ, đúng đắn hơn lý trí, nó vượt qua thông lệ và mọi cố chấp. Nó như được duyên số mách bảo. Nhận ra điều ấy, với Cao Nhơn đòi hỏi phải có thời gian. Và suốt mấy tháng trời anh cứ cật vấn mình, đến khi anh nhận thấy hình như cuộc đời mình cần có Hảo, thì lại được tin Ngàn đang sống tại một huyện đồng bằng tỉnh Bến Tre. Tin ấy đem lại trong anh một cảm giác lạ. Không phải là tình yêu mà trách nhiệm của người cha đối với các con. Và nếu như trước khi đến với Hảo anh gặp lại được Ngàn thì nhẹ nhõm hơn. Anh quyết tâm đi tới nơi mà có thể Ngàn đang sống. Để rồi không ngờ anh lại gặp Hảo ở đây.<br />
<br />
Tiếng Hảo rành rẽ, chân thật:<br />
<br />
- Em không muốn gợi lại chuyện buồn của anh. Nhưng anh thử nghĩ xem, bố mẹ chị ấy chết chị ấy cũng không về. Anh còn chờ đợi gì nữa chứ?<br />
<br />
- Không phải cho anh. Hảo ơi. Hai cháu Hoàng, Điệp cứ ngày một lớn lên. Mỗi lần chúng hỏi về mẹ chúng, anh lại đau lòng.<br />
<br />
Giọng Cao Nhơn nhão ra, Hảo cúi mặt không nói gì thêm, anh rít thuốc liên tục rồi thở dài thườn thượt, một lúc sau quay lại nhìn Hảo thì mới nhận ra cô đang khóc. Nhơn sợ tốp sinh viên để ý, nhưng họ đã quá mệt mỏi dúm vào nhau mà ngủ. Nhơn run run đặt tay lên bờ vai tròn. Hảo càng thổn thức. Một cảm giác tươi tắn, ấm áp dần dần ùa sang Nhơn. Hai bàn tay nhỏ nhắn của Hảo bối rối đan ngón vào nhau trông thật tội. Như không còn nhớ mình đang ở giữa nơi đông người, Nhơn khẽ khàng nắm hai bàn tay ấy. Đã từ lâu lắm cảm nhận gần gũi với một cơ thể khác giới trở lại trong anh. Nó ào ạt phá vỡ sự cố chấp, sự hành hạ mình, dày vò mình trấn ngự trong lòng anh từ ngày Ngàn bỏ đi. Anh linh cảm đôi vai bé nhỏ kia sẽ san sẻ cho anh cái gánh đời quá sức nặng nề, những đứa con anh sẽ phải nương dựa vào đó. Ba mươi tuổi đời đã không chỉ một lần anh định phó mặc tất cả. Không ngờ giúp anh đứng vững trong lúc khó khăn nhất lại là đôi tay tưởng như mềm yếu này chăng?<br />
<br />
Cao Nhơn nhìn sâu vào đôi mắt Hảo, hỏi gấp gáp trong hơi thở:<br />
<br />
- Hảo, em?<br />
<br />
Mái đầu gật nhẹ, đôi mắt nhoèn nước long lanh, gò má Hảo lại ửng hồng. Mầu của lửa tỏa khắp gương mặt đẹp và thật hiền. Cao Nhơn bỗng như bị choáng. Cái khóe miệng dễ hờn dỗi này, đôi môi mòng mọng viền một nét chỉ này, hình như anh đã gặp ở đâu, xa lắm nhưng rành rẽ lắm. Một núi ký ức trong lòng Cao Nhơn theo nhau sụp xuống. Có cái gì cay cay len dần lên sống mũi, văng vẳng như chính giọng anh sững sờ "Trời ạ! Chẳng lẽ là Nàng. Không! Không thể là Nàng. Nhưng hơn mười năm trước, Nàng đã tặng ta khuôn mặt này". Hảo nhăn nhó hoảng sợ nhìn Nhơn.<br />
<br />
- Ối, bóp tay em đau quá, anh làm sao thế?<br />
<br />
- Ồ không, không. Xin lỗi em, anh ngu thật.<br />
<br />
Hảo không hiểu Nhơn nói gì. Còn anh cứ tự hỏi làm sao bao nhiêu năm gần gũi, bao nhiêu lần trò chuyện mà đến tận bây giờ anh mới nhận ra vẻ đẹp này nhỉ. Vẻ đẹp của người nữ tu, mà suốt đời anh khao khát kiếm tìm lại hiển hiện ngay nơi Hảo!<br />
<br />
* * *<br />
<br />
Thế là hết một đêm. Cao Nhơn và tôi xuống núi. Xe chạy vào lúc núi non và bạt ngàn cây trái còn đang ngái ngủ. Không khí trong vắt ngọt lừ. Sương đêm nhóng nhánh trên từng chiếc lá mươn mướt. Cao Nhơn mở cặp lấy từ trong một túi giấy bóng nhỏ đưa cho tôi mảnh giấy kẻ ô ly đã cũ, ở đấy nguệch ngoạc mấy dòng chữ viết vội. Nét chữ đàn bà, tâm trạng bấn loạn. Rồi anh nói với lái xe:<br />
<br />
- Chú cho anh hút thuốc trong xe nhá, một lần này thôi.<br />
<br />
Anh lái xe bấm nút, kính xe tụt xuống. Cao Nhơn quay mặt ra ngoài. Chờ tôi đọc dòng mấy dòng chữ ấy, anh hỏi mà không quay mặt lại:<br />
<br />
- Tuần sau con gái tôi vào đại học, tôi muốn nhắn tin cho Ngàn biết. Anh thấy có nên không?<br />
<br />
- Lần trước cháu Hoàng đi đại học anh có làm thế không?<br />
<br />
- Không! Nhưng trước khi các con tôi nhập trường tôi đều kể lại cho chúng hiểu. Chúng thương bố và cảm thông với mẹ.<br />
<br />
- Anh nghĩ chị ấy vẫn sống gần nơi anh ở?<br />
<br />
- Có lẽ thế.<br />
<br />
- Còn chị Hảo?<br />
<br />
- Cô "nữ tu" của tôi ấy à? - Nhơn chợt bật cười - Tôi gọi thế vì sau ngày lấy nhau tôi có kể lại chuyện đi chùa như ông đã biết đấy. Hảo cười lăn cười bò đồng ý với cái tên tôi đặt cho nhưng luôn cảnh báo rằng: "Trời cho anh cái gì thì cố mà giữ lấy, đã để mất thì chớ có hy vọng tìm lại". Cô ấy đùa thế mà có lẽ đúng. Một cô nữ tu. Một người vợ. Nhưng chính Hảo mới là người bù đắp cho tôi những gì tôi đã mất. Hảo nhiều lần giục tôi nhắn tìm Ngàn.<br />
<br />
Tôi không biết góp ý với anh thế nào. Đã sắp thành ông thành bà cả. Chuyến đò đời đã sang dốc bên bên kia của kiếp người. Nếu bà Ngàn đọc được câu chuyện này xin coi như một lời nhắn gửi. Các cháu đã thành người, đã biết lẽ phải trái ở đời. Còn duyên phận, nó là trò đùa hy hữu nhất mà Trời xanh kia xếp đặt kì công đến mức chẳng ai giống ai. Muôn đời vẫn thế. Hạnh phúc và khổ đau trách trời làm chi ./.<br />
<br />
<font color=#696969><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">1996</span></font>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Tôi đọc Nguyễn Trọng Tân từ những ngày còn bé. Đó là tập truyện ngắn Đò chiều mà tôi lôi ra được trong một lần lục lọi tủ sách của ông chú. Cuốn đó có một số truyện ngắn đặc sắc với nhiều tình tiết kỳ quặc, bi thảm đã đeo bám trong tâm trí tôi rất lâu. Hôm rồi tôi có nhắc lại tên cuốn này với Hàn Tuyết và chợt muốn đọc lại. May mà trên VN Thư Quán cũng có vài tác phẩm của Nguyễn Trọng Tân, trong đó có Đò chiều, truyện ngắn mà tên được lấy đặt cho tập truyện hồi xưa tôi đã đọc.<br />
<br />
Nguyễn Trọng Tân sinh năm 1949, quê ở Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Trong hoạt động viết lách, ông còn dùng các bút danh như Nguyễn Lê My, Phù Việt Trang... <br />
<br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><img src="http://maxreading.com/data/books_images/9/2/92432bcb5364cbc996bfe7118497e64c.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: 92432bcb5364cbc996bfe7118497e64c.jpg]" class="mycode_img" /></div>
<br />
Trong giới hạn tập truyện Đò chiều, ấn tượng của tôi về bút pháp Nguyễn Trọng Tân là cách ông xây dựng nhân vật và tình tiết cực kỳ sinh động. Cách ông đặt tên cho nhân vật cũng rất lạ. Bối cảnh trong tác phẩm thường là làng quê Việt Nam, với tất cả những khốc liệt, bi tráng, trần trụi, đau đớn của phận người thời hậu chiến. Văn phong Nguyễn Trọng Tân khá chân phương, mộc mạc, dân dã, song có những lúc hưng phấn ông cũng viết ra những dòng vô cùng diễm lệ như ánh tà dương bất chợt bừng lên vào những khoảnh khắc cuối cùng của một ngày mưa bão.<br />
<br />
Mời các bạn thưởng thức truyện ngắn "Đò chiều" của Nguyễn Trọng Tân như chút hương vị cho ngày nghỉ. Tác phẩm được copy từ <a href="http://vnthuquan.net/truyen/truyentext.aspx?tid=2qtqv3m3237n2n2n0nvn31n343tq83a3q3m3237nvn" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">vnthuquan.net</a>, có chỉnh sửa một số lỗi typo.<br />
</span><br />
<br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><span style="font-size: x-large;" class="mycode_size">Đò chiều</span><br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Nguyễn Trọng Tân</span></div>
<br />
Nghề viết đưa tôi đi nhiều, gặp đủ hạng người. Song cái tạng tôi ngại tiếp xúc, lại lúc nào cũng thấy thảng thốt, như có lời giục giã đã từ đâu đó xa lắc: Hãy sống mau lên làm được gì có ích thì làm đi. Cuộc đời đáng yêu thật nhưng cũng chán ngắt. Cuộc đời có vinh nhục đủ cả nhưng không phải nơi ồn ã, trang trọng. ở đấy, cuộc đời trả giá, phù phiếm tới mức điệu nghệ. Phải chăng thế mà chuyến đi lặng lẽ về miệt rừng núi heo hút, cụ thể là cái trạm thuế con con bên ngã ba con đường Tây Bắc xuôi về làm tôi nhớ mãi.<br />
<br />
Duyên do chuyến đi bởi ông Cao Nhơn, người phụ trách nghành thuế tỉnh X. tôi quen ông khi ông làm Chủ Tịch một huyện lớn. Từ ngày ông về Thuế, tự dưng tôi thấy ngại gặp. Có thể do nỗi mặc cảm về cái nghề "thuế má" với những tay thước mặt mày hung gở in sâu trong trí nhớ tôi qua phim ảnh, sách báo thời còn trẻ.<br />
<br />
Dịp gặp nhau tại một lễ kỉ niệm; rượu vào, rượu lôi những điều ngại nói ra khỏi cổ, Cao Nhơn bảo tôi bằng cái giọng ngang ngang, ấm ức ra chiều:" Ông chẳng hiểu cóc khô gì cái nghề thu thuế của chúng tôi cả".<br />
<br />
- Này, hôm nào về với tôi ít ngày. Tôi đưa ông đi săn. Săn ở rừng cấm hẳn hoi. May được con hoẵng con chim, nếu trắng tay anh em thuế sẽ đãi ông bữa chẽo sông Bứa. Chẽo nướng, chẽo ôm măng tôi tin ông khối tư liệu viết còn hay hơn, tai quái hơn cái <a href="http://vnthuquan.net/truyen/truyentext.aspx?tid=2qtqv3m3237n2n2n0n1n31n343tq83a3q3m3237nvn" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="text-decoration: underline;" class="mycode_u"><font color=#0000CD>Trang gia phả viết bằng vôi</font></span></a>.<br />
<br />
Tôi chột dạ. Ra cái ông thuế này chịu đọc hơn tôi tưởng. Truyện ngắn trang gia phả viết bằng vôi, in đã lâu trên một tờ báo nhỏ ở thủ đô. Nội dung chỉ là câu chuyện tôi chép từ cuốn gia phả họ được viết trước cách mạng. Truyện chẳng ra gì mà ông đọc, ông nhớ. Vậy là ông quý tôi. Còn tôi thì cứ giữ cái định kiến xưa nay cho rằng xưa nay niềm mê say duy nhất của mấy cán bộ thuế là tiền. Làm sao, bất luận thu được nhiều tiền. Lòng họ lạnh lùng chai sạn?; Tôi đâm phân vân. Đôi mắt Cao Nhơn cười cười, tai quái. Giọng ông dịu bớt vẻ gây sự:<br />
<br />
- Ngày học phổ thông tôi giỏi nhất môn văn học, nhưng số phận đẩy tôi đi làm tài chính. Tôi được đào tạo chính quy và cũng gắn bó với nghề. Sinh ư nghiệp mà, nhưng không bỏ được thú mê văn chương thế mới khổ.<br />
<br />
- Sao lại khổ? Tôi cảnh giác nhìn Cao Nhơn. Văn ấy đâu phải là nghề. Văn ấy là Người. Nó là phần tâm hồn, hương nhụy của bông hoa. Ông làm tài chính mà giầu tâm hồn ấy là người sướng, người tốt.<br />
<br />
Cao Nhơn cười cười giễu cợt:<br />
<br />
- "Em" là người lòng thành thôi.<br />
<br />
Tự nhiên tôi thấy phát cáu vì cái lối tưng hửng của ông. Tôi đay nghiến:<br />
<br />
- Lòng thành là cái phù phiếm bậc nhất. Nó vô giai cấp. Chỉ có lòng thành thôi ông cóc làm lãnh đạo người khác được. Dân buôn lậu cúng thần linh làm cho cánh phòng thuế, công an, có mắt như mù, có tai như điếc, có mồm như câm. Đấy là lúc họ thể hiện lòng thành nhất còn gì.<br />
<br />
Kha kha cười, cái cười như đám hạt ngô già nổ bung giữa cát bỏng, Cao Nhơn không giận:<br />
<br />
- Nói chuyện với mấy ông văn nghệ kinh bỏ xừ. Nhưng tôi chịu được.<br />
<br />
Tôi cũng dàn hòa:<br />
<br />
-Văn chương là cái kính chiếu yêu. Nó chịu người có tâm, nỡm kẻ mượn nó để tiến thân. Ông có tâm thì sợ gì.<br />
<br />
Tôi nhận lời đi săn cùng Cao Nhơn trong rừng cấm. Nói cho oai thế thôi, rừng cấm bây giờ sạch tinh tươm. Chẳng biết ông Nhơn chuẩn bị ngựa từ bao giờ, hai con ngựa đủ bộ lệ yên cương. Cái dáng ngồi ngựa của Cao Nhơn thật điệu đà, cái phất roi khiêu khích làm tôi phải khen thầm:" Cha này thật lắm tài". Tuổi Đinh Hợi lại có sao hỷ thần chiếu mệnh, nghe đâu ông là "tác giả" của bao chuyện hóm nghịch động trời. Dưới đây là một chuyện:<br />
<br />
"Một lần Cao Nhơn đi viếng đền. Cổng đền tạc hình hai ông Thiện Ác. Đấy là những ông lính gác. Sứ mệnh các ông là làm vệ binh cho các đấng thần linh. Người đời không thờ cúng hai ông. Vậy mà chẳng hiểu sao dưới chân các ông lại có hai bát hương to tướng. Khói táp đen cả võ phục oai vệ. Lúc Cao Nhơn đến, thấy một nữ tu đang lúi húi. Cô gái còn quá trẻ. Gương mặt đẹp và buồn đến não lòng. Đôi môi hồng cắn chỉ, mòng mọng như chỉ trực òa ra nỗi ẩn ức đớn đau, khiến bộ quần áo nâu xồng cô đang mang chỉ làm tăng nỗi da riết với cuộc đời trần tục. Cao Nhơm sững lại. Cái máu nghịch ngợm trong người kéo ông tới bên cô bé. Đợi cô cắm hương xong, ông chắp tay khấn mà như hát: "Con lạy hai ông. Hai ông sinh ra để gác cổng đền. Cần chi đến sự thờ phụng của người đời. Vậy mà ai lại vẽ chuyện thế này. Quanh năm suốt tháng hương lửa cháy đùng đùng con hỏi thật, hai ông có thấy nóng rát ở chỗ ấy không?". Miệng nói nhưng bao nhiêu "lòng thành" từ đôi mắt hấp háy nơi ông nghiêng ngả sang bộ nâu xồng. Nữ tu quá sức e thẹn, bối rối liếc xéo cái ông đệ tử tai quái. Gương mặt đẹp mê hồn như có lửa cháy. Cô ngoăn ngoắt bỏ đi như hờn như rỗi. Chút vốn liếng tu hành rõ ra chưa được mấy nả có cơ bong mất.<br />
<br />
Lúc hai con ngựa sóng đôi, tôi hỏi lại Cao Nhơn. Ông cười kha kha bảo:<br />
<br />
- Có chuyện đó thật. Nhưng dạo ấy tôi còn trẻ mà. Với lại cũng tại cô bé ấy xinh tệ. Người quá xinh đẹp không thể tu thành chính quả được. Họ đi náu đời, nhưng đời nào tha họ. Cửa Phật là nơi thanh tịnh cạn kiệt mầu mỡ, mà cô bé thì như tinh túy của trời đất. Bước chân vào đó cô ấy sẽ chết. Cao Nhơn nói như hụt hơi: "Đùa vậy mà không hiểu sao đêm về tôi cứ thấy đau. Nỗi đau buồn vô cớ. Cho mãi đến sau này, gương mặt người nữ tu, dáng vẻ lầm lụi với một bể tâm sự và cam chịu trong cái tấm thân mảnh mai ấy cứ trở về mỗi khi tôi đơn côi."<br />
<br />
Tôi chợt phát hiện ở Cao Nhơn nỗi đa cảm và cô đơn khủng khiếp. Cái dáng ngồi tưạ thanh thoát như đã biến đâu. Tấm lưng cong xuống nặng nề, tia mắt vút xa nơi vỉa núi đang sẫm dần lúc chiều buông.<br />
<br />
- Sau đó tôi nghe nói, ông có đi tìm nữ tu?<br />
<br />
- Có, tôi có nghe ngươi ta bảo cô bé sang đò ở gần bến Gành. Ngày rằm mồng một cô ấy vẫn qua lại các chùa trong vùng, nhưng sau hôm ấy không thấy trở sang nữa. Các cụ bảo: "Trai yêu bằng mắt" có lẽ thật. Chỉ nhìn thấy cô bé lần ấy mà tôi nhớ mãi. Nhớ đến nỗi sau này gặp ai có nét hao hao giống cô bé là tôi cảm tình ngay. Với tôi sắc đẹp phải là như thế, phải có hồn vía của bùn đất, của mưa nắng. Sau đó tôi có qua lại hàng chục ngôi chùa trong vùng nhưng đều vô ích. Cô bé như là một đốm sáng kì lạ đậu vào đời tôi trong chốc lát rồi biến đi. Chỉ thế thôi mà tôi cứ khắc khoải, cứ nhớ thương, cứ tôn thờ suốt cuộc đời. Nhiều lúc tôi giật mình tự hỏi không biết chuyện nữ tu là mơ hay thật. Tôi đã cố họa lại gương mặt đó, tôi chưa vẽ bao giờ cả vậy mà tôi đã thể hiện được sắc diện của "nàng" trên mặt giấy. Nàng như một sự ban tặng, lại như một đòn trừng phạt tôi trong cuộc đời.<br />
<br />
Chuyến đi săn quả thật trắng tay. Hình như anh em trạm thuế cũng biết thế. Họ đã chuẩn bị sẵn cơm. Có thịt chẽo thật. Chẽo rán vàng ươm. Món măng tre trắng phau ngâm với ớt chỉ thiên. Những trái ớt bé tý, nhọn hoắt chỉ nhìn thôi đã thấy cay xé lưỡi. Đêm ấy trong cái trạm thuế chon von giống như một nếp nhà nghèo bị bỏ quên nơi cửa rừng, tôi trằn trọc không ngủ nổi. Giường bên, Cao Nhơn vẫn nằm ngay ngắn như vô lo, mà quá nửa đêm ông nói tỉnh queo: "Từ dạo về thành phố ít được ngủ rừng. Cứ ngủ rừng tôi lại nhớ, lại đau..."<br />
<br />
Giát giường cọt kẹt. Tôi nhìn sang thấy ông đang lụi cụi trở dậy. Ông vừa mặc áo vừa nói:<br />
<br />
- Dậy uống trà vậy. Ngồi bên cửa sổ nhìn sông Bứa về đêm đẹp ra phết.<br />
<br />
Hai cánh cửa gỗ mở ra. Tiếng con sông nhánh vào loại cổ nhất vùng Tây Bắc cất lên dào dạt. Ban ngày nhìn dòng sông bé bỏng, tù túng. Lúc này nó lại có vẻ huyền bí, mơ màng. Cao Nhơn ngồi im như pho tượng. Điếu thuốc chợt lụi, chợt hồng làm gương mặt ông gãy gọn như những nét khắc. Bỗng Cao Nhơn hỏi mà cũng ra như không hỏi tôi.<br />
<br />
- Ông có thể không! Nhiều lúc tôi có cảm giác rất lạ về thời gian tồn tại của đời người. Nó giống như con sâu đo ấy. Nếu cứ để ý nhìn nó bò thì sốt ruột lắm, ấy vậy mà chỉ nhãng đi một chốc, một chốc thôi, ngoảnh lại mới thấy kinh ngạc bởi sự hiện diện của kiếp người trước cái vô cùng vô tận của trời đất.<br />
<br />
Tôi khẽ rùng mình vì âm sắc chìm đắm, nỗi cô đơn, yếu ớt trong lời ông. Và tôi cũng chợt hiểu ra rằng, ai yêu ông chắc cũng nhận ra phần trong trẻo, thơ ngây nơi ông bị khuất lấp sau không ít đớn đau, bụi bậm và cả sự hơ hớ vô hồn của cuộc đời.<br />
<br />
*<br />
<br />
Cuộc chiến tranh năm ấy giống như một trò đùa ác. Cái lưỡi lông lá của nó táp nhoáng nhoàng vào một vùng biên cương. Dẫu cái thời đặc biệt đó chỉ diễn ra trong vòng vài chục ngày, nó kịp xới tung cuộc sống quen thuộc của hàng triệu con người. Lo sợ, vất vả, chết chóc, và lâu dài hơn, nó làm bật rễ niềm xác tín vào những hiện hữu mà cuộc sống thanh bình, lành mạnh đã vun trồng nên.<br />
<br />
Ngàn, vợ Cao Nhơn ôm được hai đứa con theo xí nghiệp xơ tán về xuôi, chưa ổn định đựoc chỗ ăn ngủ thì lại nghe chiến tranh kết thúc. Lại lục đục kéo ngược. Lại chôn người, dựng nhà hàn gắn đổ vỡ. Cô gái vùng bãi vải thủa nào ánh mắt vẫn thăm thẳm và thật nhiều khao khát. Mười năm trước học xong trung cấp Tài chính, niềm cuốn hút của rừng lôi bật Ngàn lên miệt biên cương này. Ngày ấy mọi người đều chưa biết tính toán chuyện thiệt hơn. Với Ngàn, được lập thân xa nhà còn đặc biệt hấp dẫn cô.<br />
<br />
Cao Nhơn gặp Ngàn khi cô vừa chân ướt chân ráo từ dưới xuôi lên. Cái áo gụ cổ trái tim bó tấm thân tròn lẳn, vẻ bỡ ngỡ e ấp nơi cô động chạm đến một cái gì rất sâu trong anh. Cao Nhơn hơi sững người. ánh mắt anh như lửa vây bọc Ngàn mỗi khi hai người gặp nhau. Và dẫu chưa nói ra, những cử chỉ ấy đã quá đủ một lời thú nhận sự si mê của anh trước cô. Nó giống như một tình cảm đã được ém sẵn, một tảng than hồng vẫn âm ỉ cháy dưới làn tro mỏng, cô đến, khối lửa ấy bùng cháy thành tình yêu.<br />
<br />
Ngàn khá xinh gái. Ngoài cái hấp dẫn chết người của "đàn bà" dậy thì, gương mặt và hồn vía của đôi mắt phảng phất những nét mê đắm nhất ở người có cá tính riêng mạnh mẽ. Hơn thế cô đem tất cả những thứ mỏng manh ấy dấn thân vào đời với một sự bạo dạn hiếm có. Ngày còn học trung cấp Tài chính, giữa thời bom đạn phá tơi bời, Ngàn đã là một cô gái cứng cỏi, quyết đoán hơn đám bạn học. Nhà cách trường vài chục cây số, chiều thứ bảy cô lại xăm xăm cuốc bộ về quê, có khi chỉ để ăn một bữa thật no bù cho những bữa ăn học trò suốt tuần chỉ đủ tráng dạ. Có khi chỉ để rúc vào ngủ với mẹ một đêm, để mẹ nắn chân nắn tay cô con gái nần nẫn ra mà miệng thì xuýt xoa rằng con gầy yếu vì thiếu ăn, vì học hành vất vả. Sáng chủ nhật tíu tít cơm cháo, mẹ lại dúi cho vài chục bạc, có lúc túm ngô rang, vài cân gạo thế là vui.<br />
<br />
Một lần trường tan học muộn quá, cô về đến bến sông thì đã nửa đêm. Có gọi thì cũng chẳng còn ai chở đò, Ngàn mượn con đò vô chủ tự bơi qua sông mà về. Chuyện thân gái dặm trường sông nước ấy đã làm lác mắt khối đấng "tu mi nam tử". Nhưng với Cao Nhơn, tính cách ấy lại làm anh thấy hay hay. Một cuộc săn đuổi ngấm ngầm của vô khối chàng trai trong xí nghiệp nhằm tới Ngàn. Mà chẳng hiểu sao ngay từ đầu, cũng giống như Cao Nhơn, trái tim tưởng như ngỗ ngược của cô lại thổn thức vì anh. Nhìn vẻ bề ngoài Nhơn có vẻ không đăng đối lắm với cô. Anh nhỏ con hơn, trầm tính hơn. Nhưng có gần gụi thì mới thấy Cao Nhơn là tay nghịch ngầm có hạng. Đôi mắt heo heo, cái miệng đào hoa mim mỉm với những câu chuyện dí dủm, tai quái, bất ngờ như bỏ bùa mê cho Ngàn. Cứ thế tình yêu thắt chặt hai người giữa không ít "hằn học" của đám mày râu thất trận. Một năm rồi hai năm, những chuyến đi vất vả từ rừng núi về đồng bằng trình diện hai gia đình đối với họ cứ nhẹ tênh tênh, cứ dày thêm cái tổ ấm mà họ phải xây đắp. Đám cưới của Cao Nhơn với Ngàn được tổ chức ngay tại xí nghiệp, một xí nghiệp sơ tán được coi là khá yên ả giữa những ngày căng thẳng nhất của cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mĩ trên miền Bắc. Hạnh phúc ấy chẳng đòi hỏi gì nhiều. Cả nước thắt lưng buộc bụng để đánh giặc. Người người lấy chính tâm làm trọng. Xã hội trong yên lành, yên ả. Và ngày đất nước bùng lên tiếng reo chiến thắng thì trong cái tổ ấm con con của Cao Nhơn, đứa con trai đầu lòng của vợ chồng anh cũng chào đời. Rồi hai năm sau tiếp đứa con gái. Nhiều gia đình xin chuyển về xuôi, nhưng Cao Nhơn thì chưa thể lo chuyện đó. Anh được cơ quan cử đi một khóa đại học chuyên nghành. Nhìn gian nhà tập thể xộc xệch, hai đứa con thơ dại, anh đã định từ chối, nhưng Ngàn lại cứng cỏi hơn anh. Cô biết để anh đi, ba mẹ con ở nhà sẽ vất vả gấp bội, nhưng anh đi được thì tương lai của nhà chắc chắn sẽ tốt đẹp hơn. Chiến tranh buộc tất cả trong sự quân bình, nhưng hòa bình là sự phân biệt, là sự phân cấp bởi trình độ và tài năng. Vợ chồng anh coi như đã gắn bó cả cuộc đời với rừng núi này, nhưng còn tương lai của lũ trẻ? Đêm trước ngày Cao Nhơn về Hà Nội nhập học, vợ chồng anh dường như thức trắng. Anh biết đây là thử thách đối với Ngàn. Khó khăn trong cuộc sống và công việc anh không lo cho cô, nhưng dường như thế, ai càng cứng cỏi về lý trí tình cảm lại yếu mềm đến độ ngạc nhiên. Khoảng cách ngày mai gữa hai vợ chồng anh là hơn 300 cây số. Anh biết Ngàn cố dấu sự lo lắng khi không có anh bên cạnh.<br />
<br />
Những ngày hòa bình đầu tiên ở cái vùng núi xa lắc này thật náo nức, nhưng cũng nhanh chóng chìm đi bởi bao nhiêu kế hoạch lớn từ tác động của chiến thắng. Hàng ngàn người đã tưởng xây dựng quê mới ở đây, bắt đầu nhấp nhổm lo chuyển về thành phố. Cả một làng công nhân đông đúc nay chỉ còn lại những gia đình đã quá nặng gánh vì con cái trưởng thành an cư lạc nghiệp, hoặc quá nghèo mà trong tay chẳng có bằng cấp gì để xin việc ở thành phố. Xí nghiệp in của Ngàn vẫn hoạt động. Sản phẩm vẫn là thứ hàng đặt của các đơn vị trong tỉnh với loại giấy nứa đen xì. Do nhiều người nghỉ nên việc nhiều. Một nách hai con, chồng lại ở xa, Ngàn gắng gỏi để tăng thu nhập nuôi con. Ngoài việc chuyên môn, tối đến cô nhận thêm hàng về nhà làm. Hoàn cảnh như Ngàn, bằng cấp có, có điều kiện về xuôi mà vẫn yên tâm công tác, là người lao động tiên tiến, trở thành đối tượng bồi dưỡng phát triển của tổ chức. Nhưng sâu thẳm trong lòng Ngàn cứ bị một nỗi thắc thỏm lo lắng vô cớ. Lúc làm việc ở phân xưởng đông vui thì quên đi nhưng đêm về, con nhỏ, xung quanh là rừng núi mênh mang, mới thấy ngấm nỗi chông chênh của đàn bà vắng chồng. Cô lại chợt tiếc đã để anh đi học. Năm năm quả là dài đối với tuổi đàn bà hồi xuân. Ngàn biết mình là người mạnh bạo, quyết đoán vì thế nhu cầu tình cảm, khát khao hưởng thụ cũng mạnh mẽ không kém. Nhiều đêm trằn chọc không ngủ, nỗi khát khao càng dày vò cô tợn. Nước mắt tràn ra, cố ghìm lại tiếng thở dài cứ nối nhau đẩy đến tức ngực. Ngàn tháo tung chiếc áo con bó chặt bộ ngực săn chắc lại của mình, cuộn cái chăn chiên, ghì lên tấm thân nóng bỏng đang đòi hỏi. Mỗi đợt như thế người cô lại bơ phờ mấy hôm mới trở lại thăng bằng. Cô dò hỏi người bạn tên Thuận, chồng Thuận đi bộ đội đóng quân tận biên giới Tây Nam, Thuận nhe răng cười bảo:" Mày chết, thế là mày bị ách-ta-ri rồi. Những cô gái quá lứa hay bị mắc bệnh đó. Có chồng như mày mà bị thế là ghê lắm?;" " Có thuốc gì không?". Thuận dí ngón tay vào trán cô, giọng dài ra. "Có. Chỉ có mỗi một thứ thuốc, nhưng mày có dám không?". "Thuốc gì mà không dám?". "Đàn ông". Ngàn giật mình. "Thật đấy!". Thuận bảo, "Lúc lên cơn ách ta ri cứ cho một tay đàn ông nào đó yêu một tý hoặc chỉ cần sờ một tý là nguôi ngay".<br />
<br />
Từ hôm đó Ngàn không hỏi thêm gì Thuận, nhưng mỗi lần "bị" như thế, Ngàn lại nghĩ đến phương thuốc Thuận nói, không rõ thật hay đùa. Nhưng quả có thế những kỳ chồng cô về nghỉ hè, một thời gian dài sau đó, cô không thấy chuyện ấy xảy ra.<br />
<br />
*<br />
<br />
Quản đốc phân xưởng Trần Xạo, ngót bốn mươi tuổi. Nghe đâu vì vợ anh sinh toàn con gái nên anh ta chán xin lên làm việc ở cái phân xưởng sơ tán này. Nom bên ngoài Trần Xạo dễ làm người ta ngài ngại vì cái vẻ đồng cô tồi tội. Xạo ở một mình trong khu tập thể Xí nghiệp. Thỉnh thoảng anh ta mới về thành phố với vợ con. Xạo về được vài tháng thì Cao Nhơn đi học, hai người chỉ biết nhau sơ sơ.<br />
<br />
Từ ngày được tổ Đảng phân công giúp đỡ Ngàn phấn đấu, Trần Xạo mấy lần gặp riêng trò chuyện với cô. Sự khao khát vươn lên của mỗi người là lẽ tự nhiên, Ngàn cũng mừng vì được tổ chức quan tâm, nhưng mỗi lần gặp Xạo cô lại linh cảm thấy một nỗi lo lắng tuy rất mù mờ. Trần Xạo đặc biệt quan tâm, săn đón cô. Nhiều bận đã hết giờ làm anh ta còn giữ cô ở lại nói chuyện vu vơ, rồi một vài lần anh ta đến nhà vào buổi tối. Chuyện công tác, phấn đấu của cô hình như chỉ là cái cớ để anh gần gụi cô. Nhưng lòng đàn bà lại thế, dù đã biết mười mươi mối hiểm họa bên mình, họ vẫn không thắng được sự tò mò, một chút kiêu hãnh tự ve vuốt mình. Đối với Trần Xạo, một chút đó quá đủ để anh ta đánh gục cái danh tiết của bất kỳ người đàn bà nào. Cái bản mặt tồi tội, nhẫn nhục và đơn côi, cộng với những lời nỉ non mượt mà dối trá, được Trần Xạo sử dụng tài tình như cái chìa khóa đặc dụng len lỏi vào trúng nơi yếu lòng nhất của bất cứ quý bà nào muốn thách thức: "Cứ để xem sao".<br />
<br />
Ba năm xa chồng, rồi cú giáng điếng người của cuộc chiến biên giới là thời điểm, là cái cớ xô Ngàn vào với Xạo. Giữa những ngày lao đao ấy, một nách hai con, Ngàn thấy yên lòng trong đôi cánh tay đàn ông dang ra đỡ đần. Những ngày đầu sự cảnh tỉnh trong cô còn mạnh, song nỗi lo sợ đơn côi cứ lớn lên thêm mỗi khi cô vui sướng được Trần Xạo quan tâm. Sự nhùng nhằng trong lòng người đàn bà là vết nứt đầu tiên tuột họ vào vòng sa ngã. Ngàn đã xuôi tay trong cái bẫy tình ái vừa ngọt ngào vừa đắng chát của số phận. Có nhiều đêm cô thấy mình thơ thới, sôi nổi như thuở đầu đời. Cũng chen giữa đó là sự giật mình hoảng sợ cho tương lai: Chồng con, sự nghiệp? Xong, cái cây đời đang xanh tươi thế. Những đêm núi rừng vừa thâm sâu vừa khêu gợi, đàn bà thao thức một mình, cái lý sự "thằng Bờm" có sức thuyết phục ghê hồn. Cứ thế Ngàn như người vừa tự giác vừa mộng du bước vào vòng tay của Xạo. Và khi đôi tay đó khép lại thì sự dùng dằng trong lòng người đàn bà cũng chấm dứt. Suốt những ngày tháng chồng ở xa, cô và Xạo lang thang trên con đường ven sông Lô. Dưới ánh trăng non, dòng sông như một dải lụa màu viền theo miên man núi đá. Dường như mọi thứ ngổn ngang sau cuộc chiến tranh với họ cũng không còn nặng nề ghê sợ nữa.<br />
<br />
* <br />
<br />
Suốt hai ngày trời, trên chuyến xe khách liên tỉnh, một người đàn bà đã đứng tuổi không lúc nào bớt nhầu nhĩ; cái túi du lịch kẹp vào giữa hai gót chân, lúc xe qua đoạn đường xấu chị lại nhăn mặt như đang có gì đạp thúc trong bụng. Đôi bàn chân gầy, với những sợi gân xanh như giữ cái túi khỏi nhảy lên mà lại như bám víu vào đó. Lúc chị đứng lên mới nhìn thấy cái bụng đã lùm lùm sau làn áo xanh công nhân khá chật. Xe vào bến, hành khách tỏa đi các ngả rất nhanh, hình như họ đều là người quen thuộc vùng này, chỉ có chị lạ lẫm. Người gác bến chỉ đường cho chị về ngôi nhà trọ gần xí nghiệp in của tỉnh. Chị Miền. Vợ của quản đốc Trần Xạo từ một xí nghiệp ở Hà Nội lên.<br />
<br />
Nghe nói mấy năm trước Xạo đã từng là phó giám đốc nhà máy nơi chị đang làm việc. Cũng vì lôi thôi thế nào với một nữ công nhân trẻ, Xạo bị anh chồng máu Trương Phi của cô ta đánh ghen chặt đứt một ngón tay. Chuyện ầm ĩ. Xạo bị lãnh án cách chức, và phải "hạ phóng" về xí nghiệp in sơ tán nơi rừng núi này. Miền đã có với Xạo hai con gái, chồng bị điều đi xa, chị với hai con vẫn ở lại Hà Nội. Vài tháng Xạo mới về thăm vợ. Chuyện cũ được thời gian và cả sự xa cách xóa mờ dần. Cũng cứ mong tình cảm được nuôi dưỡng trở lại. Biết khát khao của chồng về một đứa con trai, Miền cũng chiều lòng. Cái thai trong bụng chị lớn từng ngày. Theo kinh nghiệm của mẹ chị chắc lần này chị sẽ sinh con trai. Nỗi vui mừng cứ dâng lên cùng với hy vọng Xạo được trở về xum họp cùng gia đình lấn lướt cả nỗi áy náy vì chuyện sinh đẻ có kế hoạch của nhà máy. Nào ngờ Xạo lại lần nữa phụ bạc chị, chạy theo người đàn bà khác trong khi chị đã tha thứ cho anh ta. Chị cắn răng chịu đựng mọi lời dị nghị, mọi ánh mắt soi mói trước cái thai nhẽ ra không nên có, chịu thiệt thòi về quyền lợi và cả bước phấn đấu để mong anh ta tu tỉnh.<br />
<br />
Một tuần liền sau khi biết tin chồng, Miền như người mất trọng lượng. Chị dấu mẹ, dấu các con chuyện xấu hổ đó. Chị xin nhà máy nghỉ phép rồi gửi con cho mẹ, theo xe lên Hà Tuyên nơi Xạo đang làm việc. Hơn ba trăm cây số đường rừng, vất vả, cực nhọc với người đàn bà bụng mang dạ chửa không đáng ngại bằng chị phải giáp mặt với Xạo. Vì những đứa con cần có bố, chị cố gắng nén nỗi đau của người vợ bị phản bội. Nhưng lần này nữa chị cũng không biết mình phải xử sự ra sao. Chị không phải là loại đàn bà có thể túm tóc, lăng nhục người đàn bà khác đã ăn nằm với chồng chị. Nhưng nỗi ấm ức, ghen hờn vẫn cứ bập bùng cháy rát trong lòng.<br />
<br />
Nhà trọ vắng khách, chị được ở một phòng riêng. Nghỉ ngơi, tắm táp xong chị tìm người bạn gái tên Châu vốn trước cùng làm việc trong nhà máy. Chị bối rối và cay đắng khóc khi nghe Châu cứ sồn sồn "Tý nữa tao phải đưa mày đi, phải bắt tận tay day tận trán lũ mèo mả gà đồng ấy. Tao tức lắm. Chồng con Ngàn đi học vắng, lão Xạo suốt mấy tháng nay cứ dính kè với nó. Ngứa cả mắt!". Châu đanh đá, tốt bụng theo kiêu thẳng băng. Thấy chuyện bất bình của ai Châu cũng sắn tay vào can thiệp. Ngày trước chiến tranh, nhà máy còn ở tập trung, mấy ông lãnh đạo ngại nhất khi họp công nhân viên. Thế nào Châu cũng được mọi người phân công phát biểu. Tuổi Canh Dần thế nào Châu lại lấy được người chồng Kỷ Sửu, cả ngày anh ta chỉ lầm lũi, ậm à ậm ừ cho qua chuyện. Nghe Châu sôi sục, anh bảo: "Ở trên này ai cũng biết chuyện ấy cả nhưng đều ngại dây vào. Hay là để mai tôi bảo riêng ông Xạo gặp chị Miền. Hai vợ chồng có gì đóng cửa bảo nhau. Cứ nghe cô Châu làm ầm lên thế có khi gay!". "Gay là gay thế nào?". Châu vằn đôi mắt xếch lên. "Không làm cho chúng nó sợ thì ông Xạo dám bỏ vợ con theo nó lắm. Không lôi thôi gì cả. Ngồi đây ăn cơm rồi tao đưa đi. Tối nào mà hai đứa chẳng hú hí với nhau!".<br />
<br />
Tội thân chị Miền, mới chỉ nhìn thấy chồng cùng người đàn bà ấy ngồi với nhau, chị đã hức lên ngã vật xuống. Cái thai như rữa ra quặn thắt. Châu hoảng hốt réo tên Xạo. Ngàn thất thần rời vòng tay của Xạo lao về nhà. Xạo thảng thốt nhận ra Miền đang quằn quại trong đôi tay Châu, anh ta đưa Miền về trạm xá Xí nghiệp thì cái thai đã không giữ được. Bà y sĩ cho biết đã rõ hình hài một đứa bé trai.<br />
<br />
Chuyện giữa Miền và Xạo loang ra khắp các xí nghiệp trong vùng. Cao Nhơn buồn tê tái. Nỗi buồn của những người có tâm thường đi ngược vào trong gan ruột. Nó khiến mỗi tế bào đều đắng ngắt và rệu rã. Mấy ngày ở nhà. Cao Nhơn cứ cật vấn mình. Anh biết lỗi này cũng do mình một phần. Với một người nhiều khao khát, mạnh bạo như Ngàn thường dễ gẫy bởi những gì mù mờ, dai dẳng. Cô thanh minh, bào chữa cho việc mình làm cũng bằng cách hối hả, rành rẽ. Cao Nhơn cắn răng nghe, cố nhủ mình bình tĩnh, cảm thông. Anh không hề căn vặn nóng nảy. Dù không muốn thế, mà sâu lắng trong suy nghĩ, anh linh cảm có một điều gì đó nghiêm trọng đang bóp chết mọi cố gắng của anh: Hai đứa con thơ dại phải được lớn lên thanh thản dưới sự che chở của cả bố lẫn mẹ. Tâm hồn non nớt của chúng phải được bảo vệ. Bởi không giữ được những điều đó thì mọi lý do của người lớn với chúng tất thảy đều là giả dối, vô nghĩa.<br />
<br />
Gần một thàng hè ở nhà bên vợ con, Cao Nhơn cố gồng mình lên để không khí đỡ tẻ. Hai đứa con còn quá nhỏ, chúng chưa đủ nhạy cảm để hiểu sự ấm êm giả tạo mà bố mẹ chúng dựng lên. Nhưng Ngàn thì khác. Dưới cái mặt nước có vẻ bằng lặng của gia đình, là những cơn vật vã của sóng ngầm. Nó cứ khoét sâu vào cái chân đế hạnh phúc của vợ chồng cô đã nứt vỡ. Ngàn biết tất cả tại cô. Cao Nhơn muốn nhờ thời gian hàn gắn những vết rạn, nhưng chính tính cách quyết liệt của Ngàn lại chống lại cô. Cái sợi dây buộc cô với gia đình là hai đứa con chưa đủ khỏe trước sức hút của sự lỡ làng và nỗi dày vò xấu hổ. Sau khi Cao Nhơn về trường, Ngàn đem tất cả nỗi khổ tâm của mình đặt lên tay mấy ông thầy tướng. Trần Xạo vẫn lén lút gặp Ngàn. "Tình cũ không rủ cũng về", hai người ấy vẫn như con thiêu thân quáng mắt vì ánh đèn. Không dứt ra được với Xạo, Ngàn còn sa chân vào nơi mà trước đây cô không hề để ý tới: Cầu cúng. Cô giật mình vì những lời phán của thầy như đi guốc trong bụng cô. Gia cảnh nhà chồng, tính cách của mỗi người, mối tình với Xạo... tất cả cứ như được xếp đặt từ trước trong số mệnh. "Sách trời" đã ghi rằng đời cô phải "sang đò" chuyến nữa! Đôi lúc tự Ngàn cũng nghĩ rằng có ai đó đã làm thầy dùi cho mấy ông xem tướng để bắt cô phải tin như thế. Nhưng rồi mọi sự tưởng như mù mờ trong lối nói của "các thầy" cứ rành rẽ ra trong đầu óc của người đàn bà đang hoang mang và khát thèm một sự bấu víu, một nhu cầu giải tỏa. Hai lực hút cộng hưởng đưa cô về với cái vòng xoáy của nó. Mặc cảm tội lỗi với người thân, nỗi ám ảnh vô hình về tiền kiếp, duyên số bít chặt sự hồi tỉnh trong cô. Và rồi, vào lúc yếu lòng nhất, bấn loạn nhất, Ngàn bỏ lại hai đứa con, dứt tình với người chồng mà cô hằng yêu thuơng và chắc hẳn vẫn yêu thương, để khăn gói đi theo Trần Xạo.<br />
<br />
*<br />
<br />
Cơn bão số 9 sầm sập về thành phố. Những đụn mây đen tựa đôi cánh tả tơi của con quái vật khổng lồ quét nốt những đốm sao hiếm hoi trên bầu trời. Mưa quất xéo xuống sân ga. Nước sùng sục ngoạm tiếng đám bã mía, lá bánh, bột than vương vãi đẩy về phía miệng cống. Tiếng cống rên ùng ục. Tốp sinh viên năm cuối trường Ngoại thương nhảy từ cửa xe ca xuống mặt sân, áo mưa, mũ cối, cặp da, ai có thứ gì giơ lên che đầu thứ đó. Họ ào vào phòng đợi tầu khiến cái ga thị xã vốn yên ắng đến rầu rĩ bận rộn lên. Lưa thưa vài người khách chờ tầu đều ngước mắt lên nhìn.<br />
<br />
-Mưa bão thế này mà thi với cử, có mà trượt ráo.<br />
<br />
- Bọn khoa văn đến chưa mày ơi?<br />
<br />
- Chưa, còn sớm chán.<br />
<br />
Người đàn ông đứng tuổi chạy sau cùng. Gần cửa ga anh ta nhảy loi choi như con chuột túi. Vừa đặt chân vào đã la toáng lên:<br />
<br />
- Các cậu ơi, lại đây tý. Tàu xe đêm hôm cẩn tắc vô áy náy. Tất cả xem lại đi nào. Vé, hành lý rồi túm tụm vào với nhau cho gọn.<br />
<br />
Đám nữ sinh đang chải đầu quay ngoắt cả lại. Những con mắt nhóng nhánh tinh quái:<br />
<br />
- Đoàn trưởng Tùng ơi. Được túm tụm vào với nhau ạ?<br />
<br />
- Ha, ha... Được đấy! Con gái Ngoại thương mình cũng ra phết.<br />
<br />
Chàng trai vừa nói chợt ré lên. Một rừng móng tay chợt xoắn vào da thịt cậu. Những cái miệng nhọn ra nhao nhao:<br />
<br />
- Coi thường con gái Ngoại thương hả, hả? Vâng, các chị đây thì khô như ngói, đâu bằng "người" văn khoa nhà anh. Vừa đa cảm này, vừa dẻo mỏ này, văn thơ lênh láng này, đúng không? Thú nhận đi.<br />
<br />
Vừa chống đỡ cơn tá hỏa của đám bạn gái, vừa hềnh hệch cười lùi mãi về phía Tùng. Một cái sống lược dí vào trán chưa tha:<br />
<br />
-Tý nữa lên tàu lại chỗ bọn khoa văn mà ngồi nghe chưa.<br />
<br />
Tùng lụi cụi đẩy hai chiếc ghế băng sát vào nhau, vừa xong thì các cô ùa lại chiếm mất.<br />
<br />
- Nào thì túm. Anh Tùng ơi túm kiểu gì đây?;<br />
<br />
- Hừ nghiêm túc, nghiêm túc. Lúc nãy học trò vừa mới thưa thầy, thưa cô đấy nhé.<br />
<br />
- Em chã em chã đâu.<br />
<br />
Lại ồn ã một chặp nữa.<br />
<br />
Cao Nhơn ngồi thu lu mãi cuối phòng, gần cửa soát vé. Theo dõi đám sinh viên từ nãy anh thoáng vui lây. Anh cũng mới dời ghế nhà trường được hơn một năm nay. Nhưng ngay cả lúc sinh viên anh cũng thuộc loại các "chú". Không còn cái tuổi vô lo để nhảy nhót quậy phá. Thêm nữa chuyện gia đình làm cho năm cuối khóa học của anh nặng nề tưởng như chẳng còn muốn thi cử gì nữa. Ngàn bỏ đi theo Trần Xạo, gài lại mảnh giấy nhỏ trong cánh tủ: "Anh Nhơn. Em biết mình có lỗi. Em bỏ đi vì số mệnh của em phải vậy. Cầu mong các con hiểu cho em. Sau này, khi các con dựng vợ, gả chồng, nếu được, anh nhắn tin trên đài, erm sẽ về...". Cao Nhơn vẫn nhớ rõ cái cảm giác ghê gớm phút đầu cầm mẩu giấy lạnh lùng đó. Anh đã bổ đi tìm Ngàn mấy chuyến. Ai mách ở đâu cũng đi. Chiều hôm qua anh vừa từ trong Nam Bộ ra, tiện đường tạt về nhà người anh vợ báo tin. Chuyện xảy ra đã gần ba năm nhưng về phía nhà Ngàn gánh nặng tâm lý chưa thể giải tỏa được. Anh trai Ngàn là Sơn, đã lên tận Hà Tuyên, nơi Ngàn công tác để tìm hiểu. Giọt máu trên, rọt máu dưới không thể không xót xa. Nhưng đêm qua lúc anh em tâm sự, anh Sơn cũng phải nhận rằng cô Ngàn là người có lỗi chính. Cao Nhơn bảo rằng nghe có bạn trong Nam điện ra gặp một phụ nữ giống Ngàn ở Bến Tre. Bến Tre là một nơi mà cậu em trai Ngàn từng đóng quân, đến nay gia đình cũng không xác định được còn sống hay đã chết. Giấy của đơn vị chỉ báo tin cậu ta mất tích. Có thể Ngàn vào trong đó. Nhưng lúc Cao Nhơn nhờ người hỏi chuyện thì người đó không nhận. Nét mặt chỉ hao hao, linh cảm vợ chồng cũng mờ mịt, Cao Nhơn biết đó không phải là Ngàn.<br />
<br />
Đám sinh viên đã chán đùa. Họ xúm vào nhau, rù rì chuyện vãn, vài cô gục vào vai người bên cạnh ngủ. Cao Nhơn đưa mắt ra sau ga. Mưa đã tạnh. Hàng rào kẽm gai chạy song song với đường sắt thỉnh thoảng lóa lên bởi ánh chớp. Cái ga bé nhỏ lợp ngói này đã bao nhiêu lần đón đưa vợ chồng anh về thăm quê vợ. Mỗi bận chia tay, các em, các cháu lại đạp xe ra đưa tiễn. Lại ríu rít hẹn hò. Vậy mà giờ đây anh một mình thui thủi. Cao nhơn đốt thuốc, đi đi lại lại để tránh cơn buồn ngủ đã chớm đến. Chợt có tiếng gọi như reo:<br />
<br />
- Anh Nhơn, anh Nhơn phải không?<br />
<br />
- Ôi Hảo!<br />
<br />
- Anh làm gì mà ở đây?<br />
<br />
- Còn em? Nào ngồi xuống. Em đi coi thi phải không?<br />
<br />
- Vâng. Vừa xong buổi sớm, chiều ra tầu về thì gặp mưa.<br />
<br />
- Anh đi công tác à?<br />
<br />
- Không, chuyện dài lắm. Anh đi miền Nam ra, tạt về quê cô Ngàn.<br />
<br />
Hảo ngước mắt lên bạo dạn nhìn vào mắt Cao Nhơn.<br />
<br />
- Anh vẫn đi tìm chị ấy à?<br />
<br />
- Có người mách gặp Ngàn trong Bến Tre.<br />
<br />
-Khốn khổ cho anh! - Mắt Hảo chợt xỉu xuống, một chút hờn dỗi rất trẻ con - Chẳng đáng phải làm thế.<br />
<br />
Cao Nhơn nhìn đi chỗ khác, thở một luồng khói dài. Hảo cùng quê với anh, con một thầy giáo trường làng. Ngày bé Nhơn đã học cụ. Chuyện của vợ chồng Nhơn, cả làng biết. Đặc biệt ông bà giáo rất thương anh. Hai đứa con gửi ở quê cho bố mẹ anh chăm sóc vẫn được ông bà giáo và Hảo đón về chơi. Hảo kém anh hơn chục tuổi. Cô rất xinh gái, học giỏi. Ngày anh sắp tốt nghiệp đại học Kinh tế thì Hảo vào học Ngoại thương. Thỉnh thoảng anh mới gặp cô ở quê. Không ngờ Tết vừa rồi ông giáo mời anh sang uống rượu. Ông cụ vẫn giữ lối sống nghiêm khắc cũ. Mâm cỗ chỉ có hai thầy trò, bà cụ và chị em Hảo ngồi dưới bếp. Giữa chừng ông cụ nghiêm giọng bảo: "Anh Nhơn này. Tôi với ông cụ bên nhà là bạn bè cùng lứa. Chuyện vợ con anh thế âu cũng là cái số. Nhưng cảnh gà trống nuôi con. Lại còn công còn việc. Mấy năm nay anh cất công đi tìm chị ấy Không thể cứ thế mãi được. Tôi ngắm ra con Hảo nhà này nó quý mến anh lắm. Bây giờ dân chủ rồi chẳng còn ai nghĩ luẩn quẩn như ngày xưa nữa đâu. Phải duyên phải số thì tôi cho anh con Hảo đấy. Tôi xem ý nó cũng đồng ý. Tôi nói thế. Anh tính sao? Nếu ưng lúc nó ra trường đại học thì cưới..." Nhơn suýt chút nữa đánh rơi chén rượu. Mặt anh lựng đỏ. May lúc đó Hảo không có mặt ở đó. Hai gia đình anh và ông giáo vốn là chỗ thân tình. Anh quý Hảo như em gái lại chênh lệch tuổi tác, Nhơn đâu có nghĩ đến cô như bạn bè. Mấy năm nay, con gửi ở quê, tuần nào anh cũng từ cơ quan về vào chủ nhật, biết chúng gắn bó với Hảo nhưng lòng anh nào đã nghĩ đến chuyện gá nghĩa với ai, huống hồ với Hảo. Đến lúc nghe ông cụ nói anh mới lờ mờ nhớ ra chuyện này bố mẹ anh cũng đã ướm hỏi anh một vài lần. Hảo qua lại thăm anh, chăm sóc các con anh chân tình, thẳng thắn, còn anh thì chẳng để ý gì tới. Ngót một năm trời sau đó, anh bấu víu chuyển công tác từ Hà Nội về để gần gũi lo cho hai đứa con. Sự quan tâm của ông bà giáo, rồi nỗi khát khao của cha mẹ lo cho anh, cứ bị anh ậm ờ bỏ qua. Tình cảm của Hảo, anh cũng tưởng là sự cảm thông, nỗi xúc động ban đầu, thời gian sẽ làm cho cô nghĩ khác đi.<br />
<br />
Dù sao thì anh cũng có một đời vợ và một gáng nặng gia đình cùng hai đứa con. Nhưng mỗi lần về quê đến thăm ông bà anh nhận thấy ý định tác thành cho anh vẫn vững chắc trong quyết tâm của những người thân. Bối rối quá chừng, anh mấy tháng liền không về quê. Giống như một cuộc chạy trốn. Nhưng chính trong những ngày đó anh tự dưng lại nghĩ đến Hảo nhiều nhất. Không giống như nỗi nhớ của những người trai trẻ đang yêu. Không bồng bột, liều mạng mà cứ da riết, ấm áp. Đêm đêm khi hai đứa con đã ngủ, mỗi đứa lăn một góc giường, quần áo con Điệp nhàu nát, chân thằng Hoàng nhựa chuối bám đen, Nhơn lại nhớ đến những lần Hảo kỳ cọ tắm giặt cho chúng nó. Mồ hôi lấm tấm khắp khuôn trán và hai bên thái dương cô. Những chân tóc xanh mướt bị kéo căng làm chỗ thái dương rân rân đỏ. Cái cách buộc tóc của Hảo khiến Nhơn rất thích. Một vòng dây chun mộc mạc túm cái đuôi tóc vồng lên, đường ngôi thẳng thắn, cái cổ trắng thon thả, cao cao, trông cô đoan trang, hiền đảm hơn. Hai cái tay áo chật kéo cao, bó sít vào cánh tay tròn, mỗi lần cô vò quần áo, những đường cong trên vai, trên lưng lượn thật hút hồn. Lần đó anh đứng chẳng biết bao lâu. Ông giáo nghỉ trưa, hai đứa trẻ chắc cũng ngủ. Hảo cứ lúi cúi bên cạnh giếng không biết mình bị ngắm trộm. Đến lúc nghe có người ngoài cổng, anh mới chợt lên tiếng. Hảo giật mình quay lại. nỗi vui mừng hơi thái quá, cô chạy líu ríu ra đón anh, con mắt ngời ngợi. Hai má lừng lựng đỏ, e thẹn, đôi môi một thoáng cong lên như hờn giận rất trẻ con. Chỉ một cử chỉ ấy thôi khiến anh lại thấy vị chan chát trong ngực mình. Hảo còn quá trẻ đẹp, quá nhân hậu. Anh sợ!<br />
<br />
Sau một vài bận nữa anh về quê, nhưng không gặp Hảo. Cô đã sắp hết năm thứ ba, thời kì làm khóa luận để bước sang năm cuối khóa. Tình yêu của Hảo với Nhơn, nếu có thể gọi như thế, là một thứ tình yêu không giống với mọi người. Hảo không bao giờ viết thư hay đến thăm Nhơn, dù là cách xa nhau vài tháng, nhưng hễ gặp lại là hồ hởi, tha thiết, hờn dỗi. Hảo biết Nhơn mặc cảm. Nhơn thương Hảo nhưng kẻ cả, đàn anh. Nỗi đau và cả lòng thương người kiểu ấy khiến trái tim anh không bắt được tín hiệu yêu thương từ Hảo. Một tình yêu mạnh mẽ, đúng đắn hơn lý trí, nó vượt qua thông lệ và mọi cố chấp. Nó như được duyên số mách bảo. Nhận ra điều ấy, với Cao Nhơn đòi hỏi phải có thời gian. Và suốt mấy tháng trời anh cứ cật vấn mình, đến khi anh nhận thấy hình như cuộc đời mình cần có Hảo, thì lại được tin Ngàn đang sống tại một huyện đồng bằng tỉnh Bến Tre. Tin ấy đem lại trong anh một cảm giác lạ. Không phải là tình yêu mà trách nhiệm của người cha đối với các con. Và nếu như trước khi đến với Hảo anh gặp lại được Ngàn thì nhẹ nhõm hơn. Anh quyết tâm đi tới nơi mà có thể Ngàn đang sống. Để rồi không ngờ anh lại gặp Hảo ở đây.<br />
<br />
Tiếng Hảo rành rẽ, chân thật:<br />
<br />
- Em không muốn gợi lại chuyện buồn của anh. Nhưng anh thử nghĩ xem, bố mẹ chị ấy chết chị ấy cũng không về. Anh còn chờ đợi gì nữa chứ?<br />
<br />
- Không phải cho anh. Hảo ơi. Hai cháu Hoàng, Điệp cứ ngày một lớn lên. Mỗi lần chúng hỏi về mẹ chúng, anh lại đau lòng.<br />
<br />
Giọng Cao Nhơn nhão ra, Hảo cúi mặt không nói gì thêm, anh rít thuốc liên tục rồi thở dài thườn thượt, một lúc sau quay lại nhìn Hảo thì mới nhận ra cô đang khóc. Nhơn sợ tốp sinh viên để ý, nhưng họ đã quá mệt mỏi dúm vào nhau mà ngủ. Nhơn run run đặt tay lên bờ vai tròn. Hảo càng thổn thức. Một cảm giác tươi tắn, ấm áp dần dần ùa sang Nhơn. Hai bàn tay nhỏ nhắn của Hảo bối rối đan ngón vào nhau trông thật tội. Như không còn nhớ mình đang ở giữa nơi đông người, Nhơn khẽ khàng nắm hai bàn tay ấy. Đã từ lâu lắm cảm nhận gần gũi với một cơ thể khác giới trở lại trong anh. Nó ào ạt phá vỡ sự cố chấp, sự hành hạ mình, dày vò mình trấn ngự trong lòng anh từ ngày Ngàn bỏ đi. Anh linh cảm đôi vai bé nhỏ kia sẽ san sẻ cho anh cái gánh đời quá sức nặng nề, những đứa con anh sẽ phải nương dựa vào đó. Ba mươi tuổi đời đã không chỉ một lần anh định phó mặc tất cả. Không ngờ giúp anh đứng vững trong lúc khó khăn nhất lại là đôi tay tưởng như mềm yếu này chăng?<br />
<br />
Cao Nhơn nhìn sâu vào đôi mắt Hảo, hỏi gấp gáp trong hơi thở:<br />
<br />
- Hảo, em?<br />
<br />
Mái đầu gật nhẹ, đôi mắt nhoèn nước long lanh, gò má Hảo lại ửng hồng. Mầu của lửa tỏa khắp gương mặt đẹp và thật hiền. Cao Nhơn bỗng như bị choáng. Cái khóe miệng dễ hờn dỗi này, đôi môi mòng mọng viền một nét chỉ này, hình như anh đã gặp ở đâu, xa lắm nhưng rành rẽ lắm. Một núi ký ức trong lòng Cao Nhơn theo nhau sụp xuống. Có cái gì cay cay len dần lên sống mũi, văng vẳng như chính giọng anh sững sờ "Trời ạ! Chẳng lẽ là Nàng. Không! Không thể là Nàng. Nhưng hơn mười năm trước, Nàng đã tặng ta khuôn mặt này". Hảo nhăn nhó hoảng sợ nhìn Nhơn.<br />
<br />
- Ối, bóp tay em đau quá, anh làm sao thế?<br />
<br />
- Ồ không, không. Xin lỗi em, anh ngu thật.<br />
<br />
Hảo không hiểu Nhơn nói gì. Còn anh cứ tự hỏi làm sao bao nhiêu năm gần gũi, bao nhiêu lần trò chuyện mà đến tận bây giờ anh mới nhận ra vẻ đẹp này nhỉ. Vẻ đẹp của người nữ tu, mà suốt đời anh khao khát kiếm tìm lại hiển hiện ngay nơi Hảo!<br />
<br />
* * *<br />
<br />
Thế là hết một đêm. Cao Nhơn và tôi xuống núi. Xe chạy vào lúc núi non và bạt ngàn cây trái còn đang ngái ngủ. Không khí trong vắt ngọt lừ. Sương đêm nhóng nhánh trên từng chiếc lá mươn mướt. Cao Nhơn mở cặp lấy từ trong một túi giấy bóng nhỏ đưa cho tôi mảnh giấy kẻ ô ly đã cũ, ở đấy nguệch ngoạc mấy dòng chữ viết vội. Nét chữ đàn bà, tâm trạng bấn loạn. Rồi anh nói với lái xe:<br />
<br />
- Chú cho anh hút thuốc trong xe nhá, một lần này thôi.<br />
<br />
Anh lái xe bấm nút, kính xe tụt xuống. Cao Nhơn quay mặt ra ngoài. Chờ tôi đọc dòng mấy dòng chữ ấy, anh hỏi mà không quay mặt lại:<br />
<br />
- Tuần sau con gái tôi vào đại học, tôi muốn nhắn tin cho Ngàn biết. Anh thấy có nên không?<br />
<br />
- Lần trước cháu Hoàng đi đại học anh có làm thế không?<br />
<br />
- Không! Nhưng trước khi các con tôi nhập trường tôi đều kể lại cho chúng hiểu. Chúng thương bố và cảm thông với mẹ.<br />
<br />
- Anh nghĩ chị ấy vẫn sống gần nơi anh ở?<br />
<br />
- Có lẽ thế.<br />
<br />
- Còn chị Hảo?<br />
<br />
- Cô "nữ tu" của tôi ấy à? - Nhơn chợt bật cười - Tôi gọi thế vì sau ngày lấy nhau tôi có kể lại chuyện đi chùa như ông đã biết đấy. Hảo cười lăn cười bò đồng ý với cái tên tôi đặt cho nhưng luôn cảnh báo rằng: "Trời cho anh cái gì thì cố mà giữ lấy, đã để mất thì chớ có hy vọng tìm lại". Cô ấy đùa thế mà có lẽ đúng. Một cô nữ tu. Một người vợ. Nhưng chính Hảo mới là người bù đắp cho tôi những gì tôi đã mất. Hảo nhiều lần giục tôi nhắn tìm Ngàn.<br />
<br />
Tôi không biết góp ý với anh thế nào. Đã sắp thành ông thành bà cả. Chuyến đò đời đã sang dốc bên bên kia của kiếp người. Nếu bà Ngàn đọc được câu chuyện này xin coi như một lời nhắn gửi. Các cháu đã thành người, đã biết lẽ phải trái ở đời. Còn duyên phận, nó là trò đùa hy hữu nhất mà Trời xanh kia xếp đặt kì công đến mức chẳng ai giống ai. Muôn đời vẫn thế. Hạnh phúc và khổ đau trách trời làm chi ./.<br />
<br />
<font color=#696969><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">1996</span></font>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Trên Đỉnh Non Tản _Nguyễn Tuân]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1682.html</link>
			<pubDate>Sun, 22 Sep 2013 12:33:03 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=9">Ngạo</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1682.html</guid>
			<description><![CDATA[<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Trên đỉnh non Tản<br />
"Núi cao sông hãy còn dài <br />
Năm năm báo oán đời đời đánh ghen"<br />
 </span></span><br />
<br />
<span style="font-size: large;" class="mycode_size">Làng Chàng Thôn, tổng Kim Quan, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây là một làng trung du mà hai phần ba số dân làm nghề thợ mộc. Cái chàng cái đục của dân Chàng Thôn không những được người trần biết đến mà thỉnh thoảng dăm bảy năm một, lại có người tiên trên núi hạ sơn cầu đến, sau những vụ lụt to tháng 8 đánh chìm hết những làng ở rải rác phía chân núi Tản Viên. <br />
Vài năm năm một, vua Thuỷ lại dâng nước một lần như thế lên chân núi Tản, lên lưng chừng núi Tản, lên đến đỉnh núi Tản. Nhà cửa, trâu dê bò lợn, hoa màu bị ngâm nước cứ hằng tuần trăng một, rồi chết, rồi nẫu, rồi rữa, rồi tan theo với ngọn nước lúc rút, tiếng nước xiết réo lên như thiên binh vạn mã. Mỗi một kì nước trắng cuộn dâng lên vùng non Tản cao ngất trời xanh, rồi lại cuồn cuộn rút về thuỷ quốc, dân gian khổ hại không biết thế nào mà lượng được. Có nhiều làng bị nạn nước, toàn thể sinh linh đều biệt tích. Nóc đình các làng bị nước phù sa chôn chặt, nhiều khi phải đào móc mãi mới dò được ra dấu vết cũ. Ở nhiều chỗ không ngờ tới, người ta thường còn đào thấy những hài cốt kì quái của loại động vật đời thạch khí. Trận hồng thuỷ đã đem từ những nguồn, những ngàn xa nào, biết bao con vật quái về chôn tại vùng xuôi này. Như là cái mai con giải to bằng cả một cái giếng làng đào thấy cạnh cái văn chỉ hàng huyện huyện Tùng Thiện chẳng hạn. Còn nhiều thứ xương cốt của nhiều giống thuỷ quái khác nữa bị giạt vào các chân đồi, vào giữa thung lũng các xóm núi, mà nước rút xuống mau đã kí táng vào khu vực tỉnh Đoài. Mỗi lần đào thấy dưới những lớp dày cát phù sa, dân sở tại nhìn nhau, hỏi nhau bằng cặp mắt sợ hãi. Ở khắp mấy vùng Vệ Đống, Nam Toàn, Thạch Bàn, Văn Mộng đều có đào thấy như thế cả. Lắm ông già tuổi thọ đã linh trăm tuổi mà cũng chịu, kêu rằng cha ông bình sinh cũng chưa từng có nói đến những việc đào được cốt như thế. <br />
Nhiều cái cốt khí lạ không biết thế nào mà nói. Có một lần, người Mường ở xóm Đá Chông, ngay chỗ sát rìa chân núi Tản, về vụ làm rẫy tháng xuân, đào được không biết bao nhiêu là đống xương một loài chim to lạ quá; người ta ngờ rằng đấy là những chim rừng của rừng hoang núi Tản, những con chim ấy lúc sống có đủ thịt da lông, thì cũng phải to gấp năm hay sáu lần thân những con hạc gỗ thờ bên hương án các đình cổ. Tục truyền những trận hồng thuỷ dữ dội tàn khốc như thế là gây nên bởi cuộc đánh ghen giữa vua Thuỷ và một vị thần trong bốn vị Tứ bất tử nơi thế giới u linh: thánh Tản Viên, chúa Liễu Hạnh, Chử Đồng Tử, và Phù Đổng thiên vương. Trong bốn vị này, sau chúa Liễu Hạnh hay đùa ghẹo người trần nhỡ gặp phải, có người nào hay biến hoá nhiều nhất và tàng hình lẫn vào đám người trần mắt thịt, thì là thánh Tản Viên. Thánh Tản Viên đã gây thù kết oán với Tiểu Long hầu, con vua Thuỷ Tề. Thần Núi và vị hoàng tử Nước kia đã là hai tình địch một thiên tình sử thoát phàm trong cái mơ hồ vô tận ở tít trên một chỏm non xanh, ở tít tận dưới đáy một thuỷ cung. Hai kẻ tình thù mỗi lúc đánh ghen nhau thì muôn ngàn sinh linh đồ thán. Mỗi một kì đánh ghen, nước các vùng lại đổ về như thác và dâng cao mãi lên; đỉnh non Tản, muốn cho khỏi ngụp dưới làn nước ghen oán, lại có dịp để ngoi lên cao thêm nữa thêm mãi. Trời, bao giờ cho nàng công chúa đẹp kia mất tích hẳn đi để Nước ấy và Núi kia được trở lại với sự yên nghỉ muôn thuở. Chứ thỉnh thoảng mà hai cái Thần ấy còn cướp phá nhau và cố chống giữ nhau thì nước còn dâng lên muôn trượng và nghìn nhà vùng xứ Đoài còn mãi mãi bị nạn lụt nước. Chính cái hạnh phúc trên non Tản và lòng ghen của một ông hoàng tử Nước kia đã thành câu hát của người xứ Đoài: <br />
"Núi cao sông hãy còn dài <br />
Năm năm báo oán đời đời đánh ghen" <br />
Trẻ con tỉnh Đoài, đến bây giờ vẫn còn hay hát. Vừa hát vừa nghe hát vừa trông lên cái chỏm non Tản: trông xa như hình một cái tán đá, non kia vòi vọi đã là cả một thế giới bí mật, của huyền ảo. Mỗi lần đi chủ tế lễ quốc tế xuân thu hai kì trong một năm ở đền thánh Tản Viên, không có quan địa phương nào là không tò mò hỏi thăm đến cái bí mật của rừng cao cả. <br />
Người ta truyền lại rằng đền thờ thánh Tản có đủ ba ngôi. Đền Hạ và đền Trung thì nhiều người đã leo lên tới rồi. Nhưng vượt được cái vách đá trái núi thắt quả hồng để lên cho được đền Thượng, chưa từng thấy có ai thuật lại việc đó. Hình như có một lần, đâu có ông phủ Quốc Oai nói chuyện một cách sợ sệt về đền Thượng với quan Đốc học Sơn Tây. Ông phủ Quốc chỉ nói có mấy câu: "Đứng ở mái Nam đền Thượng mà nhìn xuống, trông được cả khói kinh thành Thăng Long. Thấy rõ cả cái Chợ Giời ở núi Sài. Có đứng ở đền Thượng nhòm thẳng xuống thì mới biết cái dải Đà Giang là có thế hiểm. Tôi có mang trộm về được ít đá cuội và một mẩu gỗ chò. Đây quan lớn ngài xem", thế rồi là lăn đùng ra chết. Cái viên đá cuội mà ông phủ Quốc Oai còn nắm chắc trong bàn tay lạnh giá cứng đờ, khi đập ra có một mùi hương đượm của quả men rượu ủ trấu. Cái nhân đó vụt biến đi đâu mất. Vỏ cuội đá còn lại, đem thả vào bát nước mưa kinh niên, lấy thìa múc uống thấy say ngát vô cùng. Mảnh đá cuội vỡ, quan Đốc Sơn Tây giữ lấy, đi đâu cũng giắt trong mình. Thỉnh thoảng vắng người, quan Đốc lại thả nó vào bát nước mưa, uống có nhạt hơn trước, nhưng vẫn say và thơm. Đôi mảnh cuội về sau, vì quan Đốc phải đi theo gia quyến chạy loạn, thành ra thất lạc mất. Muốn cho được an ủi lòng mình, quan Đốc Sơn Tây tin rằng mảnh đá hẳn là đã trở về với chủ nhân trên non Tản. Ngài lại càng lấy làm sợ lắm và không dám kể lại với ai cái việc Thần núi Tản đòi lại hòn cuội cho mượn đó. Sợ lại có cái vạ miệng phải chết tươi như ông phủ Quốc Oai ngày nọ chăng. <br />
Chuyện kì dị hòn cuội có nhân không biết vì đâu mà đồn về đến tận dân làng Chàng Thôn chuyên làm nghề thợ mộc. Bên bếp lửa, giữa những mồi thuốc lào châm nùn rơm hút đến tụt nõ điếu cày, những bác phó mộc trẻ tráng luôn miệng nói đến hòn cuội trên non cao, hỏi nhau xem ở trên cái ngôi đền Thượng núi Tản Viên có những cái gì. Họ muốn được hiểu biết. Có một điều lạ là mỗi lúc câu chuyện có đả động đến ngôi đền Thượng huyền bí thì những ông phó mộc có tuổi đều đánh trống lảng ra chuyện khác, nếu họ không lảng xa ra chỗ khác. Bọn thợ trẻ để ý đến những cái nhìn ý tứ của đám phó mộc lớn tuổi đưa đẩy với nhau bằng mắt khi bọn đàn em nhao nhao bàn tán đoán già đoán non về những việc trên đền đức thánh Tản. Những bực đàn anh này có biết một cái gì trên ấy chăng ? Sao những người tuổi tác này có vẻ khiếp sợ kín kín hở hở giấu diếm như thế ? <br />
Thái độ của cụ phó Sần thì lại càng đáng nghi lắm. Ngày trước ông cụ phó Sần vui tính hay bép xép. Chỉ từ dạo cách đây đâu mươi năm, ông cụ phó Sần tự nhiên bỏ làng Chàng Thôn mất đến hơn một tháng, vợ con không rõ là đi đâu. Lúc ông cụ Sần đi có mang theo đủ bào, đục, tràng, cưa, dây mực, ống mực, dây quả dọi, và chỉ nói là đi nhận làm khoán ở nơi xa lắm. Khi về thấy có rất nhiều tiền và mỗi lúc tiêu đến thì lại mang tiền thả vào vại nước, có nhiều đồng nổi lềnh bềnh ; ông cụ nhặt những đồng chìm tiêu dần và cất những đồng nổi vào một chỗ rất kĩ rất kín. Từ ngày ấy vợ con và cả người mấy xóm ở làng thấy ông đổi tính đổi nết một cách mau chóng. Trước ông hay ngồi lê đôi mách, bép xép hết chuyện người rồi mang nốt cả chuyện nhà ra mà nói. Giờ thì ông dè dặt từng câu, lắm ngày vẩn vơ như bị ma ám và nhiều hôm không cậy mồm ra mà nói lấy nửa nhời. Và nhiễm thêm tật khạc nhổ, thăm khám nước bọt vừa nhổ và tay luôn luôn rờ lên cái cổ vốn lộ hầu. Ông phó Sần xưa điềm đạm thì giờ hốt hoảng. Người ấy có một điều gì ngập ngừng nửa muốn nói, nửa lại thôi dám. Bà cụ phó Sần buồn lắm. Những cháu rể hỏi trộm nhau rằng hay là lúc có tuổi, ông ngoại giở chứng lúc sắp nằm xuống? Cụ phó Sần là người không bao giờ biết những mơ mộng ở đời là gì cả. Thế mà từ hồi đi làm ăn một chuyến xa ấy về, ông cụ có cái phong thái một kẻ lãng mạn vào lúc cuối đời. Ông cụ giờ chơi cây cảnh. Và bất cứ là nơi nào, hễ ai đánh tiếng cho ông biết một vườn quả nào đẹp và lạ, là ông lần mò tìm đến cho được. Có được bao nhiêu chất vui sướng còn lại trong lòng là ông cụ Sần cho nó hiện hết cả lên trên nét mặt, để rồi lúc ở vườn quả trở ra về, ông cụ lại cho mọi người được đọc vẻ thất vọng trên bộ mặt khô héo. Không, những thứ hoa và quả ở mấy thửa vườn quý báu ông vừa tới thăm không có chút gì là quý lạ cả. Cũng chỉ tầm thường như mọi thứ tầm thường ở cuộc đời này. Những thứ cỏ suối hoa ngàn và quả nơi rừng cấm, có lẽ ông chỉ thấy được một lần ấy thôi. Đã lâu lắm, từ cái ngày ông cụ Sần bị bắt đi mất hơn một tháng để trùng tu lại ngôi đền Thượng trên đỉnh núi Tản Viên. <br />
Ở trên ấy đẹp lắm. Ngày tháng thì dài, mà không thấy sốt ruột. Hoa quả lành ngọt và thơm như hết thảy những cái gì không phải là trần hủ sống gửi ở mặt đất cõi trần. Những cái êm, dịu, trong, sáng, thơm, lành trên non tiên, nếu được đem thuật lại với người làng, ông cụ Sần tin rằng sẽ có khối người đoạn tuyệt với cố hương, tìm vào ngàn cao cho được thoả cái tai và cái mắt. Nhưng, ác cái những chuyện rừng lại không được thuật lại. Hôm hoàn thành công việc sửa đền, lúc sắp xuống núi, thần non Tản đã gọi cả hai hiệp thợ mộc và thợ ngoã lại, đưa mỗi người nuốt một lá trúc xe điếu và dặn tất cả bấy nhiêu người: "Thôi nhá, chuyện chi để đó. Các ngươi về làm ăn dưới ấy cho yên ổn". Cái lá trúc xe điếu ấy là một con dao găm, một con trúc dao có phép thuật kết quả đời kẻ nào bép xép lỡ mồm tiết lộ đến thiên cơ thần cơ. Mỗi người thợ hạ sơn là đem theo trong mình một lời đe loi của Thần Non Cao và cả một cái bí mật của ngàn xanh. <br />
Hiệp thợ ngoã là người xa lạ các nơi tụ hợp lại, một lúc xuống núi là họ phân tán ngay. Còn hiệp thợ mộc bảy người toàn là người làng Chàng Thôn. Ông cụ Sần cùng trở về làng với tất cả anh em đi chữa đền thánh Tản. Những lúc tắt lửa tối đèn hoặc họp chè họp rượu ở nơi chiếu hương ẩm, hoặc là làm mùa màng, bảy người thợ mộc đều gặp nhau luôn. Nhưng tịnh không ai hé răng cậy miệng ra nói lấy nửa lời về câu chuyện hơn một tháng trên non xanh. Họ nhìn nhau trừng trừng mà biết vậy, rồi lo sợ đều bằng con mắt cả. Họ đều đem nhỡn tuyến ra mà chung viết lại với nhau một tập kí ức câm về hơn một tháng trùng tu ngôi đền Thượng. <br />
Trong bọn, có Nhiêu Tàm, người xóm dưới, không biết dại mồm dại miệng thế nào hay là lúc say sưa, không rõ tửu nhập ngôn xuất ra làm sao mà lăn đùng ra chết. Cả làng thấy Nhiêu Tàm khoẻ mạnh như thế, đang vui cười mà lăn ra chết, không ai hiểu ra sao cả. Chỉ có ông cụ Sần và 5 người thợ mộc rõ thôi. <br />
Ông cụ Sần và 5 bác phó mộc đã tìm đến nhà đám đòi xem mặt cho được người bất hạnh. Nói là để xem cái cổ Nhiêu Tàm thì đúng hơn. Thì ra ở phía bên trái cổ, có một cái nhọt bọc mã đao đang nung. Nặn phọt ra, có một cái ngòi xanh lè, dài vừa đúng một cái lá trúc con. Ông cụ Sần và 5 bác phó mộc xanh mắt nhìn nhau im lặng. Con trúc đao! Sự trừng phạt của thần non Tản ! Ông cụ Sần bèn xin lấy cái ngòi mã đao ấy, nói dối là đem về khảo về một môn thuốc ung thư ngoại khoa. Cụ Sần đem cắm ngòi mã đao đó vào chiếc chậu sứ chỉ có một đêm thôi mà ngày hôm sau, chiếc chậu sứ đã có một cây trúc nhỏ bé khẳng khiu như trúc non bộ, cành và đốt rất nhiều, nhưng chỉ có mỗi một lá thôi. Một cái lá nhọn hoắt. Muốn giữ mồm giữ miệng cho quen đi, sau ngày đưa ma Nhiêu Tàm, cụ phó Sần thường họp mấy người bạn đàn em kia lại đánh chén ở nhà mình. Bữa chén không có đồ nhắm. Họ uống rượu rất nhiều, ngồi im lặng ngắm cái lá trúc cô độc trên khóm trúc tí hon bày trước thềm nhà. Trong những ngày nơm nớp của đám thợ mộc này vừa hụt đi mất một người, những bữa rượu này là những bữa không ngon lành nhất trong đời một đám người sống nơi thôn dã với cái vui thú được thỉnh thoảng nâng chén. <br />
Cái lá trúc non bộ ấy vẫn xanh ngát trên khóm trúc đã khô giòn như bó que đóm nỏ. Đấy là một lời cảnh cáo dai dẳng. Ngày tháng cứ thế mà vợi dần trên luỹ tre làng Chàng Thôn. <br />
Bỗng một buổi chiều năm ấy - không nhớ rõ là năm nào, chỉ biết là cùng một năm có trận lụt rất lớn làm sạt cả kì đài thành Đoài và cuốn phăng mất đến gần 80 trượng đá tổ ong phía tường Tây thành tỉnh - buổi chiều năm ấy, vào lúc nhá nhem người ta đang đánh trâu cày vào các ngõ tối, một ông cụ già râu tóc lông mi trắng xốp như bông, chống một cây gậy trúc đùi gà vàng óng, khoan thai tiến vào cổng trước làng Chàng Thôn. Trông ông cụ đĩnh đạc, cổ kính, đội cái nón cỏ giống kiểu nón tu lờ người tu hành, dân làng không hỏi căn vặn và chỉ nhìn theo ông cụ đi khuất vào ngõ nhà ông cụ Sần, bước đi có đủ cái vững vàng của một người quắc thước thuộc lòng con đường đi của mình. <br />
Ông phó Sần đang ngồi quấy nồi kê. Thấy có người tiến vào đến giữa sân nhà mình và lạ quá, sao ba con chó mực không sủa và lại còn quấn quýt lấy chân người lạ, ông phó Sần bỏ cả nồi kê chưa chín, vội chạy ra. Ông già đẹp quá. Ở làng, thực các cố lão thường ngự ở chiếu trên cạp điều ngoài đình, thật là chưa có cố lão nào đẹp lão đến như thế. <br />
- Dạ thưa trượng nhân, chúng tôi xin chờ những điều trượng nhân dạy bảo. <br />
Ông cụ già gỡ nón tu lờ, cốt để ông Sần nhận rõ mặt mình. Nhưng ánh sáng chiều tàn đã yếu quá rồi. Ông Sần càng thêm ngợ. Ông cụ già chợt nhìn thấy cái khóm trúc non bộ có một chiếc lá bày ở thềm kia, bèn tiến lại, cúi xuống, lấy tay đỡ lấy và mân mê cái lá nhọn hoắt. Ông cụ già ngẩng đầu lên, vừa gặp bộ mặt ông Sần đang chăm chú nhìn xuống. Ông già khẽ mỉm cười. Ông phó Sần tái hẳn mặt đi và sụp xuống đất sắp lạy. Thần Non Tản! Thần Non Tản bèn đỡ ông Sần dậy: <br />
- Chỗ này không phải là nơi bày vẽ ra những nghi vệ nơi cung điện. Ngươi đứng thẳng mình lên, ta dặn điều này. Là họp ngay lại trong đêm nay mấy người thợ bạn ngày năm nọ. Ta có việc cần đến. <br />
- Dạ. <br />
- Cuối trống canh tư, các người đợi ở bến Gòn. Thấy chiếc thoi nào tới thì cứ xuống. Ngồi một không hết thì san ra làm hai con lườn. <br />
- Dạ. <br />
- Đây ta để lại cho ít bạc cốm. Hễ thả vào nước, những hạt mẳn nào chìm thì quân phân ra cho khắp vợ con trong anh em các người. Những hạt mẳn nào nổi thì gói lại đem theo, hôm sau sẽ có người đổi lại cho. Tính theo ngày tháng của các người dưới này, thì cũng phải đi vắng mất chừng một tháng. Giữ sao cho không ai biết đi đâu, vợ con cũng vậy. <br />
Nói xong câu này, Thần Non Tản, chỉ vào cái lá trúc vẫn xanh tươi như bao giờ, một tay ngăn không cho ông cụ Sần sắp sụp lạy. Thế rồi ông cụ già đội nón tu lờ phát mạnh cửa tay áo rộng ra đi ; mấy con chó mực vẫn không sủa lấy một tiếng nào. <br />
Bến Gòn. Đầu trống canh tư. Sáu người thợ mộc ăn uống ở nhà no nê rồi như lũ thợ cày, đang ngồi bó gối chờ đợi trên những tảng đá sống trâu trơn lạnh. Bến đò bỏ hoang đã đến mấy năm. Mấy năm nay, người hai làng bên bờ đều lấy bến trên hoặc bến dưới mỗi lúc sang ngang trẩy chợ huyện bên này và chợ phủ bên kia. Đã lâu lắm, không có một con đò nào ghé bến này. Đến cả một cái bè nứa chở muối rừng, đến cả một con đò độc mộc cũng không ngừng lại. Bến Gòn im vắng đến nỗi dòng nước chảy xuôi cũng không chịu lên tiếng. Lâu lâu mới có một tiếng tõm, dội cái tiếng vang ngược lên mãi khóm lau già mọc nơi chỗ khuỷu sông bị vặn quẹo. Tõm. Tõm. Những trái sung nẫu lìa ngành cổ thụ. Dưới cái lờ mờ của đêm thẳm, vài ba trái cây gợn vẽ lên mặt nước đặc sịt như dâu bông ít vòng tròn cùng chung một điểm trung tâm. <br />
Chim thủ thỉ thù thì đi gần mãi lại nhau. Chả còn mấy nỗi nữa, đêm sẽ tan canh. Bởi vì tiếng kêu con chim thủ thỉ đực đã gần mãi lại chỗ có tiếng trả lời của con chim thủ thỉ cái. <br />
Ông cụ Sần và 5 người phó mộc bạn, ngồi chờ đã oải cả xương sống, chốc lại trở vai. Những bào, cán chàng, cán đục va vào nhau, tiếng động rất khô rất gọn. <br />
Nước lừ dừ dịch vài bãi nước bọt mà đám phó mộc nhổ xuống dòng nước bệnh lúc muốn đánh lừa đợi chờ. Đêm tờ mờ đen rầm hẳn lại, rồi đen ngòm, rồi đen kịt. Ở một điếm huyện cũ, trống bắt đầu chuyển canh. Bỗng, ông cụ Sần cảm thấy một cái gì vừa loáng qua rồi vòng trở lại, rồi đứng sững hẳn lại trước mặt bấy nhiêu người. Nhìn gần lại, dí sát hẳn mắt vào, thì là chiếc thuyền thoi và một... chiếc thuyền thoi nữa. Mũi hai chiếc thuyền có cạp luồng hai bên mạn ghé sát vào gờ đá. Bọn ông cụ Sần lẳng lặng bước chân xuống lườn. Lườn nhỏ quá, mỗi lườn chỉ chứa được đến bốn người là nhiều lắm. Những hai lườn, mà chỉ có một người đẩy. Người chở lườn không nói chuyện, không nhìn bọn vừa xuống lườn, chỉ hướng thẳng vào cái thăm thẳm của đêm sông vắng đang thốc mạnh vào đầu mũi con sào. Lườn đi vút vút. <br />
Bọn ông cụ Sần nắm tay nhau. Lườn đi trên sông, song song hai chiếc, gì mà lại như đi trong cái rỗng tuếch của không gian. Lườn đi êm như trườn xuống một cái dốc ngọn thác mà lòng thác đều lót một lớp đầy rêu tơ nõn. Ban nãy, lườn áp bến không có một tiếng động róc rách, như là khẽ lách mặt nước mà ngoi từ dưới lên. Bây giờ hai con thuyền thoi đi trong một giấc mơ thần. Gió sớm nổi lên. Mùi nhạt nhạt của nước nguồn, mùi ngai ngái của cỏ bồng ải rũ, phả mạnh vào mũi thuyền thoi xuyên như cắm sâu mãi vào cái đông đặc của sương núi rạng mai. <br />
Đến chân núi Tản Viên, thì rõ mặt người. Ô hay, người đẩy lườn lại là một cô gái. Một cô con gái mắt sắc như dao cau và lạnh như chất kim, lạnh hơn cái gây gấy của rừng buổi sớm mai dày đặc sương mù. Tiếng đồng vọng cú rúc hết canh văng vào vách đá, rồi vật lại một nơi thung lũng nào đang gửi trả về rất dài một tiếng vượn kêu rầu. <br />
Cô lái và hiệp thợ đã đổ bộ được một thôi đường. Con đường núi lót bằng đá tảng màu gan gà viền rêu xanh. Người ta đã phải lấy các đầu ngón chân bấm xuống mặt đá trên lối độc đạo cho vững bước đi. Đây đã khỏi xóm đá Chông. <br />
Rừng Tản thấm hút không hết làn sương núi. Sương cành trên đọng gieo xuống cành dưới. Chỉ có một điệu chìm chìm tẻ tẻ. Rừng vắng và ẩm mốc. Ngực đã bắt đầu tức tức. Càng lên cao, bọn người thấy mình càng rời lìa cái nguồn sống quen thuộc của mọi ngày. Ở đây bắt đầu một nguồn sống mới lạ. Nguồn sống của dây mơ rợ móc và cỏ và đá vào lúc mới có Cấu Tạo. <br />
Đền Hạ. Rồi Đền Trung. Không có gì lạ cả. Ông cụ Sần cho nơi này là tầm thường. Người xứ Đoài, ai chả từng có dịp để dấu bàn chân lên đây một lần rồi. Nếu có những gì đáng mở mắt cho to mà xem kia, thì phải là lên nữa, lên trên nữa, trên đền Thượng. Thành đá đổ mồ hôi lạnh trước soai soải, giờ đã đứng thẳng mãi lên rồi dựng ngược. Vách đá đứng sững trước mặt bọn người đăng sơn. Thế này thì leo lên làm sao, hiệp thợ tự hỏi. Ông cụ Sần vốn có biết truyện Tam Quốc, thấy cái thế của núi đứng rất hiểm nghèo, bèn nghĩ đến cái nước non xứ Ba Thục mà có những lúc người làm tướng biết dùng binh thì lợi hại vô cùng. Ở cái yết hầu con đường đèo trên kia mà xếp sẵn gỗ cưa ngắn từng đoạn và đá tảng, mỗi lúc lăn xuống, gỗ đá lao xuống như thác nước, thì chỉ một người cũng đủ địch với cả một binh đoàn cảm tử. <br />
Cô lái đò hướng đạo quay lại. Cả hiệp thợ mộc lấy gân kìm bước lại, đứng thẳng lên, rồi ưỡn người hơi ngả về phía sau. Họ ngắm kĩ, không có một phút dám nghĩ đến lơi lả. Có ông cụ Sần là nhớ đến cái Bèo ở nhà: đứa con gái út cụ, cũng thon thon như cô lái. Cái vẻ ống dáng của cô lái bây giờ không còn nữa. Cái đoan trang ấy giờ là người đứng ra để truyền một cái lệnh. <br />
Cô cầm sẵn trong tay nắm lá trông sắc đỏ như là mãn đình hồng, phân phát cho mỗi người một lá, bảo ngậm lấy, lấy sức mà lên cao, mà chống lại khí núi. Đường đi từ đây lên đấy, tình thời gian theo cái phép đo lường của hạ giới thì cũng phải mất đến nửa ngày. Người con gái đưa đường lên tiên bảo thế. Cô dặn sáu người phó mộc nên buộc vào lưng cho thật kĩ và nhắm mắt lại. Thế rồi cả đoàn người cứ thấy bay lên cao lắm, hiệp thợ ấy chỉ là những hạt mẳn sắt bị một khối đá nam châm xa cao tít tắp hút ngược lên. Bên tai hiệp thợ phi hành, chỉ có gió vù vù. Cái lá thắm mãn đình hồng ngậm trong miệng làm nóng ấm cơ thể bọn thợ mộc đang băng mình qua cái miết lạnh của sơn cước mỗi lúc một cao, một dầy, một tức thở. Cả bọn thợ không ai lấy làm sợ hãi cả. Bởi vì, mấy năm trước, họ cũng đã phi hành như thế này rồi. Người cũ lại lên cảnh cũ non tiên, giá chuyến trước được mở mắt xem lược qua và chuyến này cũng được mở mắt mà xem kĩ lại cảnh xưa! <br />
Cả bọn bỗng rớt đánh bịch một cái trên một vật cứng và mát. Tiếng người con gái bảo họ mở mắt ra. Đây là một khu đá bằng mặt rộng độ một mẫu mà chung quanh là những vách đá cao, trên mỗi chỏm nhọn màu xanh cánh lại có mây trắng mây vàng đánh đai lấy. Ông cụ Sần sực nhớ lại những lúc ở quê dưới quê hương thấy núi và mấy như thế, người ta vẫn gọi là núi đội mũ. Cây và cỏ trên này vẫn nhiều cái lạ lắm. Chuyến trước, họ cũng đã thấy phong cảnh trên đầu non, nhưng từ khi hạ sơn, ăn phải lại cái cơm hạ giới, họ chỉ còn phảng phất mà thôi. Đã mươi năm rồi còn gì nữa. Thành thử ra lên tiên chuyến này nữa, tái kiến mà vẫn như là lần đầu. Người ta càng ngơ ngẩn với non xanh. Mà thêm tần ngần. <br />
Sau một lúc đi khuất vào nẻo đá, người con gái lại từ nẻo đá hiện ra, truyền ra cho hiệp thợ những lời của Chủ Non Xanh: <br />
- Sơn chủ hôm nay bận sang núi bên phó hội cờ thạch bàn. Các bác nghỉ ngơi nốt ngày nay. Ngày mai Sơn chủ về, sẽ có điều bảo ban sau về công việc. Theo lệnh Nữ sơn chủ, tôi đã xếp cho các bác một lều cỏ ở cạnh suối Tịch Mịch. Trong khu vực suối, các bác được phép bắn chim bắt cá và hái quả. Ngoài chỗ suối Tịch Mịch, các bác nhớ rằng không được đụng chạm đến từ một tấc cỏ, một cái lá. Thói phép trên sơn thượng này nghiêm lắm. Nhớ lấy kẻo lỡ ra mà khốn đó. <br />
Người nữ tì - đây là người nữ tì hậu cận Nữ sơn chủ - ngoắt ngón tay bảo hiệp thợ theo mình đi ra phía sau nẻo đá, rẽ ngoặt phía tay trái rồi đi xuống. Tiếng nước róc rách lưng đèo nghe gần mãi lại. Lúc đến bờ suối có lều cỏ bồng dựng sẵn thì dòng nước suối Tịch Mịch nín bặt. Nó lửng lơ trôi ốm yếu và lững lờ. Nó trong như pha lê gọt. Nó hiền lành. Cụ phó Sần vục hai bàn tay xuống nước Tịch Mịch làm ngay mấy ngụm. <br />
Sáu người phó mộc cất đồ làm vào dưới lều. Tính cũng mất nhiều thời giờ lắm rồi, mà ngày vẫn chưa hết. Cả hiệp thợ đi dạo cảnh non cao. Cảnh non cao trong cái khu vực khe Tịch Mịch. <br />
Loài cây ăn quả, nhiều nhất hai bên suối là một giống hồ đào, trông như quả roi ở dưới ta. Giống đào rợ Hồ màu vàng nhạt và xanh hay chín trái nào cũng có má hồng. Hiệp thợ, trừ ông phó Sần, thi nhau mà bứt. Trái đào rợ Hồ, nhân hột có dáng cái thai đứa trẻ gục đầu ngủ quên. Rớt xuống thảm cỏ, hột hồ đào hoá thành luống cúc tần có bảy lá mốc. Cả bọn thợ, vẫn trừ ông phó Sần, cười như phá. Chim ngàn giật mình, bay bổng. <br />
Người nữ tì đã đứng trước lều cỏ. Ông cụ Sần chờ đợi một lời quở mắng. Nhưng không. Người con gái trao cho ông một cánh cung sừng sơn dương đen, hai vòng ngọc đỏ như hổ phách và hai mũi tên, một mũi bằng vàng, một mũi bằng bạc. <br />
- Thức ăn bốn mùa trên sơn thượng là giống đào rợ Hồ. Nếu các bác không chịu được, muốn đổi bữa thì đã sẵn chim trên cành và cá dưới lòng khe. Cứ bắn lấy mà ăn. Cái tên vàng, dùng bắn chim. Bắn cá thì dùng cây tên bạc này. Cứ bắn ra, rồi mũi tên sẽ vòng quay lại, không bao giờ hết tên. <br />
Ông cụ Sần cầm hai mũi tên, ngập ngừng mãi rồi mới dám hỏi khẽ: <br />
- Thế còn ngũ cốc? <br />
Người con gái tủm tỉm cười, chỉ ra dìa suối: <br />
- Cứ những hòn cuội kia đập vỡ ra là lúa gạo. Cuội xanh là lúa tẻ, cuội vàng là lúa nếp. Còn thứ cuội trắng là, là ... Các bác muốn uống rượu thì đập vỡ cuội trắng ra, lấy nhân đá trắng hoà vào với nước suối mà uống. Hôm nay còn nghỉ ngơi, cũng nên nếm cho biết. Nhưng lúc nào đã bắt tay vào việc, mỗi lúc muốn uống rượu, các bác nên trình qua Sơn chủ đã. <br />
Mấy bác phó mộc trẻ trố mắt nhìn nhau, lấy làm ngờ vực. Người con gái đã xoay lưng đi, lại còn trở lại dặn thêm: <br />
- Phía dưới lều cỏ, khe Tịch Mịch xoáy sâu vào chân đá thành một cái hầm nước rộng. Những rễ cái các cây trầm hương cổ thụ đều ăn cả về đấy và cá suối thường tụ ở hầm hàng đàn, ăn những bọt dầu trầm nổi lên mặt nước. Nên năng tìm đến đấy, bắn cá ngư hương mà ăn. Còn như những việc khác, ở trên này có khác với dưới chân núi, các bác chớ lấy làm là mà kinh động vô ích. <br />
Thế rồi người con gái đi khuất. Thế rồi, được lời như mở tấm lòng tục, bọn thợ mộc khuân rất nhiều đá cuội, cứ từng đống có ngọn một, mang về trước lều làm gạo nấu cơm và chế rượu uống. Họ đập đá bừa bộn, không cần để riêng hòn xanh hòn vàng. Mà có cái lạ, là không cần phải nấu nướng gì, những nhân đá xanh vàng kia, cứ đập rời ra, bốc bỏ mồm là đủ hương vị một hạt cơm, một hạt xôi rồi. Nhân đá trắng, thả vào những gióng tre Đằng Ngà khổng lồ đựng nước suối, đem uống với nhau, thấy ngà ngà mà say, lâng lâng mà khuây vợi lòng tha hương. <br />
Trong khi ấy, ông cụ Sần xách cung sừng và hai cái tên vàng bạc lần xuống chỗ Bạch Đàn đàm, bắn được sáu con cá ngư hương. Lúc trở về đi qua dưới cây đại cổ kính đầu cành chàng nạng nhẵn nhịu như những cặp nhung hươu, thấy có chim, ông phó Sần bèn phóng một mũi tên vàng, dây cung kêu đánh phựt một tiếng. Rồi mũi tên lướt rơi qua lùm cây tóc tiên và rớt xuống cỏ thạch sương bồ bóng loáng nước sơn then. Lại cũng đủ sáu con chim xiên vào mũi tên như một que chả chim nướng cả con. Mà thực là một xiên chả. Mùi thơm ở sáu con chim sẻ đồng bị tên vàng cắm suốt, thơm phưng phức. Ông cụ Sần tháo vòng ngọc đỡ ngón tay, đeo cung lên vai, trở về lều với xâu chim chín và xâu cá cũng đã chín sẵn chung quanh cây ngân tiễn. <br />
Sau một bữa ăn có rượu nhân đá, có chả chim ngàn, có chả cá suối, cả hiệp thợ mộc say sưa, gối đầu lên tràng đục, đánh một giấc không biết trời đất là gì nữa. Mở mắt dậy, thì cũng như hôm qua, cái ánh sáng trên này lúc nào cũng nhờ nhờ như nước gạo loãng, không kể sớm, không kể trưa, không kể tối. <br />
Ba bốn con voi lông toàn trắng, chung vòi lại, đỡ mấy cây gỗ đi qua lều, chân nặng bước rất nhanh, để lại sau đuôi nào là gió, là đá răm, đá cuội bắn tung hạt lại. <br />
Một chốc, thấy người con gái hôm qua tới bảo cả bọn lên hết cho Sơn chủ dặn bảo. Đi đến cổng ngôi đền gần sụt mái, người nữ tì lảng ra một bên. Thần Non Tản phe phẩy cây phất trần, ngắm mấy con bạch tượng cắm ngà xuống sân đền, sau mươi cây gỗ dài rất thẳng. Thần Non Tản truyền cho voi trắng và hiệp thợ mộc đứng cả dậy. Bọn thợ theo Thần vào đền. <br />
Mấy hàng cột con, cột hàng ba, cột quyết không đủ sức chống cái mái đền lợp ngói vai bộ tráng men ngũ sắc. Ở nền đền, mất nhiều chân cột và thiếu nhiều miếng gạch lát. Bọn thợ xem qua một lượt. Họ ngờ rằng một dãy cột mẹ và những tảng đá chân cột và lát nền kia là do vua Thuỷ dâng nước lên lấy mất. Ngoài vua Thuỷ ra, còn ai dám động đến đền Thượng? Đích cột đền là gỗ chò vẩy và đá bị mất luôn kia là đá hoa. Có lẽ trận lụt cách đây mấy tháng là vua Thuỷ dâng nước lên đỡ gỗ chò vẩy và đá hoa đền Thượng. Bây giờ Sơn chủ gọi họ lên chữa. <br />
- Tâu Chúa Ngàn cao cả, cứ như kiểu đền này, kể ra giờ thiếu hàng cột mẹ, thì bắt mấy cái quá giang rồi xoay ra kiểu thượng thực hạ hư cũng được. <br />
Thần Non Tản, đi lại trên những lỗ gạch đá thềm đình trống hổng, hỏi tại sao lại phải xoay kiểu và dựng đền thành ra thượng thực hạ hư. <br />
- Dạ cúi thưa Chúa Ngàn cao cả, đó là cung cách của chúng tôi thường làm, mỗi khi không đủ gỗ cột mẹ. Tất cả phải mất một cây cột mẹ. Ngoài sân chỉ có chín cây gỗ chò. Nếu phải làm hàng cột này bằng hai thứ gỗ khác nhau, chúng tôi e không đẹp. Tâu xin Ngài phán xuống để anh em chúng tôi khởi công. <br />
Thần Non Tản liền phán: <br />
- Đền dựng trước như thế nào, cứ thế mà trùng tu. Không phải thượng thực hạ hư gì cả. Ở sơn gian này, có thiếu gì gỗ chò vẩy và đá hoa. Ta dám chấp kẻ kia cứ dâng mãi được nước lên đây mà dỡ cho hết được gỗ quý và đá báu của ta. Còn thiếu bảy cây gỗ chò nữa, chiều nay lũ voi trắng của ta sẽ đem về đủ. Còn đá cẩm thạch lúc nào lót cột và lát nền, sẽ có lần lần cho thợ ngoã làm. <br />
Hiệp thợ mộc vẫn tuần tự tiến hành công việc. Ngày tháng trên này không biết lấy gì mà đo tính, bởi vì chỗ sơn thượng không có đêm không có ngày. Đây là nơi của ánh sáng vĩnh viễn nhờ nhờ như màu ngọc liệu, như chất nước quế trắng chính sơn pha loãng. Những buổi trời tái hẳn lại vì khí núi âm u, thì một vài hòn ngói trên lòng trần đền hình mai luyện lại sáng rực hẳn lên như một nguồn lửa. Ở những hòn ngói phát hào quang ấy, đọc rõ được bốn chữ Tản Viên Đài Ngoã. Vào những phút này, mấy thân cây cột gỗ chò vẩy mới tỏ rõ cái đẹp cái quý của một thứ gỗ đặc biệt. Dưới ánh lửa ngói sáng choang, cột gỗ chò nhấp nhánh lộng lẫy chớp chớp lên như vẩy rồng vàng cốm chạm nổi. <br />
Những đầu kèo vai và câu đầu, đều chạm tứ quý tứ linh. Bức trần gỗ thì chạm bát bửu cổ đồ. Nét chạm tỉ mỉ công phu gấp mấy lần công thợ điêu khắc ở các đền đài khác ở dưới núi. Họ chia nhau ra mà chạm, người thì tỉa hình thư kiếm, quạt và phất trần, kẻ thì gạt dáng tù và với túi roi hoặc là túi thơ cùng bầu rượu, cái nọ ghép vào với cái kia thành một bộ đôi bằng những sợi cẩm đới nét dẻo như tung bay được. <br />
Đến hôm chạm đến tám cánh cửa bức bàn theo hình Bát tiên hoá thì trời xám quá, ánh sáng ngói đền không đủ để làm việc. Sơn chủ phải cho nổi hiệu khánh đá gọi đôi tê giác xanh tới đền. Người thợ nào cần thêm ánh sáng thì con tê giác xanh lại ghé đến bên cạnh, lấy cái sừng âm rọi sáng cho đường chạm. Sừng tê giác là những vệt lân hoả sáng xanh và dịu. Nhiều con anh tước lắng tai nghe những tiếng đục đánh xuống tràng kêu lách cách cóc cách gieo những âm thanh thô lạ và gắt vào cái êm ả của ngàn mềm. Nhiều buổi Sơn chủ hài lòng cho phép cả hiệp thợ ngâm đá cuội mà say. Có một lần, ông cụ Sần tỉnh rượu thấy mình gối vào vòi con bạch tượng mà ngủ và vượn trắng đang bứt hồ đào đùa ném vào các người thợ bạn còn ngủ li bì. Bên hàng lệ liễu màu phấn hồng, có đến trăm con chim quyên mỏ và lông đều tím hoa sim đang rỉa vỡ những màng hoa mấy khóm phong lan đen như gỗ mun. <br />
Hôm nay, bọn thợ mộc làng Chàng Thôn đã làm đến cái diềm gỗ hàng hiên phải chạm thủng đường sòi. Nghĩa là công việc chữa đền Thượng gần xong. Ông cụ phó Sần buồn buồn nghĩ đến ngày sắp phải xuống núi. Cứ ở trên này, thì bọn thợ còn được tha hồ bàn tán đến những cái lạ của Ngàn thăm thẳm kín mật, mỗi lìa rời xuống khỏi, là không tìm lại được đường lên, là không dám hở hang tí chút lại với người đời về cái thần bí trên đây xanh tươi đến ngày tận thế. <br />
Ông cụ phó Sần rầu rầu nghĩ đến một hôm nào đây, cũng không còn xa gì đâu, Chúa Ngàn Thiêng lại đưa cho người về một cái lá trúc nhọn đầu./. <br />
(Trong tập truyện ngắn Vang bóng một thời)</span>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Trên đỉnh non Tản<br />
"Núi cao sông hãy còn dài <br />
Năm năm báo oán đời đời đánh ghen"<br />
 </span></span><br />
<br />
<span style="font-size: large;" class="mycode_size">Làng Chàng Thôn, tổng Kim Quan, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây là một làng trung du mà hai phần ba số dân làm nghề thợ mộc. Cái chàng cái đục của dân Chàng Thôn không những được người trần biết đến mà thỉnh thoảng dăm bảy năm một, lại có người tiên trên núi hạ sơn cầu đến, sau những vụ lụt to tháng 8 đánh chìm hết những làng ở rải rác phía chân núi Tản Viên. <br />
Vài năm năm một, vua Thuỷ lại dâng nước một lần như thế lên chân núi Tản, lên lưng chừng núi Tản, lên đến đỉnh núi Tản. Nhà cửa, trâu dê bò lợn, hoa màu bị ngâm nước cứ hằng tuần trăng một, rồi chết, rồi nẫu, rồi rữa, rồi tan theo với ngọn nước lúc rút, tiếng nước xiết réo lên như thiên binh vạn mã. Mỗi một kì nước trắng cuộn dâng lên vùng non Tản cao ngất trời xanh, rồi lại cuồn cuộn rút về thuỷ quốc, dân gian khổ hại không biết thế nào mà lượng được. Có nhiều làng bị nạn nước, toàn thể sinh linh đều biệt tích. Nóc đình các làng bị nước phù sa chôn chặt, nhiều khi phải đào móc mãi mới dò được ra dấu vết cũ. Ở nhiều chỗ không ngờ tới, người ta thường còn đào thấy những hài cốt kì quái của loại động vật đời thạch khí. Trận hồng thuỷ đã đem từ những nguồn, những ngàn xa nào, biết bao con vật quái về chôn tại vùng xuôi này. Như là cái mai con giải to bằng cả một cái giếng làng đào thấy cạnh cái văn chỉ hàng huyện huyện Tùng Thiện chẳng hạn. Còn nhiều thứ xương cốt của nhiều giống thuỷ quái khác nữa bị giạt vào các chân đồi, vào giữa thung lũng các xóm núi, mà nước rút xuống mau đã kí táng vào khu vực tỉnh Đoài. Mỗi lần đào thấy dưới những lớp dày cát phù sa, dân sở tại nhìn nhau, hỏi nhau bằng cặp mắt sợ hãi. Ở khắp mấy vùng Vệ Đống, Nam Toàn, Thạch Bàn, Văn Mộng đều có đào thấy như thế cả. Lắm ông già tuổi thọ đã linh trăm tuổi mà cũng chịu, kêu rằng cha ông bình sinh cũng chưa từng có nói đến những việc đào được cốt như thế. <br />
Nhiều cái cốt khí lạ không biết thế nào mà nói. Có một lần, người Mường ở xóm Đá Chông, ngay chỗ sát rìa chân núi Tản, về vụ làm rẫy tháng xuân, đào được không biết bao nhiêu là đống xương một loài chim to lạ quá; người ta ngờ rằng đấy là những chim rừng của rừng hoang núi Tản, những con chim ấy lúc sống có đủ thịt da lông, thì cũng phải to gấp năm hay sáu lần thân những con hạc gỗ thờ bên hương án các đình cổ. Tục truyền những trận hồng thuỷ dữ dội tàn khốc như thế là gây nên bởi cuộc đánh ghen giữa vua Thuỷ và một vị thần trong bốn vị Tứ bất tử nơi thế giới u linh: thánh Tản Viên, chúa Liễu Hạnh, Chử Đồng Tử, và Phù Đổng thiên vương. Trong bốn vị này, sau chúa Liễu Hạnh hay đùa ghẹo người trần nhỡ gặp phải, có người nào hay biến hoá nhiều nhất và tàng hình lẫn vào đám người trần mắt thịt, thì là thánh Tản Viên. Thánh Tản Viên đã gây thù kết oán với Tiểu Long hầu, con vua Thuỷ Tề. Thần Núi và vị hoàng tử Nước kia đã là hai tình địch một thiên tình sử thoát phàm trong cái mơ hồ vô tận ở tít trên một chỏm non xanh, ở tít tận dưới đáy một thuỷ cung. Hai kẻ tình thù mỗi lúc đánh ghen nhau thì muôn ngàn sinh linh đồ thán. Mỗi một kì đánh ghen, nước các vùng lại đổ về như thác và dâng cao mãi lên; đỉnh non Tản, muốn cho khỏi ngụp dưới làn nước ghen oán, lại có dịp để ngoi lên cao thêm nữa thêm mãi. Trời, bao giờ cho nàng công chúa đẹp kia mất tích hẳn đi để Nước ấy và Núi kia được trở lại với sự yên nghỉ muôn thuở. Chứ thỉnh thoảng mà hai cái Thần ấy còn cướp phá nhau và cố chống giữ nhau thì nước còn dâng lên muôn trượng và nghìn nhà vùng xứ Đoài còn mãi mãi bị nạn lụt nước. Chính cái hạnh phúc trên non Tản và lòng ghen của một ông hoàng tử Nước kia đã thành câu hát của người xứ Đoài: <br />
"Núi cao sông hãy còn dài <br />
Năm năm báo oán đời đời đánh ghen" <br />
Trẻ con tỉnh Đoài, đến bây giờ vẫn còn hay hát. Vừa hát vừa nghe hát vừa trông lên cái chỏm non Tản: trông xa như hình một cái tán đá, non kia vòi vọi đã là cả một thế giới bí mật, của huyền ảo. Mỗi lần đi chủ tế lễ quốc tế xuân thu hai kì trong một năm ở đền thánh Tản Viên, không có quan địa phương nào là không tò mò hỏi thăm đến cái bí mật của rừng cao cả. <br />
Người ta truyền lại rằng đền thờ thánh Tản có đủ ba ngôi. Đền Hạ và đền Trung thì nhiều người đã leo lên tới rồi. Nhưng vượt được cái vách đá trái núi thắt quả hồng để lên cho được đền Thượng, chưa từng thấy có ai thuật lại việc đó. Hình như có một lần, đâu có ông phủ Quốc Oai nói chuyện một cách sợ sệt về đền Thượng với quan Đốc học Sơn Tây. Ông phủ Quốc chỉ nói có mấy câu: "Đứng ở mái Nam đền Thượng mà nhìn xuống, trông được cả khói kinh thành Thăng Long. Thấy rõ cả cái Chợ Giời ở núi Sài. Có đứng ở đền Thượng nhòm thẳng xuống thì mới biết cái dải Đà Giang là có thế hiểm. Tôi có mang trộm về được ít đá cuội và một mẩu gỗ chò. Đây quan lớn ngài xem", thế rồi là lăn đùng ra chết. Cái viên đá cuội mà ông phủ Quốc Oai còn nắm chắc trong bàn tay lạnh giá cứng đờ, khi đập ra có một mùi hương đượm của quả men rượu ủ trấu. Cái nhân đó vụt biến đi đâu mất. Vỏ cuội đá còn lại, đem thả vào bát nước mưa kinh niên, lấy thìa múc uống thấy say ngát vô cùng. Mảnh đá cuội vỡ, quan Đốc Sơn Tây giữ lấy, đi đâu cũng giắt trong mình. Thỉnh thoảng vắng người, quan Đốc lại thả nó vào bát nước mưa, uống có nhạt hơn trước, nhưng vẫn say và thơm. Đôi mảnh cuội về sau, vì quan Đốc phải đi theo gia quyến chạy loạn, thành ra thất lạc mất. Muốn cho được an ủi lòng mình, quan Đốc Sơn Tây tin rằng mảnh đá hẳn là đã trở về với chủ nhân trên non Tản. Ngài lại càng lấy làm sợ lắm và không dám kể lại với ai cái việc Thần núi Tản đòi lại hòn cuội cho mượn đó. Sợ lại có cái vạ miệng phải chết tươi như ông phủ Quốc Oai ngày nọ chăng. <br />
Chuyện kì dị hòn cuội có nhân không biết vì đâu mà đồn về đến tận dân làng Chàng Thôn chuyên làm nghề thợ mộc. Bên bếp lửa, giữa những mồi thuốc lào châm nùn rơm hút đến tụt nõ điếu cày, những bác phó mộc trẻ tráng luôn miệng nói đến hòn cuội trên non cao, hỏi nhau xem ở trên cái ngôi đền Thượng núi Tản Viên có những cái gì. Họ muốn được hiểu biết. Có một điều lạ là mỗi lúc câu chuyện có đả động đến ngôi đền Thượng huyền bí thì những ông phó mộc có tuổi đều đánh trống lảng ra chuyện khác, nếu họ không lảng xa ra chỗ khác. Bọn thợ trẻ để ý đến những cái nhìn ý tứ của đám phó mộc lớn tuổi đưa đẩy với nhau bằng mắt khi bọn đàn em nhao nhao bàn tán đoán già đoán non về những việc trên đền đức thánh Tản. Những bực đàn anh này có biết một cái gì trên ấy chăng ? Sao những người tuổi tác này có vẻ khiếp sợ kín kín hở hở giấu diếm như thế ? <br />
Thái độ của cụ phó Sần thì lại càng đáng nghi lắm. Ngày trước ông cụ phó Sần vui tính hay bép xép. Chỉ từ dạo cách đây đâu mươi năm, ông cụ phó Sần tự nhiên bỏ làng Chàng Thôn mất đến hơn một tháng, vợ con không rõ là đi đâu. Lúc ông cụ Sần đi có mang theo đủ bào, đục, tràng, cưa, dây mực, ống mực, dây quả dọi, và chỉ nói là đi nhận làm khoán ở nơi xa lắm. Khi về thấy có rất nhiều tiền và mỗi lúc tiêu đến thì lại mang tiền thả vào vại nước, có nhiều đồng nổi lềnh bềnh ; ông cụ nhặt những đồng chìm tiêu dần và cất những đồng nổi vào một chỗ rất kĩ rất kín. Từ ngày ấy vợ con và cả người mấy xóm ở làng thấy ông đổi tính đổi nết một cách mau chóng. Trước ông hay ngồi lê đôi mách, bép xép hết chuyện người rồi mang nốt cả chuyện nhà ra mà nói. Giờ thì ông dè dặt từng câu, lắm ngày vẩn vơ như bị ma ám và nhiều hôm không cậy mồm ra mà nói lấy nửa nhời. Và nhiễm thêm tật khạc nhổ, thăm khám nước bọt vừa nhổ và tay luôn luôn rờ lên cái cổ vốn lộ hầu. Ông phó Sần xưa điềm đạm thì giờ hốt hoảng. Người ấy có một điều gì ngập ngừng nửa muốn nói, nửa lại thôi dám. Bà cụ phó Sần buồn lắm. Những cháu rể hỏi trộm nhau rằng hay là lúc có tuổi, ông ngoại giở chứng lúc sắp nằm xuống? Cụ phó Sần là người không bao giờ biết những mơ mộng ở đời là gì cả. Thế mà từ hồi đi làm ăn một chuyến xa ấy về, ông cụ có cái phong thái một kẻ lãng mạn vào lúc cuối đời. Ông cụ giờ chơi cây cảnh. Và bất cứ là nơi nào, hễ ai đánh tiếng cho ông biết một vườn quả nào đẹp và lạ, là ông lần mò tìm đến cho được. Có được bao nhiêu chất vui sướng còn lại trong lòng là ông cụ Sần cho nó hiện hết cả lên trên nét mặt, để rồi lúc ở vườn quả trở ra về, ông cụ lại cho mọi người được đọc vẻ thất vọng trên bộ mặt khô héo. Không, những thứ hoa và quả ở mấy thửa vườn quý báu ông vừa tới thăm không có chút gì là quý lạ cả. Cũng chỉ tầm thường như mọi thứ tầm thường ở cuộc đời này. Những thứ cỏ suối hoa ngàn và quả nơi rừng cấm, có lẽ ông chỉ thấy được một lần ấy thôi. Đã lâu lắm, từ cái ngày ông cụ Sần bị bắt đi mất hơn một tháng để trùng tu lại ngôi đền Thượng trên đỉnh núi Tản Viên. <br />
Ở trên ấy đẹp lắm. Ngày tháng thì dài, mà không thấy sốt ruột. Hoa quả lành ngọt và thơm như hết thảy những cái gì không phải là trần hủ sống gửi ở mặt đất cõi trần. Những cái êm, dịu, trong, sáng, thơm, lành trên non tiên, nếu được đem thuật lại với người làng, ông cụ Sần tin rằng sẽ có khối người đoạn tuyệt với cố hương, tìm vào ngàn cao cho được thoả cái tai và cái mắt. Nhưng, ác cái những chuyện rừng lại không được thuật lại. Hôm hoàn thành công việc sửa đền, lúc sắp xuống núi, thần non Tản đã gọi cả hai hiệp thợ mộc và thợ ngoã lại, đưa mỗi người nuốt một lá trúc xe điếu và dặn tất cả bấy nhiêu người: "Thôi nhá, chuyện chi để đó. Các ngươi về làm ăn dưới ấy cho yên ổn". Cái lá trúc xe điếu ấy là một con dao găm, một con trúc dao có phép thuật kết quả đời kẻ nào bép xép lỡ mồm tiết lộ đến thiên cơ thần cơ. Mỗi người thợ hạ sơn là đem theo trong mình một lời đe loi của Thần Non Cao và cả một cái bí mật của ngàn xanh. <br />
Hiệp thợ ngoã là người xa lạ các nơi tụ hợp lại, một lúc xuống núi là họ phân tán ngay. Còn hiệp thợ mộc bảy người toàn là người làng Chàng Thôn. Ông cụ Sần cùng trở về làng với tất cả anh em đi chữa đền thánh Tản. Những lúc tắt lửa tối đèn hoặc họp chè họp rượu ở nơi chiếu hương ẩm, hoặc là làm mùa màng, bảy người thợ mộc đều gặp nhau luôn. Nhưng tịnh không ai hé răng cậy miệng ra nói lấy nửa lời về câu chuyện hơn một tháng trên non xanh. Họ nhìn nhau trừng trừng mà biết vậy, rồi lo sợ đều bằng con mắt cả. Họ đều đem nhỡn tuyến ra mà chung viết lại với nhau một tập kí ức câm về hơn một tháng trùng tu ngôi đền Thượng. <br />
Trong bọn, có Nhiêu Tàm, người xóm dưới, không biết dại mồm dại miệng thế nào hay là lúc say sưa, không rõ tửu nhập ngôn xuất ra làm sao mà lăn đùng ra chết. Cả làng thấy Nhiêu Tàm khoẻ mạnh như thế, đang vui cười mà lăn ra chết, không ai hiểu ra sao cả. Chỉ có ông cụ Sần và 5 người thợ mộc rõ thôi. <br />
Ông cụ Sần và 5 bác phó mộc đã tìm đến nhà đám đòi xem mặt cho được người bất hạnh. Nói là để xem cái cổ Nhiêu Tàm thì đúng hơn. Thì ra ở phía bên trái cổ, có một cái nhọt bọc mã đao đang nung. Nặn phọt ra, có một cái ngòi xanh lè, dài vừa đúng một cái lá trúc con. Ông cụ Sần và 5 bác phó mộc xanh mắt nhìn nhau im lặng. Con trúc đao! Sự trừng phạt của thần non Tản ! Ông cụ Sần bèn xin lấy cái ngòi mã đao ấy, nói dối là đem về khảo về một môn thuốc ung thư ngoại khoa. Cụ Sần đem cắm ngòi mã đao đó vào chiếc chậu sứ chỉ có một đêm thôi mà ngày hôm sau, chiếc chậu sứ đã có một cây trúc nhỏ bé khẳng khiu như trúc non bộ, cành và đốt rất nhiều, nhưng chỉ có mỗi một lá thôi. Một cái lá nhọn hoắt. Muốn giữ mồm giữ miệng cho quen đi, sau ngày đưa ma Nhiêu Tàm, cụ phó Sần thường họp mấy người bạn đàn em kia lại đánh chén ở nhà mình. Bữa chén không có đồ nhắm. Họ uống rượu rất nhiều, ngồi im lặng ngắm cái lá trúc cô độc trên khóm trúc tí hon bày trước thềm nhà. Trong những ngày nơm nớp của đám thợ mộc này vừa hụt đi mất một người, những bữa rượu này là những bữa không ngon lành nhất trong đời một đám người sống nơi thôn dã với cái vui thú được thỉnh thoảng nâng chén. <br />
Cái lá trúc non bộ ấy vẫn xanh ngát trên khóm trúc đã khô giòn như bó que đóm nỏ. Đấy là một lời cảnh cáo dai dẳng. Ngày tháng cứ thế mà vợi dần trên luỹ tre làng Chàng Thôn. <br />
Bỗng một buổi chiều năm ấy - không nhớ rõ là năm nào, chỉ biết là cùng một năm có trận lụt rất lớn làm sạt cả kì đài thành Đoài và cuốn phăng mất đến gần 80 trượng đá tổ ong phía tường Tây thành tỉnh - buổi chiều năm ấy, vào lúc nhá nhem người ta đang đánh trâu cày vào các ngõ tối, một ông cụ già râu tóc lông mi trắng xốp như bông, chống một cây gậy trúc đùi gà vàng óng, khoan thai tiến vào cổng trước làng Chàng Thôn. Trông ông cụ đĩnh đạc, cổ kính, đội cái nón cỏ giống kiểu nón tu lờ người tu hành, dân làng không hỏi căn vặn và chỉ nhìn theo ông cụ đi khuất vào ngõ nhà ông cụ Sần, bước đi có đủ cái vững vàng của một người quắc thước thuộc lòng con đường đi của mình. <br />
Ông phó Sần đang ngồi quấy nồi kê. Thấy có người tiến vào đến giữa sân nhà mình và lạ quá, sao ba con chó mực không sủa và lại còn quấn quýt lấy chân người lạ, ông phó Sần bỏ cả nồi kê chưa chín, vội chạy ra. Ông già đẹp quá. Ở làng, thực các cố lão thường ngự ở chiếu trên cạp điều ngoài đình, thật là chưa có cố lão nào đẹp lão đến như thế. <br />
- Dạ thưa trượng nhân, chúng tôi xin chờ những điều trượng nhân dạy bảo. <br />
Ông cụ già gỡ nón tu lờ, cốt để ông Sần nhận rõ mặt mình. Nhưng ánh sáng chiều tàn đã yếu quá rồi. Ông Sần càng thêm ngợ. Ông cụ già chợt nhìn thấy cái khóm trúc non bộ có một chiếc lá bày ở thềm kia, bèn tiến lại, cúi xuống, lấy tay đỡ lấy và mân mê cái lá nhọn hoắt. Ông cụ già ngẩng đầu lên, vừa gặp bộ mặt ông Sần đang chăm chú nhìn xuống. Ông già khẽ mỉm cười. Ông phó Sần tái hẳn mặt đi và sụp xuống đất sắp lạy. Thần Non Tản! Thần Non Tản bèn đỡ ông Sần dậy: <br />
- Chỗ này không phải là nơi bày vẽ ra những nghi vệ nơi cung điện. Ngươi đứng thẳng mình lên, ta dặn điều này. Là họp ngay lại trong đêm nay mấy người thợ bạn ngày năm nọ. Ta có việc cần đến. <br />
- Dạ. <br />
- Cuối trống canh tư, các người đợi ở bến Gòn. Thấy chiếc thoi nào tới thì cứ xuống. Ngồi một không hết thì san ra làm hai con lườn. <br />
- Dạ. <br />
- Đây ta để lại cho ít bạc cốm. Hễ thả vào nước, những hạt mẳn nào chìm thì quân phân ra cho khắp vợ con trong anh em các người. Những hạt mẳn nào nổi thì gói lại đem theo, hôm sau sẽ có người đổi lại cho. Tính theo ngày tháng của các người dưới này, thì cũng phải đi vắng mất chừng một tháng. Giữ sao cho không ai biết đi đâu, vợ con cũng vậy. <br />
Nói xong câu này, Thần Non Tản, chỉ vào cái lá trúc vẫn xanh tươi như bao giờ, một tay ngăn không cho ông cụ Sần sắp sụp lạy. Thế rồi ông cụ già đội nón tu lờ phát mạnh cửa tay áo rộng ra đi ; mấy con chó mực vẫn không sủa lấy một tiếng nào. <br />
Bến Gòn. Đầu trống canh tư. Sáu người thợ mộc ăn uống ở nhà no nê rồi như lũ thợ cày, đang ngồi bó gối chờ đợi trên những tảng đá sống trâu trơn lạnh. Bến đò bỏ hoang đã đến mấy năm. Mấy năm nay, người hai làng bên bờ đều lấy bến trên hoặc bến dưới mỗi lúc sang ngang trẩy chợ huyện bên này và chợ phủ bên kia. Đã lâu lắm, không có một con đò nào ghé bến này. Đến cả một cái bè nứa chở muối rừng, đến cả một con đò độc mộc cũng không ngừng lại. Bến Gòn im vắng đến nỗi dòng nước chảy xuôi cũng không chịu lên tiếng. Lâu lâu mới có một tiếng tõm, dội cái tiếng vang ngược lên mãi khóm lau già mọc nơi chỗ khuỷu sông bị vặn quẹo. Tõm. Tõm. Những trái sung nẫu lìa ngành cổ thụ. Dưới cái lờ mờ của đêm thẳm, vài ba trái cây gợn vẽ lên mặt nước đặc sịt như dâu bông ít vòng tròn cùng chung một điểm trung tâm. <br />
Chim thủ thỉ thù thì đi gần mãi lại nhau. Chả còn mấy nỗi nữa, đêm sẽ tan canh. Bởi vì tiếng kêu con chim thủ thỉ đực đã gần mãi lại chỗ có tiếng trả lời của con chim thủ thỉ cái. <br />
Ông cụ Sần và 5 người phó mộc bạn, ngồi chờ đã oải cả xương sống, chốc lại trở vai. Những bào, cán chàng, cán đục va vào nhau, tiếng động rất khô rất gọn. <br />
Nước lừ dừ dịch vài bãi nước bọt mà đám phó mộc nhổ xuống dòng nước bệnh lúc muốn đánh lừa đợi chờ. Đêm tờ mờ đen rầm hẳn lại, rồi đen ngòm, rồi đen kịt. Ở một điếm huyện cũ, trống bắt đầu chuyển canh. Bỗng, ông cụ Sần cảm thấy một cái gì vừa loáng qua rồi vòng trở lại, rồi đứng sững hẳn lại trước mặt bấy nhiêu người. Nhìn gần lại, dí sát hẳn mắt vào, thì là chiếc thuyền thoi và một... chiếc thuyền thoi nữa. Mũi hai chiếc thuyền có cạp luồng hai bên mạn ghé sát vào gờ đá. Bọn ông cụ Sần lẳng lặng bước chân xuống lườn. Lườn nhỏ quá, mỗi lườn chỉ chứa được đến bốn người là nhiều lắm. Những hai lườn, mà chỉ có một người đẩy. Người chở lườn không nói chuyện, không nhìn bọn vừa xuống lườn, chỉ hướng thẳng vào cái thăm thẳm của đêm sông vắng đang thốc mạnh vào đầu mũi con sào. Lườn đi vút vút. <br />
Bọn ông cụ Sần nắm tay nhau. Lườn đi trên sông, song song hai chiếc, gì mà lại như đi trong cái rỗng tuếch của không gian. Lườn đi êm như trườn xuống một cái dốc ngọn thác mà lòng thác đều lót một lớp đầy rêu tơ nõn. Ban nãy, lườn áp bến không có một tiếng động róc rách, như là khẽ lách mặt nước mà ngoi từ dưới lên. Bây giờ hai con thuyền thoi đi trong một giấc mơ thần. Gió sớm nổi lên. Mùi nhạt nhạt của nước nguồn, mùi ngai ngái của cỏ bồng ải rũ, phả mạnh vào mũi thuyền thoi xuyên như cắm sâu mãi vào cái đông đặc của sương núi rạng mai. <br />
Đến chân núi Tản Viên, thì rõ mặt người. Ô hay, người đẩy lườn lại là một cô gái. Một cô con gái mắt sắc như dao cau và lạnh như chất kim, lạnh hơn cái gây gấy của rừng buổi sớm mai dày đặc sương mù. Tiếng đồng vọng cú rúc hết canh văng vào vách đá, rồi vật lại một nơi thung lũng nào đang gửi trả về rất dài một tiếng vượn kêu rầu. <br />
Cô lái và hiệp thợ đã đổ bộ được một thôi đường. Con đường núi lót bằng đá tảng màu gan gà viền rêu xanh. Người ta đã phải lấy các đầu ngón chân bấm xuống mặt đá trên lối độc đạo cho vững bước đi. Đây đã khỏi xóm đá Chông. <br />
Rừng Tản thấm hút không hết làn sương núi. Sương cành trên đọng gieo xuống cành dưới. Chỉ có một điệu chìm chìm tẻ tẻ. Rừng vắng và ẩm mốc. Ngực đã bắt đầu tức tức. Càng lên cao, bọn người thấy mình càng rời lìa cái nguồn sống quen thuộc của mọi ngày. Ở đây bắt đầu một nguồn sống mới lạ. Nguồn sống của dây mơ rợ móc và cỏ và đá vào lúc mới có Cấu Tạo. <br />
Đền Hạ. Rồi Đền Trung. Không có gì lạ cả. Ông cụ Sần cho nơi này là tầm thường. Người xứ Đoài, ai chả từng có dịp để dấu bàn chân lên đây một lần rồi. Nếu có những gì đáng mở mắt cho to mà xem kia, thì phải là lên nữa, lên trên nữa, trên đền Thượng. Thành đá đổ mồ hôi lạnh trước soai soải, giờ đã đứng thẳng mãi lên rồi dựng ngược. Vách đá đứng sững trước mặt bọn người đăng sơn. Thế này thì leo lên làm sao, hiệp thợ tự hỏi. Ông cụ Sần vốn có biết truyện Tam Quốc, thấy cái thế của núi đứng rất hiểm nghèo, bèn nghĩ đến cái nước non xứ Ba Thục mà có những lúc người làm tướng biết dùng binh thì lợi hại vô cùng. Ở cái yết hầu con đường đèo trên kia mà xếp sẵn gỗ cưa ngắn từng đoạn và đá tảng, mỗi lúc lăn xuống, gỗ đá lao xuống như thác nước, thì chỉ một người cũng đủ địch với cả một binh đoàn cảm tử. <br />
Cô lái đò hướng đạo quay lại. Cả hiệp thợ mộc lấy gân kìm bước lại, đứng thẳng lên, rồi ưỡn người hơi ngả về phía sau. Họ ngắm kĩ, không có một phút dám nghĩ đến lơi lả. Có ông cụ Sần là nhớ đến cái Bèo ở nhà: đứa con gái út cụ, cũng thon thon như cô lái. Cái vẻ ống dáng của cô lái bây giờ không còn nữa. Cái đoan trang ấy giờ là người đứng ra để truyền một cái lệnh. <br />
Cô cầm sẵn trong tay nắm lá trông sắc đỏ như là mãn đình hồng, phân phát cho mỗi người một lá, bảo ngậm lấy, lấy sức mà lên cao, mà chống lại khí núi. Đường đi từ đây lên đấy, tình thời gian theo cái phép đo lường của hạ giới thì cũng phải mất đến nửa ngày. Người con gái đưa đường lên tiên bảo thế. Cô dặn sáu người phó mộc nên buộc vào lưng cho thật kĩ và nhắm mắt lại. Thế rồi cả đoàn người cứ thấy bay lên cao lắm, hiệp thợ ấy chỉ là những hạt mẳn sắt bị một khối đá nam châm xa cao tít tắp hút ngược lên. Bên tai hiệp thợ phi hành, chỉ có gió vù vù. Cái lá thắm mãn đình hồng ngậm trong miệng làm nóng ấm cơ thể bọn thợ mộc đang băng mình qua cái miết lạnh của sơn cước mỗi lúc một cao, một dầy, một tức thở. Cả bọn thợ không ai lấy làm sợ hãi cả. Bởi vì, mấy năm trước, họ cũng đã phi hành như thế này rồi. Người cũ lại lên cảnh cũ non tiên, giá chuyến trước được mở mắt xem lược qua và chuyến này cũng được mở mắt mà xem kĩ lại cảnh xưa! <br />
Cả bọn bỗng rớt đánh bịch một cái trên một vật cứng và mát. Tiếng người con gái bảo họ mở mắt ra. Đây là một khu đá bằng mặt rộng độ một mẫu mà chung quanh là những vách đá cao, trên mỗi chỏm nhọn màu xanh cánh lại có mây trắng mây vàng đánh đai lấy. Ông cụ Sần sực nhớ lại những lúc ở quê dưới quê hương thấy núi và mấy như thế, người ta vẫn gọi là núi đội mũ. Cây và cỏ trên này vẫn nhiều cái lạ lắm. Chuyến trước, họ cũng đã thấy phong cảnh trên đầu non, nhưng từ khi hạ sơn, ăn phải lại cái cơm hạ giới, họ chỉ còn phảng phất mà thôi. Đã mươi năm rồi còn gì nữa. Thành thử ra lên tiên chuyến này nữa, tái kiến mà vẫn như là lần đầu. Người ta càng ngơ ngẩn với non xanh. Mà thêm tần ngần. <br />
Sau một lúc đi khuất vào nẻo đá, người con gái lại từ nẻo đá hiện ra, truyền ra cho hiệp thợ những lời của Chủ Non Xanh: <br />
- Sơn chủ hôm nay bận sang núi bên phó hội cờ thạch bàn. Các bác nghỉ ngơi nốt ngày nay. Ngày mai Sơn chủ về, sẽ có điều bảo ban sau về công việc. Theo lệnh Nữ sơn chủ, tôi đã xếp cho các bác một lều cỏ ở cạnh suối Tịch Mịch. Trong khu vực suối, các bác được phép bắn chim bắt cá và hái quả. Ngoài chỗ suối Tịch Mịch, các bác nhớ rằng không được đụng chạm đến từ một tấc cỏ, một cái lá. Thói phép trên sơn thượng này nghiêm lắm. Nhớ lấy kẻo lỡ ra mà khốn đó. <br />
Người nữ tì - đây là người nữ tì hậu cận Nữ sơn chủ - ngoắt ngón tay bảo hiệp thợ theo mình đi ra phía sau nẻo đá, rẽ ngoặt phía tay trái rồi đi xuống. Tiếng nước róc rách lưng đèo nghe gần mãi lại. Lúc đến bờ suối có lều cỏ bồng dựng sẵn thì dòng nước suối Tịch Mịch nín bặt. Nó lửng lơ trôi ốm yếu và lững lờ. Nó trong như pha lê gọt. Nó hiền lành. Cụ phó Sần vục hai bàn tay xuống nước Tịch Mịch làm ngay mấy ngụm. <br />
Sáu người phó mộc cất đồ làm vào dưới lều. Tính cũng mất nhiều thời giờ lắm rồi, mà ngày vẫn chưa hết. Cả hiệp thợ đi dạo cảnh non cao. Cảnh non cao trong cái khu vực khe Tịch Mịch. <br />
Loài cây ăn quả, nhiều nhất hai bên suối là một giống hồ đào, trông như quả roi ở dưới ta. Giống đào rợ Hồ màu vàng nhạt và xanh hay chín trái nào cũng có má hồng. Hiệp thợ, trừ ông phó Sần, thi nhau mà bứt. Trái đào rợ Hồ, nhân hột có dáng cái thai đứa trẻ gục đầu ngủ quên. Rớt xuống thảm cỏ, hột hồ đào hoá thành luống cúc tần có bảy lá mốc. Cả bọn thợ, vẫn trừ ông phó Sần, cười như phá. Chim ngàn giật mình, bay bổng. <br />
Người nữ tì đã đứng trước lều cỏ. Ông cụ Sần chờ đợi một lời quở mắng. Nhưng không. Người con gái trao cho ông một cánh cung sừng sơn dương đen, hai vòng ngọc đỏ như hổ phách và hai mũi tên, một mũi bằng vàng, một mũi bằng bạc. <br />
- Thức ăn bốn mùa trên sơn thượng là giống đào rợ Hồ. Nếu các bác không chịu được, muốn đổi bữa thì đã sẵn chim trên cành và cá dưới lòng khe. Cứ bắn lấy mà ăn. Cái tên vàng, dùng bắn chim. Bắn cá thì dùng cây tên bạc này. Cứ bắn ra, rồi mũi tên sẽ vòng quay lại, không bao giờ hết tên. <br />
Ông cụ Sần cầm hai mũi tên, ngập ngừng mãi rồi mới dám hỏi khẽ: <br />
- Thế còn ngũ cốc? <br />
Người con gái tủm tỉm cười, chỉ ra dìa suối: <br />
- Cứ những hòn cuội kia đập vỡ ra là lúa gạo. Cuội xanh là lúa tẻ, cuội vàng là lúa nếp. Còn thứ cuội trắng là, là ... Các bác muốn uống rượu thì đập vỡ cuội trắng ra, lấy nhân đá trắng hoà vào với nước suối mà uống. Hôm nay còn nghỉ ngơi, cũng nên nếm cho biết. Nhưng lúc nào đã bắt tay vào việc, mỗi lúc muốn uống rượu, các bác nên trình qua Sơn chủ đã. <br />
Mấy bác phó mộc trẻ trố mắt nhìn nhau, lấy làm ngờ vực. Người con gái đã xoay lưng đi, lại còn trở lại dặn thêm: <br />
- Phía dưới lều cỏ, khe Tịch Mịch xoáy sâu vào chân đá thành một cái hầm nước rộng. Những rễ cái các cây trầm hương cổ thụ đều ăn cả về đấy và cá suối thường tụ ở hầm hàng đàn, ăn những bọt dầu trầm nổi lên mặt nước. Nên năng tìm đến đấy, bắn cá ngư hương mà ăn. Còn như những việc khác, ở trên này có khác với dưới chân núi, các bác chớ lấy làm là mà kinh động vô ích. <br />
Thế rồi người con gái đi khuất. Thế rồi, được lời như mở tấm lòng tục, bọn thợ mộc khuân rất nhiều đá cuội, cứ từng đống có ngọn một, mang về trước lều làm gạo nấu cơm và chế rượu uống. Họ đập đá bừa bộn, không cần để riêng hòn xanh hòn vàng. Mà có cái lạ, là không cần phải nấu nướng gì, những nhân đá xanh vàng kia, cứ đập rời ra, bốc bỏ mồm là đủ hương vị một hạt cơm, một hạt xôi rồi. Nhân đá trắng, thả vào những gióng tre Đằng Ngà khổng lồ đựng nước suối, đem uống với nhau, thấy ngà ngà mà say, lâng lâng mà khuây vợi lòng tha hương. <br />
Trong khi ấy, ông cụ Sần xách cung sừng và hai cái tên vàng bạc lần xuống chỗ Bạch Đàn đàm, bắn được sáu con cá ngư hương. Lúc trở về đi qua dưới cây đại cổ kính đầu cành chàng nạng nhẵn nhịu như những cặp nhung hươu, thấy có chim, ông phó Sần bèn phóng một mũi tên vàng, dây cung kêu đánh phựt một tiếng. Rồi mũi tên lướt rơi qua lùm cây tóc tiên và rớt xuống cỏ thạch sương bồ bóng loáng nước sơn then. Lại cũng đủ sáu con chim xiên vào mũi tên như một que chả chim nướng cả con. Mà thực là một xiên chả. Mùi thơm ở sáu con chim sẻ đồng bị tên vàng cắm suốt, thơm phưng phức. Ông cụ Sần tháo vòng ngọc đỡ ngón tay, đeo cung lên vai, trở về lều với xâu chim chín và xâu cá cũng đã chín sẵn chung quanh cây ngân tiễn. <br />
Sau một bữa ăn có rượu nhân đá, có chả chim ngàn, có chả cá suối, cả hiệp thợ mộc say sưa, gối đầu lên tràng đục, đánh một giấc không biết trời đất là gì nữa. Mở mắt dậy, thì cũng như hôm qua, cái ánh sáng trên này lúc nào cũng nhờ nhờ như nước gạo loãng, không kể sớm, không kể trưa, không kể tối. <br />
Ba bốn con voi lông toàn trắng, chung vòi lại, đỡ mấy cây gỗ đi qua lều, chân nặng bước rất nhanh, để lại sau đuôi nào là gió, là đá răm, đá cuội bắn tung hạt lại. <br />
Một chốc, thấy người con gái hôm qua tới bảo cả bọn lên hết cho Sơn chủ dặn bảo. Đi đến cổng ngôi đền gần sụt mái, người nữ tì lảng ra một bên. Thần Non Tản phe phẩy cây phất trần, ngắm mấy con bạch tượng cắm ngà xuống sân đền, sau mươi cây gỗ dài rất thẳng. Thần Non Tản truyền cho voi trắng và hiệp thợ mộc đứng cả dậy. Bọn thợ theo Thần vào đền. <br />
Mấy hàng cột con, cột hàng ba, cột quyết không đủ sức chống cái mái đền lợp ngói vai bộ tráng men ngũ sắc. Ở nền đền, mất nhiều chân cột và thiếu nhiều miếng gạch lát. Bọn thợ xem qua một lượt. Họ ngờ rằng một dãy cột mẹ và những tảng đá chân cột và lát nền kia là do vua Thuỷ dâng nước lên lấy mất. Ngoài vua Thuỷ ra, còn ai dám động đến đền Thượng? Đích cột đền là gỗ chò vẩy và đá bị mất luôn kia là đá hoa. Có lẽ trận lụt cách đây mấy tháng là vua Thuỷ dâng nước lên đỡ gỗ chò vẩy và đá hoa đền Thượng. Bây giờ Sơn chủ gọi họ lên chữa. <br />
- Tâu Chúa Ngàn cao cả, cứ như kiểu đền này, kể ra giờ thiếu hàng cột mẹ, thì bắt mấy cái quá giang rồi xoay ra kiểu thượng thực hạ hư cũng được. <br />
Thần Non Tản, đi lại trên những lỗ gạch đá thềm đình trống hổng, hỏi tại sao lại phải xoay kiểu và dựng đền thành ra thượng thực hạ hư. <br />
- Dạ cúi thưa Chúa Ngàn cao cả, đó là cung cách của chúng tôi thường làm, mỗi khi không đủ gỗ cột mẹ. Tất cả phải mất một cây cột mẹ. Ngoài sân chỉ có chín cây gỗ chò. Nếu phải làm hàng cột này bằng hai thứ gỗ khác nhau, chúng tôi e không đẹp. Tâu xin Ngài phán xuống để anh em chúng tôi khởi công. <br />
Thần Non Tản liền phán: <br />
- Đền dựng trước như thế nào, cứ thế mà trùng tu. Không phải thượng thực hạ hư gì cả. Ở sơn gian này, có thiếu gì gỗ chò vẩy và đá hoa. Ta dám chấp kẻ kia cứ dâng mãi được nước lên đây mà dỡ cho hết được gỗ quý và đá báu của ta. Còn thiếu bảy cây gỗ chò nữa, chiều nay lũ voi trắng của ta sẽ đem về đủ. Còn đá cẩm thạch lúc nào lót cột và lát nền, sẽ có lần lần cho thợ ngoã làm. <br />
Hiệp thợ mộc vẫn tuần tự tiến hành công việc. Ngày tháng trên này không biết lấy gì mà đo tính, bởi vì chỗ sơn thượng không có đêm không có ngày. Đây là nơi của ánh sáng vĩnh viễn nhờ nhờ như màu ngọc liệu, như chất nước quế trắng chính sơn pha loãng. Những buổi trời tái hẳn lại vì khí núi âm u, thì một vài hòn ngói trên lòng trần đền hình mai luyện lại sáng rực hẳn lên như một nguồn lửa. Ở những hòn ngói phát hào quang ấy, đọc rõ được bốn chữ Tản Viên Đài Ngoã. Vào những phút này, mấy thân cây cột gỗ chò vẩy mới tỏ rõ cái đẹp cái quý của một thứ gỗ đặc biệt. Dưới ánh lửa ngói sáng choang, cột gỗ chò nhấp nhánh lộng lẫy chớp chớp lên như vẩy rồng vàng cốm chạm nổi. <br />
Những đầu kèo vai và câu đầu, đều chạm tứ quý tứ linh. Bức trần gỗ thì chạm bát bửu cổ đồ. Nét chạm tỉ mỉ công phu gấp mấy lần công thợ điêu khắc ở các đền đài khác ở dưới núi. Họ chia nhau ra mà chạm, người thì tỉa hình thư kiếm, quạt và phất trần, kẻ thì gạt dáng tù và với túi roi hoặc là túi thơ cùng bầu rượu, cái nọ ghép vào với cái kia thành một bộ đôi bằng những sợi cẩm đới nét dẻo như tung bay được. <br />
Đến hôm chạm đến tám cánh cửa bức bàn theo hình Bát tiên hoá thì trời xám quá, ánh sáng ngói đền không đủ để làm việc. Sơn chủ phải cho nổi hiệu khánh đá gọi đôi tê giác xanh tới đền. Người thợ nào cần thêm ánh sáng thì con tê giác xanh lại ghé đến bên cạnh, lấy cái sừng âm rọi sáng cho đường chạm. Sừng tê giác là những vệt lân hoả sáng xanh và dịu. Nhiều con anh tước lắng tai nghe những tiếng đục đánh xuống tràng kêu lách cách cóc cách gieo những âm thanh thô lạ và gắt vào cái êm ả của ngàn mềm. Nhiều buổi Sơn chủ hài lòng cho phép cả hiệp thợ ngâm đá cuội mà say. Có một lần, ông cụ Sần tỉnh rượu thấy mình gối vào vòi con bạch tượng mà ngủ và vượn trắng đang bứt hồ đào đùa ném vào các người thợ bạn còn ngủ li bì. Bên hàng lệ liễu màu phấn hồng, có đến trăm con chim quyên mỏ và lông đều tím hoa sim đang rỉa vỡ những màng hoa mấy khóm phong lan đen như gỗ mun. <br />
Hôm nay, bọn thợ mộc làng Chàng Thôn đã làm đến cái diềm gỗ hàng hiên phải chạm thủng đường sòi. Nghĩa là công việc chữa đền Thượng gần xong. Ông cụ phó Sần buồn buồn nghĩ đến ngày sắp phải xuống núi. Cứ ở trên này, thì bọn thợ còn được tha hồ bàn tán đến những cái lạ của Ngàn thăm thẳm kín mật, mỗi lìa rời xuống khỏi, là không tìm lại được đường lên, là không dám hở hang tí chút lại với người đời về cái thần bí trên đây xanh tươi đến ngày tận thế. <br />
Ông cụ phó Sần rầu rầu nghĩ đến một hôm nào đây, cũng không còn xa gì đâu, Chúa Ngàn Thiêng lại đưa cho người về một cái lá trúc nhọn đầu./. <br />
(Trong tập truyện ngắn Vang bóng một thời)</span>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Tam Sinh Thạch]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1637.html</link>
			<pubDate>Wed, 11 Sep 2013 04:24:32 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=9">Ngạo</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1637.html</guid>
			<description><![CDATA[<img src="http://www.dharmasite.net/bdh38/825126061_small.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: 825126061_small.jpg]" class="mycode_img" /><img src="http://www.dharmasite.net/bdh38/825456956_small.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: 825456956_small.jpg]" class="mycode_img" /><br />
<img src="http://www.dharmasite.net/bdh38/825784568_small.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: 825784568_small.jpg]" class="mycode_img" /><br />
Tam Sinh Thạch<br />
<br />
三生石<br />
<br />
Ban Phiên Dịch Việt Ngữ Vạn Phật Thánh Thành chuyển dịch ( <a href="http://www.dharmasite.net/bdh38/TamSinhThach.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Nguồn</a>)<br />
<br />
<br />
Hàng Châu, Tây Hồ có một cục đá tên là tam sinh thạch. Cục đá ấy có sự tích như sau:<br />
<br />
Vào đời Ðường, triều vua Huyền Tông, lúc ấy có loạn An Lộc Sơn hưng binh tác quái phá hoại đông đô là Lạc Dương. Vị thủ tướng của thành là quan lễ bộ thượng thư, tên Lý Ðăng, vì không hàng giặc nên bị giết chết. Các người con của Lý Ðăng đều theo cha nên bị hại cả, chỉ có người con tên Lý Bàng vì nhậm chức ở Hàm Ninh nên không bị nạn. Một người con khác là Lý Nguyên, mới lên tám tuổi, đã tự đào thoát, rồi phiêu bạt, làm tôi tớ cho người, lưu lạc trong nhân gian.<br />
<br />
Bảy tám năm sau, có người quen biết với gia đình Lý Ðăng nhận diện ra được Lý Nguyên nên đem chàng về giao lại cho quyến thuộc. Bấy giờ căn nhà cũ của Lý Ðăng đã bị sung công làm chùa, tên là Huệ Lâm Tự.<br />
<br />
Ngày tháng thấm thoát thoi đưa, mấy năm sau, triều đại lại đổi vua. Bây giờ vua Ðường Ðại Tông nghe được Lý Nguyên là hậu duệ của trung thần Lý Ðăng nên hạ chiếu phong Lý Nguyên làm Tham Quân ở phủ Hà Nam, sau đó tấn phong làm Ty Nông Chủ Bạc. Nhưng Lý Nguyên trong lòng đau buồn chuyện cha bị giặc giết nên chẳng còn hứng thú gì làm quan. Chàng phát thệ rằng trọn đời sẽ không làm quan, không cưới vợ, không ăn thịt uống rượu, để tận lòng hiếu thảo. Vì vậy chàng khước từ quan vị, quyết định trở về quê cũ, thăm nhà là ngôi chùa Huệ Lâm.<br />
<br />
Trải qua mấy tuần hết đi ngựa lại ngồi thuyền, chàng mới về tới được quê nhà. Ðứng trước cửa, nhìn cảnh củ, đã trải qua bao đổi thay, lòng chàng bồi hồi. Ngẫm nghĩ đắn đo, chàng thấy nhà mình đã biến thành chùa cũng là điều tốt, vì là cúng dường Tam bảo, còn hơn là rơi vào tay kẻ ích kỷ tự lợi. Chàng bước tới, run tay gõ cửa.<br />
<br />
Vị sư trụ trì là thiền sư Viên Trạch ra mở cửa. Thiền sư cũng còn niên thiếu, hai người gặp nhau, chỉ bao phút hàn huyên , đã cảm thông như bạn cũ. Sư Viên Trạch dẫn Lý Nguyên lên điện lễ Phật xong, lại đưa chàng tới phòng của Lý Ðăng xưa kia trú ngụ. Thầy nói rằng: Tiên sư của tôi có dạy rằng cư sĩ Lý Ðăng là bậc trung thần nhân nghĩa, mười mấy năm trước gia tộc họ Lý quyết định đem nhà sung công này ra cúng dường Tam Bảo, là việc hết sức phước đức. Bởi vậy chùa giữ lại phòng của cư sĩ để làm kỷ niệm. Khi Lý Nguyên thấy phòng của phụ thân chàng vô cùng cảm động, bậc khóc cho người đã khuất bóng.<br />
<br />
Thế rồi Lý Nguyên quyết định ở lại chùa, ngày ngày lễ Phật, tu tập tham thiền, ăn ngày một bửa, theo học khuôn khổ người xuất gia. Mỗi ngày chàng lại để giờ tới trước phòng cha mình, quỳ xuống lễ lạy, tỏ tình hiếu thảo.<br />
<br />
Thời gian thắm thoát, lại mấy mươi năm qua đi. Bấy giờ Viên Trạch và Lý Nguyên cũng đã ngoài sáu mươi. Một hôm, Lý Nguyên nói với sư rằng: "Trạch công! Tôi nghe nói Ðức Phổ Hiền Bồ Tát ở núi Nga Mi tỉnh Tứ Xuyên rất linh cảm thù thắng. Hiện tại chúng ta còn có sức lực tôi muốn cùng ngài triều bái thắng cảnh, ý ngài ra sao?"<br />
<br />
Ngài Viên Trạch trả lời: "Tôi đã nghe qua đạo tràng ở Nga Mi. Nhưng trăm nghe không bằng một thấy."<br />
<br />
Lý Nguyên nói: "Chúng ta có thể ngồi thuyền xuống Kinh Châu, Hồ Bắc, luôn tiện xem cảnh non nước."<br />
<br />
Thiền sư trầm ngâm, lộ vẻ khó xử: "Tôi nghĩ mình nên dùng đường bộ tới Trường An, ngắn hơn đi đường thủy."<br />
<br />
Lý Nguyên phản đối: "Không xong! Trường An tôi có rất nhiều kẻ quen biết. Vì tôi không muốn làm quan, nên nếu đi ngang đó e sẽ gặp rất nhiều kẻ quen, chỉ thêm phiền hà." Thế rồi hai người ý kiến bất đồng không giải quyết được, nên mãi sáu tháng sau mới quyết định sẽ đi đường thủy.<br />
<br />
Vào ngày lên đường, Thiền sư gọi chú thị giả Liễu Tịnh vào phòng, giao cho một bức thư, nói rằng: "Ðây là bức thư thầy viết cho Lý cư sĩ. Khi Lý cư sĩ về lại chùa, con hãy trao tận tay bức thư này giùm ta." Liễu Tịnh vô cùng ngạc nhiên không biết thầy mình vì sao không lập tức trao thư, phải nhờ mình đợi Lý Nguyên trở về mới giao. Song không dám trái lời, Liễu Tịnh chỉ biết cất thư, chờ đợi.<br />
<br />
Thế rồi hai người lên đường, ngày đi đêm nghỉ, hết cởi ngựa lại sang thuyền. Cứ thế tiêu dao tự tại, hân thưởng sơn thanh thủy tú, thật vô cùng khoái lạc. Bửa chiều nọ khi con thuyền ngang qua huyện Nam Phủ để trọ đêm, họ chợt thấy một phụ nhân từ ngôi nhà ven sông bước ra, men tới bờ sông để múc nước. Vừa nhìn thấy thiếu phụ, bước đi chậm chạp vì đang hoài thai, thiền sư Viên Trạch đã lộ vẻ bàng hoàng, loạng choạng thối lùi, tay vịn vách thuyền để khỏi té ngã.<br />
<br />
Lý Nguyên vội hỏi: "Trạch công! Ngài thân thể có gì bất an chăng?"<br />
<br />
Thiền sư chỉ thở dài: "Tôi...tôi... Chẳng phải tôi thân thể bất an, mà là... mà là..." Nói đến đây, thiền sư từ từ ngồi xuống. Ngài trầm ngâm giây lát, mới thở dài, nói tiếp: "Hà! Chỉ nghĩ tới lúc chúng ta phải vĩnh biệt, lòng tôi thật đau buồn."<br />
<br />
Lý Nguyên hỏi: "Trạch công! Sao ngài lại nói lời bất tường như vậy!"<br />
<br />
Thiền sư lắc đầu mà nói rằng: "Lý cư sĩ! Ngài có thấy vị thiếu phụ kia chăng? Nguyên lai là tôi phải đi đầu thai làm con bà thiếu phụ kia đó..."<br />
<br />
Lý Nguyên thảng thốt: "A! Ngài nói thật sao?"<br />
<br />
Thiền sư gật đầu, tiếp rằng: "Ðúng vậy! Nhưng vì tôi không muốn đi đầu thai quá sớm nên thiếu phụ ấy hoài thai đã lâu mà vẫn chưa thể sinh con. Trước kia tôi tính không đi đường thủy, chỉ vì muốn tránh mặt bà ấy. Ngờ đâu nhân duyên, nghiệp quả thật không thể tránh né được. Bây giờ, đã gặp mặt, thấy bà ấy vất vả với bào thai như vậy, tôi làm sao có thể ích kỷ chỉ nghĩ đến mình, rồi ỷ vào năng lực thiền định để cưỡng lại nghiệp lực?"<br />
<br />
Lý Nguyên bật khóc: "Phải chi, thầy sớm nói rõ, chúng ta sẽ không đi đường thủy, và sẽ không gặp bà này, và..."<br />
<br />
Thiền sư an ủi: "Thật chẳng ai có thể đổi thay định nghiêp! Dầu tôi muốn tránh cũng không được. Bây giờ anh hãy giúp tôi lo liệu chuyện hậu sự vậy. Sau ba ngày nữa anh hãy tới nhà thiếu phụ ấy thăm tôi. Khi gặp anh tôi sẽ mỉm cười để chứng minh. Sau đó mười ba năm, vào đêm trung thu anh hãy tới phía sau chùa Thiên Trúc ở Hàng Châu để gặp tôi."<br />
<br />
Lý Nguyên chỉ đành gạt lệ, chẳng biết nói sao cho phải.<br />
<br />
Ðêm ấy, thiền sư tắm rửa sặch sẽ, mặc y áo chỉnh tề, chính thân đoan tọa, cáo biệt Lý Nguyên rồi an nhiên nhắm mắt, nhập định thị tịch. Sáng lại Lý Nguyên cho người đi lo liệu hậu sự, đồng thời thông tin cho đệ tử, tín đồ. Ðến ngày thứ ba thì Lý Nguyên mới một mình đi tìm tới nhà thiếu phụ nọ. Khi tới nơi, Lý Nguyên được người nhà cho biết là bà ta đã sinh vào hai đêm trước rồi. Song có điều lạ, họ nói rằng, cháu bé sinh ra đã hơn hai ngày nay, khóc lóc không ngừng. Lý Nguyên mới đánh bạo nói rằng: "Tôi có phương pháp làm cho em ngừng khóc và mĩm cười, bà có thể cho tôi thăm em chăng?" Người nhà bèn dẫn Lý Nguyên vào. Khi em bé được mẹ bồng vào, em khóc lóc om sòm. Lý Nguyên hỏi em: "Trạch Công, phải chăng là ngài? Nếu là Trạch công, ngài hãy mỉm cười cho tôi biết." Chú bé dường như hiểu ý, lập tức mỉm cười, ngoắt tay, ra vẻ thân thiết vô cùng. Bấy giờ, Lý Nguyên tin chắc đây là hậu thân của thiền sư Viên Trạch rồi, nên chàng khóc oà lên, vui buồn lẫn lộn. Người mẹ ngạc nhiên vô ngần, hỏi Lý Nguyên vì sao anh khóc. Thế là chàng đem đầu đuôi tự sự kể lại cho bà và người trong gia đình nghe. Ai cũng động tâm kinh ngạc. Chàng nói: "Tôi hiện trú tại chùa Huệ Lâm, Lạc Dương. Hy vọng về sau chúng ta giữ mối liên lạc. Tôi nhất định sẽ tới thăm chú bé thường xuyên." Nói xong, chàng cáo từ.<br />
<br />
Trở về bến đò lo liệu lễ hỏa táng cho thiền sư Viên Trạch xong, Lý Nguyên quyết định lập tức quay về Lạc Dương. Khi Liễu Tịnh mở cửa chùa, thấy Lý Nguyên, chú ngạc nhiên lắm, không hiểu chuyện gì đã xảy ra, sao chẳng thấy sư phụ cùng về. Lý Nguyên bèn kể lại những diễn biến vừa qua. Bấy giờ Liễu Tịnh mới ngậm lệ nói rằng: "Trước khi ra đi sư phụ có để lại bức thư cho Lý cư sĩ đấy. Ðể tôi lấy cho anh coi!" Nói rồi Liễu Tịnh vào thư phòng lấy ra một phong thư. Lý Nguyên, quỳ xuống, trang trọng nhận lấy thư. Thư ấy viết:<br />
<br />
Kì quân nhẫn khổ, vật ưu quyến,<br />
Thù nghiệp luân hồi vô khả diên,<br />
Duyên kết tam sinh tình vị liễu,<br />
Ðãi tùng tha tuế, thoại tiền duyên.<br />
<br />
Ý thơ là: Xin bạn nhẫn khổ, chớ lo lắng quyến luyến. Nghiệp đã tạo ra trong luân hồi, giờ đây tôi phải trả, chẳng thể trì hoãn kéo dài đặng. Song tình bạn giữa chúng ta trong ba đời vẫn chưa dứt hết. Thôi hãy chờ. Tương lai có dịp mình sẽ hàn huyên chuyện cũ, duyên xưa.<br />
<br />
Tạm dịch:<br />
<br />
Nhẫn khổ mong ai thôi bịn rịn,<br />
Luân hồi nghiệp thúc lẽ nào quên,<br />
Ba đời gắn bó dây bền chặt,<br />
Xin hẹn ngày sau kể túc duyên. (1)<br />
Ðọc xong thư, Lý Nguyên không thể tự kềm đôi hàng lệ tuôn trào. Nguyên lai Trạch công đã biết trước chuyện này. Nếu ta biết được việc này là thế, ắt ta không đi đường thủy làm gì.<br />
<br />
Mấy tháng sau, vào một ngày thu lá rụng, mưa rơi, Lý Nguyên nhận được một lá thư từ thiếu phụ ở Nam Phủ. Song khi xem thư xong lòng chàng sửng sốt: Em bé mà Thiền sư Viên Trạch đầu thai đã qua đời. Lý Nguyên suy nghĩ: "Nếu Trạch công ở tại Nam Phủ thì cớ gì lại muốn ta tới Chùa Thiên Trúc tương kiến. Nguyên lai là Trạch công đã sớm tiên tri đến đời thứ ba của ngài rồi. Ðó phải chăng là ý nghĩa của câu: Duyên kết tam sinh tình vị liễu." Lý Nguyên im lặng đứng bên song cửa, trầm ngâm về ý nghĩa của nhân sinh, về đời Trạch công, về nghiệp duyên của mình...<br />
<br />
Thế rồi thời gian thắm thoát thoi đưa. Chớp mắt đã mười ba năm. Lý Nguyên giờ đây thân tuy vẫn trú ngụ tại chùa Huệ Lâm song nét người đã khác với năm xưa. Sức trai tráng, tinh anh lúc mới vào chùa, giờ đây đã nhường lại cho tóc hoa râm, gậy trúc đỡ chân. Song mối tình đạo khắng khít với Trạch công vẫn như xưa. Gần tới ngày tết Trung Thu năm ấy, Lý Nguyên nôn nao chuẩn bị ngựa xe lên đường, nhắm hướng Tây Hồ ở Hàng Châu.<br />
<br />
Nghi rằng Trạch công nhất định phải đầu thai ở vùng phụ cận chùa Thiên Trúc, Lý Nguyên bèn đi khắp các nơi quanh chùa để dọ tin, song chàng chẳng tìm được tin tức gì. Cuối cùng, đúng như lời Trạch công phú chúc, chàng tới phía sau chùa chờ đợi. Chàng tìm thấy một con lạch nước chảy quanh co, hai bên cây cối u nhã. Hoàng hôn lẹ làng buông xuống trùm phủ khắp nơi...<br />
<br />
Một chặp sau, ánh trăng rằm đêm Trung Thu từ từ vươn ra khỏi ven núi, thăng lên giữa trời, soi sáng bốn bề. Nhưng Lý Nguyên nào còn lòng dạ để ngắm trăng? Bụng dạ chàng cứ nao nao, bồn chồn: "Không biết Trạch công có nhớ lời hứa chăng? Với râu tóc, mặt mày biến đổi theo tuế nguyệt của ta, Ngài có nhận ra ta chăng?" Cảm thấy chỗ ngồi của mình không phải dễ dàng để kẻ khác thấy, Lý Nguyên bèn rảo bước tìm một tảng đá cực lớn, rồi leo lên đứng trên ấy, chờ đợi.<br />
<br />
Chẳng bao lâu, tiếng bước chân lao xao vang lại từ bên kia con lạch. Nhìn kỹ, Lý Nguyên thấy một em bé diện mạo đoan chính, thanh thản tự tại, cỡi lưng trâu, từ từ tiến tới. Tràn ngập xúc động, Lý Nguyên lắp bắp: "Phải chăng là Trạch..." Chàng chưa dứt lời, em bé miệng mỉm cười, thong thả ngâm lên bài thơ rằng:<br />
<br />
Tam sinh thạch thượng cựu tinh hồn,<br />
Thưởng nguyệt ngâm phong mạc yếu luận,<br />
Tàm quý tình nhân viễn tương phỏng,<br />
Thử thân tuy dị tánh trường tồn.<br />
<br />
Ý thơ là: Lý Nguyên, kẻ đang đứng trên hòn đá ấy là bạn cũ trong ba đời của ta. Song chúng ta chớ nói chuyện ngắm trăng, ngâm thơ, đàm luận làm gì. Ta thật hổ thẹn để người bạn thân thương từ xa đến thăm viếng. Thân ta tuy đã đổi thay song bản tánh Phật của ta thì còn mãi mãi.<br />
<br />
Tạm dịch:<br />
　<br />
Ba đời trên đá khổ công rèn,<br />
Vịnh gió ngâm trăng gác lại bên,<br />
Thẹn lòng đối bạn từ xa viếng,<br />
Thân dẫu khác xưa tánh vẫn nguyên. (2)<br />
Biết chắc là Trạch công, Lý Nguyên mừng rỡ xúc động: "Ðúng là Trạch công! Trạch công..."<br />
<br />
Chú bé thong dong tiếp lời: Lý cư sĩ! Ngài thật là giữ đúng chữ tín! Lý cư sĩ! Ðường của ngài và của tôi thì khác nhau lắm. Duyên đời của ngài vẫn còn chưa hết. Nếu ngài tiếp tục tu hành, không đọa lạc vào tam ác đạo thì tương lai chúng ta sẽ còn hội ngộ.<br />
<br />
Lý Nguyên ngỡ ngàng: "A! Trạch công, nói thế, phải chăng ngài chẳng có ý về chùa Huệ Lâm?"<br />
<br />
Chú bé mỉm cười: "Lý cư sĩ! Nhân duyên trên đời hễ có họp thì phải có tan. Có hoa nào nở rồi chẳng tàn, lá mọc mà chẳng rụng, cuộc họp mặt chẳng tan? Buồn đau quyến luyến nào có ích gì."<br />
<br />
Nói rồi, chú bé vỗ lưng trâu, mà rằng: "Ði thôi trâu! Lý cư sĩ! Xin ngài hãy nhớ lời tôi nhé: tiếp tục tu hành, đừng đọa vào ba ác đạo thì tương lai chúng ta sẽ lại tương kiến."<br />
<br />
Thế rồi chú cỡi trâu thong thả quay đầu bước về hướng mà trâu đã tới. Chú bé từ từ nhè nhẹ cất lên lời ngâm thơ êm ả:<br />
<br />
Thân tiền thân hậu sự mang mang,<br />
Dục thoại nhân duyên khủng đoạn trường,<br />
Ngô Việt tam xuyên tầm dĩ biến,<br />
Khước hồi yên trạo thướng Cù Đường.<br />
<br />
<br />
Thân tiền . . . . .<br />
<br />
Ý thơ là: Ðời trước và kiếp sau mọi chuyện thật là mênh mang mịt mùng. Muốn nói hết nhân duyên mọi chuyện nhưng sợ rằng bạn sẽ đau buồn đứt ruột. Núi này song nọ tôi đã tìm hết thảy, nhưng chỉ có trở về nơi nhà đây mới thấy nó (Phật tánh).<br />
<br />
Tạm dịch:<br />
<br />
Thân trước thân sau sự mịt mùng<br />
Muốn nói nhân duyên sợ điếng lòng<br />
Ngô Việt núi sông tìm đã khắp<br />
Khua chèo trở lại đến Cù Ðường. (3)<br />
<br />
Thân trước ... <br />
<br />
<br />
Lý Nguyên đứng lặng như trời trồng, chẳng biết phải phản ứng ra sao. Chàng tự nghĩ cuộc hội ngộ hôm nay lẽ nào ngắn ngủi đến thế. Mình phải mời cho được Trạch công về lại chùa cũ để hàn huyên tâm sự... Ðến khi bóng trâu và em bé từ khuất lần sau lùm cây, chàng mới giật mình choàng tỉnh. Hốt hoảng chàng kêu lên: Trạch công! Trạch công! . . . Rồi cố gắng hết sức mình, chàng vội vã leo xuống tảng đá. Hớt hãi vì sợ không đuổi theo kịp Trạch công, chàng hấp tấp bước ngang qua lạch. Trong lúc cấp bách, chàng vất chân, té nhoài xuống lạch. Cố gắng đứng dậy, toàn thân ướt đẩm, phải khó khăn lắm chàng mới lê bước qua được con lạch. Bấy giờ đưa mắt nhìn quanh, chỉ thấy dưới ánh trăng rằm, mọi nơi yên lặng như tờ. Tiếng côn trùng gọi réo về đêm vang vọng bốn bề. Nhưng đâu là bóng dáng Trạch công? Bất giác hai hàng lệ tuôn dài trên má Lý Nguyên.<br />
<br />
Lý Nguyên về sau trở lại chùa Huệ Lâm tiếp tục tu hành. Hai năm sau quan ngự sử là Lý Ðức Dục tấu biểu rằng Lý Nguyên là người trung hậu, chí hiếu, đạo đức, thỉnh vua phong quan trọng dụng. Bấy giờ Ðường Mục Tông nghe tấu bèn phong Lý Nguyên chức Gián Nghị đại phu, song chàng cương quyết thối từ. Chàng tiếp tục tu hành tinh tấn ở chùa, giúp đỡ giáo hóa bạn đạo hiểu rõ ý nghĩa nhân quả. Chàng cảm nhận sâu xa sức mạnh vô biên của nghiệp, và nổi hiểm nghèo sống và lưu chuyển trong cõi Ta Bà này. Thật chẳng có gì cấp bách hơn thành tâm niệm Phật, cầu sinh Tịnh độ, để vĩnh thoát luân hồi.<br />
<br />
　<br />
<br />
Ghi chú:<br />
<br />
(1) và (2): Bản dịch thơ của Đạo Hữu Nguyên Minh<br />
<br />
(3):  Bản dịch thơ trong Cao Tăng Dị Truyện bài 47. ẨN SỸ LÝ NGUYÊN  Thăm TỲ KHEO Viên Trạch]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<img src="http://www.dharmasite.net/bdh38/825126061_small.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: 825126061_small.jpg]" class="mycode_img" /><img src="http://www.dharmasite.net/bdh38/825456956_small.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: 825456956_small.jpg]" class="mycode_img" /><br />
<img src="http://www.dharmasite.net/bdh38/825784568_small.jpg" loading="lazy"  alt="[Hình: 825784568_small.jpg]" class="mycode_img" /><br />
Tam Sinh Thạch<br />
<br />
三生石<br />
<br />
Ban Phiên Dịch Việt Ngữ Vạn Phật Thánh Thành chuyển dịch ( <a href="http://www.dharmasite.net/bdh38/TamSinhThach.html" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Nguồn</a>)<br />
<br />
<br />
Hàng Châu, Tây Hồ có một cục đá tên là tam sinh thạch. Cục đá ấy có sự tích như sau:<br />
<br />
Vào đời Ðường, triều vua Huyền Tông, lúc ấy có loạn An Lộc Sơn hưng binh tác quái phá hoại đông đô là Lạc Dương. Vị thủ tướng của thành là quan lễ bộ thượng thư, tên Lý Ðăng, vì không hàng giặc nên bị giết chết. Các người con của Lý Ðăng đều theo cha nên bị hại cả, chỉ có người con tên Lý Bàng vì nhậm chức ở Hàm Ninh nên không bị nạn. Một người con khác là Lý Nguyên, mới lên tám tuổi, đã tự đào thoát, rồi phiêu bạt, làm tôi tớ cho người, lưu lạc trong nhân gian.<br />
<br />
Bảy tám năm sau, có người quen biết với gia đình Lý Ðăng nhận diện ra được Lý Nguyên nên đem chàng về giao lại cho quyến thuộc. Bấy giờ căn nhà cũ của Lý Ðăng đã bị sung công làm chùa, tên là Huệ Lâm Tự.<br />
<br />
Ngày tháng thấm thoát thoi đưa, mấy năm sau, triều đại lại đổi vua. Bây giờ vua Ðường Ðại Tông nghe được Lý Nguyên là hậu duệ của trung thần Lý Ðăng nên hạ chiếu phong Lý Nguyên làm Tham Quân ở phủ Hà Nam, sau đó tấn phong làm Ty Nông Chủ Bạc. Nhưng Lý Nguyên trong lòng đau buồn chuyện cha bị giặc giết nên chẳng còn hứng thú gì làm quan. Chàng phát thệ rằng trọn đời sẽ không làm quan, không cưới vợ, không ăn thịt uống rượu, để tận lòng hiếu thảo. Vì vậy chàng khước từ quan vị, quyết định trở về quê cũ, thăm nhà là ngôi chùa Huệ Lâm.<br />
<br />
Trải qua mấy tuần hết đi ngựa lại ngồi thuyền, chàng mới về tới được quê nhà. Ðứng trước cửa, nhìn cảnh củ, đã trải qua bao đổi thay, lòng chàng bồi hồi. Ngẫm nghĩ đắn đo, chàng thấy nhà mình đã biến thành chùa cũng là điều tốt, vì là cúng dường Tam bảo, còn hơn là rơi vào tay kẻ ích kỷ tự lợi. Chàng bước tới, run tay gõ cửa.<br />
<br />
Vị sư trụ trì là thiền sư Viên Trạch ra mở cửa. Thiền sư cũng còn niên thiếu, hai người gặp nhau, chỉ bao phút hàn huyên , đã cảm thông như bạn cũ. Sư Viên Trạch dẫn Lý Nguyên lên điện lễ Phật xong, lại đưa chàng tới phòng của Lý Ðăng xưa kia trú ngụ. Thầy nói rằng: Tiên sư của tôi có dạy rằng cư sĩ Lý Ðăng là bậc trung thần nhân nghĩa, mười mấy năm trước gia tộc họ Lý quyết định đem nhà sung công này ra cúng dường Tam Bảo, là việc hết sức phước đức. Bởi vậy chùa giữ lại phòng của cư sĩ để làm kỷ niệm. Khi Lý Nguyên thấy phòng của phụ thân chàng vô cùng cảm động, bậc khóc cho người đã khuất bóng.<br />
<br />
Thế rồi Lý Nguyên quyết định ở lại chùa, ngày ngày lễ Phật, tu tập tham thiền, ăn ngày một bửa, theo học khuôn khổ người xuất gia. Mỗi ngày chàng lại để giờ tới trước phòng cha mình, quỳ xuống lễ lạy, tỏ tình hiếu thảo.<br />
<br />
Thời gian thắm thoát, lại mấy mươi năm qua đi. Bấy giờ Viên Trạch và Lý Nguyên cũng đã ngoài sáu mươi. Một hôm, Lý Nguyên nói với sư rằng: "Trạch công! Tôi nghe nói Ðức Phổ Hiền Bồ Tát ở núi Nga Mi tỉnh Tứ Xuyên rất linh cảm thù thắng. Hiện tại chúng ta còn có sức lực tôi muốn cùng ngài triều bái thắng cảnh, ý ngài ra sao?"<br />
<br />
Ngài Viên Trạch trả lời: "Tôi đã nghe qua đạo tràng ở Nga Mi. Nhưng trăm nghe không bằng một thấy."<br />
<br />
Lý Nguyên nói: "Chúng ta có thể ngồi thuyền xuống Kinh Châu, Hồ Bắc, luôn tiện xem cảnh non nước."<br />
<br />
Thiền sư trầm ngâm, lộ vẻ khó xử: "Tôi nghĩ mình nên dùng đường bộ tới Trường An, ngắn hơn đi đường thủy."<br />
<br />
Lý Nguyên phản đối: "Không xong! Trường An tôi có rất nhiều kẻ quen biết. Vì tôi không muốn làm quan, nên nếu đi ngang đó e sẽ gặp rất nhiều kẻ quen, chỉ thêm phiền hà." Thế rồi hai người ý kiến bất đồng không giải quyết được, nên mãi sáu tháng sau mới quyết định sẽ đi đường thủy.<br />
<br />
Vào ngày lên đường, Thiền sư gọi chú thị giả Liễu Tịnh vào phòng, giao cho một bức thư, nói rằng: "Ðây là bức thư thầy viết cho Lý cư sĩ. Khi Lý cư sĩ về lại chùa, con hãy trao tận tay bức thư này giùm ta." Liễu Tịnh vô cùng ngạc nhiên không biết thầy mình vì sao không lập tức trao thư, phải nhờ mình đợi Lý Nguyên trở về mới giao. Song không dám trái lời, Liễu Tịnh chỉ biết cất thư, chờ đợi.<br />
<br />
Thế rồi hai người lên đường, ngày đi đêm nghỉ, hết cởi ngựa lại sang thuyền. Cứ thế tiêu dao tự tại, hân thưởng sơn thanh thủy tú, thật vô cùng khoái lạc. Bửa chiều nọ khi con thuyền ngang qua huyện Nam Phủ để trọ đêm, họ chợt thấy một phụ nhân từ ngôi nhà ven sông bước ra, men tới bờ sông để múc nước. Vừa nhìn thấy thiếu phụ, bước đi chậm chạp vì đang hoài thai, thiền sư Viên Trạch đã lộ vẻ bàng hoàng, loạng choạng thối lùi, tay vịn vách thuyền để khỏi té ngã.<br />
<br />
Lý Nguyên vội hỏi: "Trạch công! Ngài thân thể có gì bất an chăng?"<br />
<br />
Thiền sư chỉ thở dài: "Tôi...tôi... Chẳng phải tôi thân thể bất an, mà là... mà là..." Nói đến đây, thiền sư từ từ ngồi xuống. Ngài trầm ngâm giây lát, mới thở dài, nói tiếp: "Hà! Chỉ nghĩ tới lúc chúng ta phải vĩnh biệt, lòng tôi thật đau buồn."<br />
<br />
Lý Nguyên hỏi: "Trạch công! Sao ngài lại nói lời bất tường như vậy!"<br />
<br />
Thiền sư lắc đầu mà nói rằng: "Lý cư sĩ! Ngài có thấy vị thiếu phụ kia chăng? Nguyên lai là tôi phải đi đầu thai làm con bà thiếu phụ kia đó..."<br />
<br />
Lý Nguyên thảng thốt: "A! Ngài nói thật sao?"<br />
<br />
Thiền sư gật đầu, tiếp rằng: "Ðúng vậy! Nhưng vì tôi không muốn đi đầu thai quá sớm nên thiếu phụ ấy hoài thai đã lâu mà vẫn chưa thể sinh con. Trước kia tôi tính không đi đường thủy, chỉ vì muốn tránh mặt bà ấy. Ngờ đâu nhân duyên, nghiệp quả thật không thể tránh né được. Bây giờ, đã gặp mặt, thấy bà ấy vất vả với bào thai như vậy, tôi làm sao có thể ích kỷ chỉ nghĩ đến mình, rồi ỷ vào năng lực thiền định để cưỡng lại nghiệp lực?"<br />
<br />
Lý Nguyên bật khóc: "Phải chi, thầy sớm nói rõ, chúng ta sẽ không đi đường thủy, và sẽ không gặp bà này, và..."<br />
<br />
Thiền sư an ủi: "Thật chẳng ai có thể đổi thay định nghiêp! Dầu tôi muốn tránh cũng không được. Bây giờ anh hãy giúp tôi lo liệu chuyện hậu sự vậy. Sau ba ngày nữa anh hãy tới nhà thiếu phụ ấy thăm tôi. Khi gặp anh tôi sẽ mỉm cười để chứng minh. Sau đó mười ba năm, vào đêm trung thu anh hãy tới phía sau chùa Thiên Trúc ở Hàng Châu để gặp tôi."<br />
<br />
Lý Nguyên chỉ đành gạt lệ, chẳng biết nói sao cho phải.<br />
<br />
Ðêm ấy, thiền sư tắm rửa sặch sẽ, mặc y áo chỉnh tề, chính thân đoan tọa, cáo biệt Lý Nguyên rồi an nhiên nhắm mắt, nhập định thị tịch. Sáng lại Lý Nguyên cho người đi lo liệu hậu sự, đồng thời thông tin cho đệ tử, tín đồ. Ðến ngày thứ ba thì Lý Nguyên mới một mình đi tìm tới nhà thiếu phụ nọ. Khi tới nơi, Lý Nguyên được người nhà cho biết là bà ta đã sinh vào hai đêm trước rồi. Song có điều lạ, họ nói rằng, cháu bé sinh ra đã hơn hai ngày nay, khóc lóc không ngừng. Lý Nguyên mới đánh bạo nói rằng: "Tôi có phương pháp làm cho em ngừng khóc và mĩm cười, bà có thể cho tôi thăm em chăng?" Người nhà bèn dẫn Lý Nguyên vào. Khi em bé được mẹ bồng vào, em khóc lóc om sòm. Lý Nguyên hỏi em: "Trạch Công, phải chăng là ngài? Nếu là Trạch công, ngài hãy mỉm cười cho tôi biết." Chú bé dường như hiểu ý, lập tức mỉm cười, ngoắt tay, ra vẻ thân thiết vô cùng. Bấy giờ, Lý Nguyên tin chắc đây là hậu thân của thiền sư Viên Trạch rồi, nên chàng khóc oà lên, vui buồn lẫn lộn. Người mẹ ngạc nhiên vô ngần, hỏi Lý Nguyên vì sao anh khóc. Thế là chàng đem đầu đuôi tự sự kể lại cho bà và người trong gia đình nghe. Ai cũng động tâm kinh ngạc. Chàng nói: "Tôi hiện trú tại chùa Huệ Lâm, Lạc Dương. Hy vọng về sau chúng ta giữ mối liên lạc. Tôi nhất định sẽ tới thăm chú bé thường xuyên." Nói xong, chàng cáo từ.<br />
<br />
Trở về bến đò lo liệu lễ hỏa táng cho thiền sư Viên Trạch xong, Lý Nguyên quyết định lập tức quay về Lạc Dương. Khi Liễu Tịnh mở cửa chùa, thấy Lý Nguyên, chú ngạc nhiên lắm, không hiểu chuyện gì đã xảy ra, sao chẳng thấy sư phụ cùng về. Lý Nguyên bèn kể lại những diễn biến vừa qua. Bấy giờ Liễu Tịnh mới ngậm lệ nói rằng: "Trước khi ra đi sư phụ có để lại bức thư cho Lý cư sĩ đấy. Ðể tôi lấy cho anh coi!" Nói rồi Liễu Tịnh vào thư phòng lấy ra một phong thư. Lý Nguyên, quỳ xuống, trang trọng nhận lấy thư. Thư ấy viết:<br />
<br />
Kì quân nhẫn khổ, vật ưu quyến,<br />
Thù nghiệp luân hồi vô khả diên,<br />
Duyên kết tam sinh tình vị liễu,<br />
Ðãi tùng tha tuế, thoại tiền duyên.<br />
<br />
Ý thơ là: Xin bạn nhẫn khổ, chớ lo lắng quyến luyến. Nghiệp đã tạo ra trong luân hồi, giờ đây tôi phải trả, chẳng thể trì hoãn kéo dài đặng. Song tình bạn giữa chúng ta trong ba đời vẫn chưa dứt hết. Thôi hãy chờ. Tương lai có dịp mình sẽ hàn huyên chuyện cũ, duyên xưa.<br />
<br />
Tạm dịch:<br />
<br />
Nhẫn khổ mong ai thôi bịn rịn,<br />
Luân hồi nghiệp thúc lẽ nào quên,<br />
Ba đời gắn bó dây bền chặt,<br />
Xin hẹn ngày sau kể túc duyên. (1)<br />
Ðọc xong thư, Lý Nguyên không thể tự kềm đôi hàng lệ tuôn trào. Nguyên lai Trạch công đã biết trước chuyện này. Nếu ta biết được việc này là thế, ắt ta không đi đường thủy làm gì.<br />
<br />
Mấy tháng sau, vào một ngày thu lá rụng, mưa rơi, Lý Nguyên nhận được một lá thư từ thiếu phụ ở Nam Phủ. Song khi xem thư xong lòng chàng sửng sốt: Em bé mà Thiền sư Viên Trạch đầu thai đã qua đời. Lý Nguyên suy nghĩ: "Nếu Trạch công ở tại Nam Phủ thì cớ gì lại muốn ta tới Chùa Thiên Trúc tương kiến. Nguyên lai là Trạch công đã sớm tiên tri đến đời thứ ba của ngài rồi. Ðó phải chăng là ý nghĩa của câu: Duyên kết tam sinh tình vị liễu." Lý Nguyên im lặng đứng bên song cửa, trầm ngâm về ý nghĩa của nhân sinh, về đời Trạch công, về nghiệp duyên của mình...<br />
<br />
Thế rồi thời gian thắm thoát thoi đưa. Chớp mắt đã mười ba năm. Lý Nguyên giờ đây thân tuy vẫn trú ngụ tại chùa Huệ Lâm song nét người đã khác với năm xưa. Sức trai tráng, tinh anh lúc mới vào chùa, giờ đây đã nhường lại cho tóc hoa râm, gậy trúc đỡ chân. Song mối tình đạo khắng khít với Trạch công vẫn như xưa. Gần tới ngày tết Trung Thu năm ấy, Lý Nguyên nôn nao chuẩn bị ngựa xe lên đường, nhắm hướng Tây Hồ ở Hàng Châu.<br />
<br />
Nghi rằng Trạch công nhất định phải đầu thai ở vùng phụ cận chùa Thiên Trúc, Lý Nguyên bèn đi khắp các nơi quanh chùa để dọ tin, song chàng chẳng tìm được tin tức gì. Cuối cùng, đúng như lời Trạch công phú chúc, chàng tới phía sau chùa chờ đợi. Chàng tìm thấy một con lạch nước chảy quanh co, hai bên cây cối u nhã. Hoàng hôn lẹ làng buông xuống trùm phủ khắp nơi...<br />
<br />
Một chặp sau, ánh trăng rằm đêm Trung Thu từ từ vươn ra khỏi ven núi, thăng lên giữa trời, soi sáng bốn bề. Nhưng Lý Nguyên nào còn lòng dạ để ngắm trăng? Bụng dạ chàng cứ nao nao, bồn chồn: "Không biết Trạch công có nhớ lời hứa chăng? Với râu tóc, mặt mày biến đổi theo tuế nguyệt của ta, Ngài có nhận ra ta chăng?" Cảm thấy chỗ ngồi của mình không phải dễ dàng để kẻ khác thấy, Lý Nguyên bèn rảo bước tìm một tảng đá cực lớn, rồi leo lên đứng trên ấy, chờ đợi.<br />
<br />
Chẳng bao lâu, tiếng bước chân lao xao vang lại từ bên kia con lạch. Nhìn kỹ, Lý Nguyên thấy một em bé diện mạo đoan chính, thanh thản tự tại, cỡi lưng trâu, từ từ tiến tới. Tràn ngập xúc động, Lý Nguyên lắp bắp: "Phải chăng là Trạch..." Chàng chưa dứt lời, em bé miệng mỉm cười, thong thả ngâm lên bài thơ rằng:<br />
<br />
Tam sinh thạch thượng cựu tinh hồn,<br />
Thưởng nguyệt ngâm phong mạc yếu luận,<br />
Tàm quý tình nhân viễn tương phỏng,<br />
Thử thân tuy dị tánh trường tồn.<br />
<br />
Ý thơ là: Lý Nguyên, kẻ đang đứng trên hòn đá ấy là bạn cũ trong ba đời của ta. Song chúng ta chớ nói chuyện ngắm trăng, ngâm thơ, đàm luận làm gì. Ta thật hổ thẹn để người bạn thân thương từ xa đến thăm viếng. Thân ta tuy đã đổi thay song bản tánh Phật của ta thì còn mãi mãi.<br />
<br />
Tạm dịch:<br />
　<br />
Ba đời trên đá khổ công rèn,<br />
Vịnh gió ngâm trăng gác lại bên,<br />
Thẹn lòng đối bạn từ xa viếng,<br />
Thân dẫu khác xưa tánh vẫn nguyên. (2)<br />
Biết chắc là Trạch công, Lý Nguyên mừng rỡ xúc động: "Ðúng là Trạch công! Trạch công..."<br />
<br />
Chú bé thong dong tiếp lời: Lý cư sĩ! Ngài thật là giữ đúng chữ tín! Lý cư sĩ! Ðường của ngài và của tôi thì khác nhau lắm. Duyên đời của ngài vẫn còn chưa hết. Nếu ngài tiếp tục tu hành, không đọa lạc vào tam ác đạo thì tương lai chúng ta sẽ còn hội ngộ.<br />
<br />
Lý Nguyên ngỡ ngàng: "A! Trạch công, nói thế, phải chăng ngài chẳng có ý về chùa Huệ Lâm?"<br />
<br />
Chú bé mỉm cười: "Lý cư sĩ! Nhân duyên trên đời hễ có họp thì phải có tan. Có hoa nào nở rồi chẳng tàn, lá mọc mà chẳng rụng, cuộc họp mặt chẳng tan? Buồn đau quyến luyến nào có ích gì."<br />
<br />
Nói rồi, chú bé vỗ lưng trâu, mà rằng: "Ði thôi trâu! Lý cư sĩ! Xin ngài hãy nhớ lời tôi nhé: tiếp tục tu hành, đừng đọa vào ba ác đạo thì tương lai chúng ta sẽ lại tương kiến."<br />
<br />
Thế rồi chú cỡi trâu thong thả quay đầu bước về hướng mà trâu đã tới. Chú bé từ từ nhè nhẹ cất lên lời ngâm thơ êm ả:<br />
<br />
Thân tiền thân hậu sự mang mang,<br />
Dục thoại nhân duyên khủng đoạn trường,<br />
Ngô Việt tam xuyên tầm dĩ biến,<br />
Khước hồi yên trạo thướng Cù Đường.<br />
<br />
<br />
Thân tiền . . . . .<br />
<br />
Ý thơ là: Ðời trước và kiếp sau mọi chuyện thật là mênh mang mịt mùng. Muốn nói hết nhân duyên mọi chuyện nhưng sợ rằng bạn sẽ đau buồn đứt ruột. Núi này song nọ tôi đã tìm hết thảy, nhưng chỉ có trở về nơi nhà đây mới thấy nó (Phật tánh).<br />
<br />
Tạm dịch:<br />
<br />
Thân trước thân sau sự mịt mùng<br />
Muốn nói nhân duyên sợ điếng lòng<br />
Ngô Việt núi sông tìm đã khắp<br />
Khua chèo trở lại đến Cù Ðường. (3)<br />
<br />
Thân trước ... <br />
<br />
<br />
Lý Nguyên đứng lặng như trời trồng, chẳng biết phải phản ứng ra sao. Chàng tự nghĩ cuộc hội ngộ hôm nay lẽ nào ngắn ngủi đến thế. Mình phải mời cho được Trạch công về lại chùa cũ để hàn huyên tâm sự... Ðến khi bóng trâu và em bé từ khuất lần sau lùm cây, chàng mới giật mình choàng tỉnh. Hốt hoảng chàng kêu lên: Trạch công! Trạch công! . . . Rồi cố gắng hết sức mình, chàng vội vã leo xuống tảng đá. Hớt hãi vì sợ không đuổi theo kịp Trạch công, chàng hấp tấp bước ngang qua lạch. Trong lúc cấp bách, chàng vất chân, té nhoài xuống lạch. Cố gắng đứng dậy, toàn thân ướt đẩm, phải khó khăn lắm chàng mới lê bước qua được con lạch. Bấy giờ đưa mắt nhìn quanh, chỉ thấy dưới ánh trăng rằm, mọi nơi yên lặng như tờ. Tiếng côn trùng gọi réo về đêm vang vọng bốn bề. Nhưng đâu là bóng dáng Trạch công? Bất giác hai hàng lệ tuôn dài trên má Lý Nguyên.<br />
<br />
Lý Nguyên về sau trở lại chùa Huệ Lâm tiếp tục tu hành. Hai năm sau quan ngự sử là Lý Ðức Dục tấu biểu rằng Lý Nguyên là người trung hậu, chí hiếu, đạo đức, thỉnh vua phong quan trọng dụng. Bấy giờ Ðường Mục Tông nghe tấu bèn phong Lý Nguyên chức Gián Nghị đại phu, song chàng cương quyết thối từ. Chàng tiếp tục tu hành tinh tấn ở chùa, giúp đỡ giáo hóa bạn đạo hiểu rõ ý nghĩa nhân quả. Chàng cảm nhận sâu xa sức mạnh vô biên của nghiệp, và nổi hiểm nghèo sống và lưu chuyển trong cõi Ta Bà này. Thật chẳng có gì cấp bách hơn thành tâm niệm Phật, cầu sinh Tịnh độ, để vĩnh thoát luân hồi.<br />
<br />
　<br />
<br />
Ghi chú:<br />
<br />
(1) và (2): Bản dịch thơ của Đạo Hữu Nguyên Minh<br />
<br />
(3):  Bản dịch thơ trong Cao Tăng Dị Truyện bài 47. ẨN SỸ LÝ NGUYÊN  Thăm TỲ KHEO Viên Trạch]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Mật ngôn]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1511.html</link>
			<pubDate>Thu, 18 Apr 2013 07:14:59 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=635">Đông Mai</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1511.html</guid>
			<description><![CDATA[...............]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[...............]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Lặng cùng Vycam - Hàn Tuyết]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1475.html</link>
			<pubDate>Thu, 28 Feb 2013 13:38:31 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=491">Hồ Yên Dung</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1475.html</guid>
			<description><![CDATA[<span style="font-size: large;" class="mycode_size">Lặng</span><br />
<br />
Gió thở dài sau ngõ<br />
Nắng đi đâu biệt tăm<br />
Khói quơ ngang nét cọ<br />
Phác vệt buồn xa xăm<br />
<br />
Tách trà dường nhạt vị<br />
Luễnh loãng rồi hương sen<br />
Bâng khuâng dòng suy nghĩ<br />
Vu vơ... Ừ, thói quen...<br />
<br />
Bản romance rất khẽ<br />
Rụng từng giọt guitar<br />
Ký ức vừa như thể<br />
Buông rơi... chợt vỡ oà<br />
<br />
Gót mùa men lối vắng<br />
Vẹt mòn bậc heo may<br />
Hoải hoang chiều thinh lặng<br />
Quên<br />
Nhớ...<br />
Một bàn tay!<br />
<br />
<a href="http://traimuadong.blogspot.com/" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Vycam</a><br />
<br />
Có đôi khi lòng chợt nổi cơn giông tố, và sấm sét, và mưa sa... và nỗi buồn nặng trĩu cứ đè nặng trong tâm hồn. Ta chỉ muốn co lại trong cái vỏ ốc tự kỷ của riêng mình, và ta cô độc, ta âu sầu, ta để những suy nghĩ buồn rầu cứ ám ảnh, ta mệt mỏi đến độ thấy cuộc sống chẳng còn một ý nghĩa gì nữa cả...<br />
<br />
Bạn lẩn quẩn bên ta. Lặng yên. Chờ đợi. Rồi bạn nhỏ nhẻ:<br />
<br />
_ Nắng đã lên chưa nè?<br />
<br />
_ Nắng đã lên rồi, nhưng lòng còn u ám lắm...<br />
<br />
<br />
Lang thang vào lúc cái cảm xúc buồn buồn vẫn chưa tan ấy, tôi đã gặp Lặng ở thư phòng của Vycam. Tôi gọi nơi ấy là thư phòng vì ở đó có cái giá vẽ cùng những bức tranh thanh thoát, có cung đàn ngẩn ngơ bao nỗi niềm tâm sự, có ấm trà ngan ngát hương sen đang tỏa lan, có nữ chủ nhân văn phong tao nhã lạ thường...<br />
<br />
<br />
"Lặng" như tan vào trong tôi, nhẹ nhàng như khi tôi hít một hơi dài làn hương sen từ ấm trà đang nghi ngút kia:<br />
<br />
"Gió thở dài sau ngõ<br />
Nắng đi đâu biệt tăm<br />
Khói quơ ngang nét cọ<br />
Phác vệt buồn xa xăm"<br />
<br />
Khổ thơ đầu với 4 câu năm chữ, cũng là khổ tôi thích nhất, cuốn hút tôi ngay từ giây phút đầu tiên. Ngắn thôi, nhưng đọc lên lại cứ miên man như một tiếng thở dài hoài mong trong một buổi chiều xám màu u tịch. Điều tôi thích nhất là, không nhắc đến thời gian, nhưng buổi chiều đã xuất hiện. Không hề có những từ ngữ diễn tả niềm mong đợi, nhưng vẫn hiển hiện lên tâm sự chờ trông. "Gió thở dài sau ngõ", nào đâu phải gió thở dài, là tiếng thở dài u hoài trong lòng người đó thôi. U hoài vì lặng lẽ chờ trông. Lặng lẽ vì gió ở "sau ngõ", chứ không ngang qua trước ngõ. Không gian "sau ngõ" làm ta liên tưởng đến sự lặng lẽ, đến nỗi lòng thầm kín. Ở câu thơ đầu, chỉ thấy được sự u hoài lặng thầm qua tiếng thở dài, đến câu thơ thứ hai thì sự mong đợi và thời gian buổi chiều đã được thể hiện, "Nắng đi đâu biệt tăm". Nắng xuất hiện đầu ngày, nhưng đến giờ vẫn thấy "biệt tăm", có chờ mong mới để ý đến sự vắng mặt của "nắng", và chờ lâu nên mới có thể nói là "biệt tăm", có thể hiểu là "chiều rồi" vậy. Cách nói "Nắng đi đâu biệt tăm" nghe như một câu hỏi, như một băn khoăn, nhưng lại không có dấu chấm hỏi, lại thấy như một câu nói bâng quơ. Bâng quơ như thể đang che giấu nỗi chờ mong lặng thầm trong lòng. Sự bâng quơ, hờ hững còn thể hiện ở câu thơ tiếp theo: "Khói quơ ngang nét cọ", chỉ là nét cọ "quơ ngang" thôi, nét cọ vẽ buổi chiều xám, màu xám của khói, màu xám của nỗi buồn trong lòng, nên mới "Phác vệt buồn xa xăm" làm vậy.<br />
<br />
Sự ơ hờ tiếp tục được thể hiện ở khổ thơ thứ hai, với "tách trà nhạt vị", với "lễnh loãng hương sen", với cách tự bào chữa: "Vu vơ... Ừ, thói quen..."<br />
<br />
Trong không gian chiều lặng lờ, trong dòng suy nghĩ vu vơ theo "thói quen" ấy, âm nhạc xuất hiện. Âm nhạc là những giọt guitar "rụng" xuống, "rất khẽ". Thứ âm nhạc đó không phá tan cái không gian trầm mặc kia, mà làm không gian ấy như sâu lắng hơn bởi những giọt khẽ khàng của bản Romance nhẹ như sương "rụng" vào chiều, "rụng" vào lòng, chạm vào ký ức, để rồi:<br />
<br />
 "Ký ức vừa như thể<br />
Buông rơi... chợt vỡ oà"<br />
<br />
Có lẽ đến lúc này, cảm xúc hoài nhớ, mong đợi lặng thầm trong chiều vắng đã dâng lên đến đỉnh điểm rồi chăng?<br />
<br />
Ở khổ thơ cuối, tôi như cảm nhận được một niềm đau. <br />
<br />
"Gót mùa men lối vắng<br />
Vẹt mòn bậc heo may<br />
Hoải hoang chiều thinh lặng<br />
Quên<br />
Nhớ...<br />
Một bàn tay!"<br />
<br />
 "Gót mùa", một cách ví von, nhân hóa rất thơ, rất duyên. "Vẹt mòn" thì lại như một vết cứa vào tim, như vết cứa vào miền ký ức. Để buổi chiều dù thinh lặng nhưng lại đầy nỗi niềm hoang hoải trong lòng người. Và, "hoải hoang", chứ không là "hoang hoải". "hoang hoải" được đảo thành "hoải hoang" nâng mức độ cảm xúc lên một bậc rất xa! Đọc "hoang hoải", nghe âm điệu bình thường, nghe nhẹ nhẹ, nhạt nhạt, còn đọc "hoải hoang" với âm trắc trước âm bằng sau, câu thơ vang lên ấn tượng, nhạc tính cao trào hơn. Với lối đảo từ này, câu thơ thể hiện cái cảm xúc được mãnh liệt hơn, nỗi lòng như cồn cào hơn, như rối bời hơn, nỗi niềm hoang hoải, vì thế, nó ...hoải hoang hơn! Vycam ngắt dòng câu thơ cuối, tạo nên một điểm nhấn đặc biệt để kết bài. <br />
<br />
"Quên<br />
Nhớ...<br />
Một bàn tay!"<br />
<br />
"Quên", là lòng cố quên, muốn quên, vờ quên, tự dối mình rằng quên, nhưng ... (xuống dòng)... vẫn cứ "Nhớ...". Nhớ gì? "Một bàn tay!" Ồ, thì ra, chỉ nhớ một bàn tay thôi. Hẳn cái bàn tay ấy đặc biệt lắm, vì là bàn tay của một người đặc biệt nè, bàn tay ấy hình như bất kỳ nữ nhi nào cũng phải có một lần xao xuyến để rồi nhớ mãi...<br />
<br />
Cảm ơn Vycam, bởi những vần thơ và cảm xúc nhẹ nhàng quá đỗi của nàng, trong một khoảnh khắc đã gột tan ưu phiền trong lòng ta, để nỗi niềm của ta từ đây, nếu có chăng, sẽ chỉ là những phút giây "lặng" nhẹ nhàng như thế mà thôi.<img src="https://duytuan2002.github.io/mybbscr/1.gif" alt="happy" title="happy" class="smilie smilie_281" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span style="font-size: large;" class="mycode_size">Lặng</span><br />
<br />
Gió thở dài sau ngõ<br />
Nắng đi đâu biệt tăm<br />
Khói quơ ngang nét cọ<br />
Phác vệt buồn xa xăm<br />
<br />
Tách trà dường nhạt vị<br />
Luễnh loãng rồi hương sen<br />
Bâng khuâng dòng suy nghĩ<br />
Vu vơ... Ừ, thói quen...<br />
<br />
Bản romance rất khẽ<br />
Rụng từng giọt guitar<br />
Ký ức vừa như thể<br />
Buông rơi... chợt vỡ oà<br />
<br />
Gót mùa men lối vắng<br />
Vẹt mòn bậc heo may<br />
Hoải hoang chiều thinh lặng<br />
Quên<br />
Nhớ...<br />
Một bàn tay!<br />
<br />
<a href="http://traimuadong.blogspot.com/" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Vycam</a><br />
<br />
Có đôi khi lòng chợt nổi cơn giông tố, và sấm sét, và mưa sa... và nỗi buồn nặng trĩu cứ đè nặng trong tâm hồn. Ta chỉ muốn co lại trong cái vỏ ốc tự kỷ của riêng mình, và ta cô độc, ta âu sầu, ta để những suy nghĩ buồn rầu cứ ám ảnh, ta mệt mỏi đến độ thấy cuộc sống chẳng còn một ý nghĩa gì nữa cả...<br />
<br />
Bạn lẩn quẩn bên ta. Lặng yên. Chờ đợi. Rồi bạn nhỏ nhẻ:<br />
<br />
_ Nắng đã lên chưa nè?<br />
<br />
_ Nắng đã lên rồi, nhưng lòng còn u ám lắm...<br />
<br />
<br />
Lang thang vào lúc cái cảm xúc buồn buồn vẫn chưa tan ấy, tôi đã gặp Lặng ở thư phòng của Vycam. Tôi gọi nơi ấy là thư phòng vì ở đó có cái giá vẽ cùng những bức tranh thanh thoát, có cung đàn ngẩn ngơ bao nỗi niềm tâm sự, có ấm trà ngan ngát hương sen đang tỏa lan, có nữ chủ nhân văn phong tao nhã lạ thường...<br />
<br />
<br />
"Lặng" như tan vào trong tôi, nhẹ nhàng như khi tôi hít một hơi dài làn hương sen từ ấm trà đang nghi ngút kia:<br />
<br />
"Gió thở dài sau ngõ<br />
Nắng đi đâu biệt tăm<br />
Khói quơ ngang nét cọ<br />
Phác vệt buồn xa xăm"<br />
<br />
Khổ thơ đầu với 4 câu năm chữ, cũng là khổ tôi thích nhất, cuốn hút tôi ngay từ giây phút đầu tiên. Ngắn thôi, nhưng đọc lên lại cứ miên man như một tiếng thở dài hoài mong trong một buổi chiều xám màu u tịch. Điều tôi thích nhất là, không nhắc đến thời gian, nhưng buổi chiều đã xuất hiện. Không hề có những từ ngữ diễn tả niềm mong đợi, nhưng vẫn hiển hiện lên tâm sự chờ trông. "Gió thở dài sau ngõ", nào đâu phải gió thở dài, là tiếng thở dài u hoài trong lòng người đó thôi. U hoài vì lặng lẽ chờ trông. Lặng lẽ vì gió ở "sau ngõ", chứ không ngang qua trước ngõ. Không gian "sau ngõ" làm ta liên tưởng đến sự lặng lẽ, đến nỗi lòng thầm kín. Ở câu thơ đầu, chỉ thấy được sự u hoài lặng thầm qua tiếng thở dài, đến câu thơ thứ hai thì sự mong đợi và thời gian buổi chiều đã được thể hiện, "Nắng đi đâu biệt tăm". Nắng xuất hiện đầu ngày, nhưng đến giờ vẫn thấy "biệt tăm", có chờ mong mới để ý đến sự vắng mặt của "nắng", và chờ lâu nên mới có thể nói là "biệt tăm", có thể hiểu là "chiều rồi" vậy. Cách nói "Nắng đi đâu biệt tăm" nghe như một câu hỏi, như một băn khoăn, nhưng lại không có dấu chấm hỏi, lại thấy như một câu nói bâng quơ. Bâng quơ như thể đang che giấu nỗi chờ mong lặng thầm trong lòng. Sự bâng quơ, hờ hững còn thể hiện ở câu thơ tiếp theo: "Khói quơ ngang nét cọ", chỉ là nét cọ "quơ ngang" thôi, nét cọ vẽ buổi chiều xám, màu xám của khói, màu xám của nỗi buồn trong lòng, nên mới "Phác vệt buồn xa xăm" làm vậy.<br />
<br />
Sự ơ hờ tiếp tục được thể hiện ở khổ thơ thứ hai, với "tách trà nhạt vị", với "lễnh loãng hương sen", với cách tự bào chữa: "Vu vơ... Ừ, thói quen..."<br />
<br />
Trong không gian chiều lặng lờ, trong dòng suy nghĩ vu vơ theo "thói quen" ấy, âm nhạc xuất hiện. Âm nhạc là những giọt guitar "rụng" xuống, "rất khẽ". Thứ âm nhạc đó không phá tan cái không gian trầm mặc kia, mà làm không gian ấy như sâu lắng hơn bởi những giọt khẽ khàng của bản Romance nhẹ như sương "rụng" vào chiều, "rụng" vào lòng, chạm vào ký ức, để rồi:<br />
<br />
 "Ký ức vừa như thể<br />
Buông rơi... chợt vỡ oà"<br />
<br />
Có lẽ đến lúc này, cảm xúc hoài nhớ, mong đợi lặng thầm trong chiều vắng đã dâng lên đến đỉnh điểm rồi chăng?<br />
<br />
Ở khổ thơ cuối, tôi như cảm nhận được một niềm đau. <br />
<br />
"Gót mùa men lối vắng<br />
Vẹt mòn bậc heo may<br />
Hoải hoang chiều thinh lặng<br />
Quên<br />
Nhớ...<br />
Một bàn tay!"<br />
<br />
 "Gót mùa", một cách ví von, nhân hóa rất thơ, rất duyên. "Vẹt mòn" thì lại như một vết cứa vào tim, như vết cứa vào miền ký ức. Để buổi chiều dù thinh lặng nhưng lại đầy nỗi niềm hoang hoải trong lòng người. Và, "hoải hoang", chứ không là "hoang hoải". "hoang hoải" được đảo thành "hoải hoang" nâng mức độ cảm xúc lên một bậc rất xa! Đọc "hoang hoải", nghe âm điệu bình thường, nghe nhẹ nhẹ, nhạt nhạt, còn đọc "hoải hoang" với âm trắc trước âm bằng sau, câu thơ vang lên ấn tượng, nhạc tính cao trào hơn. Với lối đảo từ này, câu thơ thể hiện cái cảm xúc được mãnh liệt hơn, nỗi lòng như cồn cào hơn, như rối bời hơn, nỗi niềm hoang hoải, vì thế, nó ...hoải hoang hơn! Vycam ngắt dòng câu thơ cuối, tạo nên một điểm nhấn đặc biệt để kết bài. <br />
<br />
"Quên<br />
Nhớ...<br />
Một bàn tay!"<br />
<br />
"Quên", là lòng cố quên, muốn quên, vờ quên, tự dối mình rằng quên, nhưng ... (xuống dòng)... vẫn cứ "Nhớ...". Nhớ gì? "Một bàn tay!" Ồ, thì ra, chỉ nhớ một bàn tay thôi. Hẳn cái bàn tay ấy đặc biệt lắm, vì là bàn tay của một người đặc biệt nè, bàn tay ấy hình như bất kỳ nữ nhi nào cũng phải có một lần xao xuyến để rồi nhớ mãi...<br />
<br />
Cảm ơn Vycam, bởi những vần thơ và cảm xúc nhẹ nhàng quá đỗi của nàng, trong một khoảnh khắc đã gột tan ưu phiền trong lòng ta, để nỗi niềm của ta từ đây, nếu có chăng, sẽ chỉ là những phút giây "lặng" nhẹ nhàng như thế mà thôi.<img src="https://duytuan2002.github.io/mybbscr/1.gif" alt="happy" title="happy" class="smilie smilie_281" />]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Giải đáp bí mật ẩn trong bộ não thiên tài của Einstein]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1474.html</link>
			<pubDate>Wed, 27 Feb 2013 07:11:41 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=557">Phở</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1474.html</guid>
			<description><![CDATA[Thiên tài của Einstein vẫn là một ẩn số đối với các nhà khoa học, chính điều này đã kích thích trí tò mò của họ, thúc đẩy họ quyết tâm tìm lời giải trong bộ não của nhà khoa học lừng danh Albert Einstein.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Bộ não thiên tài khác thường</span><br />
Albert Einstein là một trong số rất ít nhân vật trong lịch sử, mà ngay khi còn sống đã trở thành một nhân vật huyền thoại. Tư tưởng của ông càng bí hiểm, người đời càng muốn hiểu và tư tưởng giống như tiếng nói của chúa từ đỉnh núi Olympia vọng xuống trần gian. Bertrand Russel đã nhận xét rất đúng: “Ai cũng biết Einstein đã làm được những chuyện kỳ lạ, nhưng rất ít người hiểu đó là chuyện gì”.<br />
Mặc dù nhận xét đó không hoàn toàn đúng, thế giới này chỉ có chừng một tá người hiểu trọn vẹn lý thuyết của Einstein về vũ trụ, thì những phát hiện do Einstein tìm ra đã thách thức hàng ngàn, hàng triệu người quyết tâm cố tìm hiểu xem nhà toán học phù thủy đó vì sao lại thiên tài đến vậy.<br />
Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng chất xám trong bộ não đã sản sinh ra một loạt đột phá khoa học, bao gồm cả Thuyết Tương Đối, các nhà nghiên cứu Canada đã đi đến kết luận: Bộ não của Einstein thật sự khác lạ. Đặc biệt, họ đã phát hiện thấy phần não liên quan đến việc lập luận toán học rộng hơn 15% so với bình thường và không bị phân chia bằng nếp gấp như vẫn thường thấy trong não của người bình thường.<br />
Bộ não của Einstein là một mẫu vật rất có giá trị đối với giới nghiên cứu bởi Einstein vốn có năng lực suy nghĩ hết sức siêu phàm. Não của ông có hình dạng rất tuyệt khi ông không còn dùng đến nó (lúc ông qua đời). Cái chết đột ngột do bị phình tắc động mạch chủ bụng đã được Einstein dự báo trước nên ông đã viết một bức thư để lại.<br />
Trong đó ông có nguyện vọng để lại bộ não của mình cho các nhà khoa học nghiên cứu. Bởi vậy, trong vòng 7 giờ sau khi Einstein mất, não của ông đã được lấy ra khỏi hộp sọ. Để tránh bị hư hỏng, nó đã được tiêm thuốc bảo quản và đặt lơ lửng trong Formalin.<br />
Sau đó, bộ não của ông được đo đạc, chụp ảnh và cắt nhỏ thành 240 khối nhỏ, mỗi khối có kích thước như một thỏi đường. Các khối này được ngâm trong celloidin và một số đã được cắt thành những phần nhỏ hơn để xét nghiệm bằng kính hiển vi.<br />
Ngay chính Einstein cũng nhận thấy bộ não của ông rất đặc biệt, nhất là khi ông dùng đến nó. Thậm chí, Einstein còn cố gắng giúp cho các nhà khoa học đồng nghiệp làm sáng tỏ bí ẩn này bằng cách đồng ý xét nghiệm điện não để ghi lại hoạt động sóng não của mình. Ông cũng chấp nhận tham gia vào các cuộc phỏng vấn về quá trình hoạt động nghiên cứu của mình.<br />
Cách giải thích của ông nghe hết sức lạ thường. Có lần Einstein nói: “Chữ viết không hề quan trọng với ông, những gì bộ não ông lập trình nên là các hình ảnh rõ nét về một phát minh nào đó”. Nhờ đó, nhóm các nhà nghiên cứu đại học McMaster dường như đã khám phá ra bí ẩn bộ não của thiên tài Einstein.<br />
Bà Witelson, nhà khoa học thuộc trường đại học McMaster đã dành hàng năm trời nghiên cứu các bộ não thông thường, kể cả những bộ não của những người đần độn lẫn thông minh. Bà Witelson đã lấy bộ não của vị thiên tài tột đỉnh này so sánh với những bộ não thông thường. Nhưng lần so sánh đầu tiên đã gặp thất bại bởi không có bất kỳ khác biệt nào giữa bộ não thường và bộ não thiên tài.<br />
Bà Witelson nói: “Giải phẫu thể đại não của Einstein nằm trong các giới hạn bình thường, trừ các thùy đỉnh. Sự nhận thức về thị giác và không gian, sự hình thành lập luận toán học và sự tưởng tượng về chuyển động đều được thực hiện chủ yếu thông qua trung gian là vùng đỉnh sau bên phải và bên trái”.<br />
Trong não Einstein, các vùng này rộng hơn 15% so với bình thường và đang có khuynh hướng mất dần đi một cấu trúc gấp được tìm thấy trong não của tất cả những người bình thường như chúng ta. Phát hiện này hoàn toàn không có gì đáng ngạc nhiên. Các nhà nghiên cứu trước đây cũng đã nhìn thấy những vùng não lớn ra, tương tự như vậy. Bà Witelson cho biết: “Trong não của nhà toán học Gauss và nhà vật lý học Siljestrom cũng thấy có sự phát triển rộng ra của các vùng đỉnh dưới”.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Kết quả nghiên cứu</span><br />
Xét nghiệm của nhóm nghiên cứu Witelson không trả lời câu hỏi sâu hơn về việc liệu sự phát triển của các phần đặc biệt trong não có thể có liên quan đến sự thông minh hay không. Xét nghiệm này cũng không giải thích vùng não này đã lớn ra như thế nào. Bước kế tiếp các nhà nghiên cứu sẽ tiến hành là xét nghiệm các nhà toán học tình nguyện, những người này sẽ làm toán trong khi được chụp PET (chụp tia X cắt lớp).<br />
Được dùng chủ yếu trong các phòng thí nghiệm nghiên cứu, các máy chụp cắt lớp PET tạo ra các hình ảnh cho thấy phần nào của não làm việc khi đối tượng thí nghiệm đang làm các công việc khác nhau. Kỹ thuật này đã từng được dùng đến để xác định các phần nào của não có liên quan khi chúng ta nhìn, nói hay suy nghĩ. Nếu như vùng đỉnh sau phát triển cực mạnh hơn bình thường ở những người có tài năng toán học thì hình hiển thị của máy chụp PET sẽ sáng rực lên như cây thông Noel mắc nhiều đèn.<br />
Nếu lập luận của các nhà khoa học là đúng thì họ có thể rút ra kết luận: Một số người khi mới sinh ra đã có bộ não được điều chỉnh phù hợp với toán học. Ngày càng có nhiều chứng cứ cho thấy, các trải nghiệm thời thơ ấu có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của não bộ. Ví dụ như, những đứa bé bị bệnh đục nhân mắt bẩm sinh có thể sẽ bị mù lòa nếu như bệnh không được chữa ngay. Các tế bào liên quan đến việc phân giải hình ảnh nhìn thấy, ở một mức độ nào đó, đơn giản là bị chết dần đi. Não của trẻ em cũng được “lập trình” để học cách hiểu nhiều ngôn ngữ, miễn là chúng được dạy khi chúng còn rất nhỏ.<br />
Khi chúng đến tuổi trung học, các mối liên hệ thần kinh cho phép học nhanh các ngôn ngữ đã mất đi lâu rồi. Vì trường hợp trên là đã được xác nhận nên có lẽ người ta sẽ tìm thấy được chìa khóa để trở thành thiên tài trong thời thơ ấu và các trải nghiệm cũng như các kích thích mà trẻ trải qua.<br />
Còn nhà nhân chủng học Dean Falk thuộc trường đại học bang Florida sau quá trình nghiên cứu đã đi đến kết luận: “Kích thước và hình dạng tổng thể của bộ não Einstein hoàn toàn bình thường. Tuy nhiên, điều làm nên sự khác biệt của bộ não phi thường này chính là khu vực cảm giác ở vỏ não trước, vỏ vận động sơ cấp, đỉnh não, thùy thái dương và thùy chẩm”.<br />
Sau khi nhà bác học người Mỹ gốc Đức – Do thái Einstein qua đời vào năm 1955, bộ não của ông đã được giữ lại và chụp chiếu dưới nhiều góc cạnh. Điều đáng tiếc rằng không nhiều trong số những bức ảnh quan trọng đó còn được lưu giữ đến ngày nay. Tuy nhiên, có 14 bức ảnh chụp lại não bộ của Einstein gần đây đã được Bảo tàng quốc gia Thuốc và Sức khỏe ở Silver Spring, Maryland công bố như một trong những đóng góp quan trọng đối với lịch sử nhân loại.<br />
Sau khi cắt não thành 240 phần, người ta đã chụp lại những bức ảnh, nhưng thật đáng tiếc, một số bức ảnh chụp những khu vực khác của não bộ đã thất lạc và bí ẩn thực sự sau cấu trúc bộ não thiên tài này vẫn còn để ngỏ cho chúng ta.<br />
Mặc dù vậy, phát hiện quan trọng này cũng sẽ mở ra một hướng mới cho những ai có mối quan tâm tới lĩnh vực nghiên cứu so sánh cấu trúc cũng như phản xạ trong hoạt động não bộ của những người có khả năng tư duy và nhận thức đặc biệt.<br />
(Discovery)]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Thiên tài của Einstein vẫn là một ẩn số đối với các nhà khoa học, chính điều này đã kích thích trí tò mò của họ, thúc đẩy họ quyết tâm tìm lời giải trong bộ não của nhà khoa học lừng danh Albert Einstein.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Bộ não thiên tài khác thường</span><br />
Albert Einstein là một trong số rất ít nhân vật trong lịch sử, mà ngay khi còn sống đã trở thành một nhân vật huyền thoại. Tư tưởng của ông càng bí hiểm, người đời càng muốn hiểu và tư tưởng giống như tiếng nói của chúa từ đỉnh núi Olympia vọng xuống trần gian. Bertrand Russel đã nhận xét rất đúng: “Ai cũng biết Einstein đã làm được những chuyện kỳ lạ, nhưng rất ít người hiểu đó là chuyện gì”.<br />
Mặc dù nhận xét đó không hoàn toàn đúng, thế giới này chỉ có chừng một tá người hiểu trọn vẹn lý thuyết của Einstein về vũ trụ, thì những phát hiện do Einstein tìm ra đã thách thức hàng ngàn, hàng triệu người quyết tâm cố tìm hiểu xem nhà toán học phù thủy đó vì sao lại thiên tài đến vậy.<br />
Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng chất xám trong bộ não đã sản sinh ra một loạt đột phá khoa học, bao gồm cả Thuyết Tương Đối, các nhà nghiên cứu Canada đã đi đến kết luận: Bộ não của Einstein thật sự khác lạ. Đặc biệt, họ đã phát hiện thấy phần não liên quan đến việc lập luận toán học rộng hơn 15% so với bình thường và không bị phân chia bằng nếp gấp như vẫn thường thấy trong não của người bình thường.<br />
Bộ não của Einstein là một mẫu vật rất có giá trị đối với giới nghiên cứu bởi Einstein vốn có năng lực suy nghĩ hết sức siêu phàm. Não của ông có hình dạng rất tuyệt khi ông không còn dùng đến nó (lúc ông qua đời). Cái chết đột ngột do bị phình tắc động mạch chủ bụng đã được Einstein dự báo trước nên ông đã viết một bức thư để lại.<br />
Trong đó ông có nguyện vọng để lại bộ não của mình cho các nhà khoa học nghiên cứu. Bởi vậy, trong vòng 7 giờ sau khi Einstein mất, não của ông đã được lấy ra khỏi hộp sọ. Để tránh bị hư hỏng, nó đã được tiêm thuốc bảo quản và đặt lơ lửng trong Formalin.<br />
Sau đó, bộ não của ông được đo đạc, chụp ảnh và cắt nhỏ thành 240 khối nhỏ, mỗi khối có kích thước như một thỏi đường. Các khối này được ngâm trong celloidin và một số đã được cắt thành những phần nhỏ hơn để xét nghiệm bằng kính hiển vi.<br />
Ngay chính Einstein cũng nhận thấy bộ não của ông rất đặc biệt, nhất là khi ông dùng đến nó. Thậm chí, Einstein còn cố gắng giúp cho các nhà khoa học đồng nghiệp làm sáng tỏ bí ẩn này bằng cách đồng ý xét nghiệm điện não để ghi lại hoạt động sóng não của mình. Ông cũng chấp nhận tham gia vào các cuộc phỏng vấn về quá trình hoạt động nghiên cứu của mình.<br />
Cách giải thích của ông nghe hết sức lạ thường. Có lần Einstein nói: “Chữ viết không hề quan trọng với ông, những gì bộ não ông lập trình nên là các hình ảnh rõ nét về một phát minh nào đó”. Nhờ đó, nhóm các nhà nghiên cứu đại học McMaster dường như đã khám phá ra bí ẩn bộ não của thiên tài Einstein.<br />
Bà Witelson, nhà khoa học thuộc trường đại học McMaster đã dành hàng năm trời nghiên cứu các bộ não thông thường, kể cả những bộ não của những người đần độn lẫn thông minh. Bà Witelson đã lấy bộ não của vị thiên tài tột đỉnh này so sánh với những bộ não thông thường. Nhưng lần so sánh đầu tiên đã gặp thất bại bởi không có bất kỳ khác biệt nào giữa bộ não thường và bộ não thiên tài.<br />
Bà Witelson nói: “Giải phẫu thể đại não của Einstein nằm trong các giới hạn bình thường, trừ các thùy đỉnh. Sự nhận thức về thị giác và không gian, sự hình thành lập luận toán học và sự tưởng tượng về chuyển động đều được thực hiện chủ yếu thông qua trung gian là vùng đỉnh sau bên phải và bên trái”.<br />
Trong não Einstein, các vùng này rộng hơn 15% so với bình thường và đang có khuynh hướng mất dần đi một cấu trúc gấp được tìm thấy trong não của tất cả những người bình thường như chúng ta. Phát hiện này hoàn toàn không có gì đáng ngạc nhiên. Các nhà nghiên cứu trước đây cũng đã nhìn thấy những vùng não lớn ra, tương tự như vậy. Bà Witelson cho biết: “Trong não của nhà toán học Gauss và nhà vật lý học Siljestrom cũng thấy có sự phát triển rộng ra của các vùng đỉnh dưới”.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Kết quả nghiên cứu</span><br />
Xét nghiệm của nhóm nghiên cứu Witelson không trả lời câu hỏi sâu hơn về việc liệu sự phát triển của các phần đặc biệt trong não có thể có liên quan đến sự thông minh hay không. Xét nghiệm này cũng không giải thích vùng não này đã lớn ra như thế nào. Bước kế tiếp các nhà nghiên cứu sẽ tiến hành là xét nghiệm các nhà toán học tình nguyện, những người này sẽ làm toán trong khi được chụp PET (chụp tia X cắt lớp).<br />
Được dùng chủ yếu trong các phòng thí nghiệm nghiên cứu, các máy chụp cắt lớp PET tạo ra các hình ảnh cho thấy phần nào của não làm việc khi đối tượng thí nghiệm đang làm các công việc khác nhau. Kỹ thuật này đã từng được dùng đến để xác định các phần nào của não có liên quan khi chúng ta nhìn, nói hay suy nghĩ. Nếu như vùng đỉnh sau phát triển cực mạnh hơn bình thường ở những người có tài năng toán học thì hình hiển thị của máy chụp PET sẽ sáng rực lên như cây thông Noel mắc nhiều đèn.<br />
Nếu lập luận của các nhà khoa học là đúng thì họ có thể rút ra kết luận: Một số người khi mới sinh ra đã có bộ não được điều chỉnh phù hợp với toán học. Ngày càng có nhiều chứng cứ cho thấy, các trải nghiệm thời thơ ấu có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của não bộ. Ví dụ như, những đứa bé bị bệnh đục nhân mắt bẩm sinh có thể sẽ bị mù lòa nếu như bệnh không được chữa ngay. Các tế bào liên quan đến việc phân giải hình ảnh nhìn thấy, ở một mức độ nào đó, đơn giản là bị chết dần đi. Não của trẻ em cũng được “lập trình” để học cách hiểu nhiều ngôn ngữ, miễn là chúng được dạy khi chúng còn rất nhỏ.<br />
Khi chúng đến tuổi trung học, các mối liên hệ thần kinh cho phép học nhanh các ngôn ngữ đã mất đi lâu rồi. Vì trường hợp trên là đã được xác nhận nên có lẽ người ta sẽ tìm thấy được chìa khóa để trở thành thiên tài trong thời thơ ấu và các trải nghiệm cũng như các kích thích mà trẻ trải qua.<br />
Còn nhà nhân chủng học Dean Falk thuộc trường đại học bang Florida sau quá trình nghiên cứu đã đi đến kết luận: “Kích thước và hình dạng tổng thể của bộ não Einstein hoàn toàn bình thường. Tuy nhiên, điều làm nên sự khác biệt của bộ não phi thường này chính là khu vực cảm giác ở vỏ não trước, vỏ vận động sơ cấp, đỉnh não, thùy thái dương và thùy chẩm”.<br />
Sau khi nhà bác học người Mỹ gốc Đức – Do thái Einstein qua đời vào năm 1955, bộ não của ông đã được giữ lại và chụp chiếu dưới nhiều góc cạnh. Điều đáng tiếc rằng không nhiều trong số những bức ảnh quan trọng đó còn được lưu giữ đến ngày nay. Tuy nhiên, có 14 bức ảnh chụp lại não bộ của Einstein gần đây đã được Bảo tàng quốc gia Thuốc và Sức khỏe ở Silver Spring, Maryland công bố như một trong những đóng góp quan trọng đối với lịch sử nhân loại.<br />
Sau khi cắt não thành 240 phần, người ta đã chụp lại những bức ảnh, nhưng thật đáng tiếc, một số bức ảnh chụp những khu vực khác của não bộ đã thất lạc và bí ẩn thực sự sau cấu trúc bộ não thiên tài này vẫn còn để ngỏ cho chúng ta.<br />
Mặc dù vậy, phát hiện quan trọng này cũng sẽ mở ra một hướng mới cho những ai có mối quan tâm tới lĩnh vực nghiên cứu so sánh cấu trúc cũng như phản xạ trong hoạt động não bộ của những người có khả năng tư duy và nhận thức đặc biệt.<br />
(Discovery)]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Bài thơ kỳ lạ , một bài thơ với 8 cách đọc khác nhau đều hay.]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1301.html</link>
			<pubDate>Sun, 25 Nov 2012 17:59:36 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=628">PhongKhánh</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1301.html</guid>
			<description><![CDATA[THẬT THÚ VỊ! BÀI THƠ CÓ ĐẾN 8 CÁCH ĐỌC KHÁC NHAU!<br />
(Bài thơ được cho là của thi sĩ Hàn Mặc Tử):<br />
<br />
1. Đọc xuôi:<br />
<br />
"Ta mến cảnh xuân ánh sáng ngời<br />
Thú vui thơ rượu chén đầy vơi<br />
Hoa cài giậu trúc cành xanh biếc<br />
Lá quyện hương xuân sắc thắm tươi<br />
Qua lại khách chờ sông lặng sóng<br />
Ngược xuôi thuyền đợi bến đông người<br />
Xa ngân tiếng hát đàn trầm bổng<br />
Tha thướt bóng ai mắt mỉm cười."<br />
<br />
2. Đọc ngược:<br />
<br />
"Cười mỉm mắt ai bóng thướt tha<br />
Bổng trầm đàn hát tiếng ngân xa<br />
Người đông bến đợi thuyền xuôi ngược<br />
Sóng lặng sông chờ khách lại qua<br />
Tươi thắm sắc xuân hương quyện lá<br />
Biếc xanh cành trúc giậu cài hoa<br />
Vơi đầy chén rượu thơ vui thú<br />
Ngời sáng ánh xuân cảnh mến ta."<br />
<br />
3. Bỏ hai chữ đầu mỗi câu trong bài gốc:<br />
<br />
"Cảnh xuân ánh sáng ngời<br />
Thơ rượu chén đầy vơi<br />
Giậu trúc cành xanh biếc<br />
Hương xuân sắc thắm tươi<br />
Khách chờ sông lặng sóng<br />
Thuyền đợi bến đông người<br />
Tiếng hát đàn trầm bổng<br />
Bóng ai mắt mỉm cười."<br />
<br />
4. Bỏ hai chữ cuối mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên<br />
<br />
"Mắt ai bóng thướt tha<br />
Đàn hát tiếng ngân xa<br />
Bến đợi thuyền xuôi ngược<br />
Sông chờ khách lại qua<br />
Sắc xuân hương quyện lá<br />
Cành trúc giậu cài hoa<br />
Chén rượu thơ vui thú<br />
Ánh xuân cảnh mến ta."<br />
<br />
5. Bỏ ba chữ cuối mỗi câu trong bài gốc:<br />
<br />
"Ta mến cảnh xuân<br />
Thú vui thơ rượu<br />
Hoa cài giậu trúc<br />
Lá quyện hương xuân<br />
Qua lại khách chờ<br />
Ngược xuôi thuyền đợi<br />
Xa ngân tiếng hát<br />
Tha thướt bóng ai."<br />
<br />
6. Bỏ ba chữ đầu mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên:<br />
<br />
"Cười mỉm mắt ai<br />
Bổng trầm đàn hát<br />
Người đông bến đợi<br />
Sóng lặng sông chờ<br />
Tươi thắm sắc xuân<br />
Biếc xanh cành trúc<br />
Vơi đầy chén rượu<br />
Ngời sáng ánh xuân."<br />
<br />
7. Bỏ bốn chữ đầu mỗi câu trong bài gốc:<br />
<br />
"Ánh sáng ngời<br />
Chén đầy vơi<br />
Cành xanh biếc<br />
Sắc thắm tươi<br />
Sông lặng sóng<br />
Bến đông người<br />
Đàn trầm bổng<br />
Mắt mỉm cười."<br />
<br />
8. Bỏ bốn chữ cuối mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên:<br />
<br />
"Bóng thướt tha<br />
Tiếng ngân xa<br />
Thuyền xuôi ngược<br />
Khách lại qua<br />
Hương quyện lá<br />
Giậu cài hoa<br />
Thơ vui thú<br />
Cảnh mến ta."]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[THẬT THÚ VỊ! BÀI THƠ CÓ ĐẾN 8 CÁCH ĐỌC KHÁC NHAU!<br />
(Bài thơ được cho là của thi sĩ Hàn Mặc Tử):<br />
<br />
1. Đọc xuôi:<br />
<br />
"Ta mến cảnh xuân ánh sáng ngời<br />
Thú vui thơ rượu chén đầy vơi<br />
Hoa cài giậu trúc cành xanh biếc<br />
Lá quyện hương xuân sắc thắm tươi<br />
Qua lại khách chờ sông lặng sóng<br />
Ngược xuôi thuyền đợi bến đông người<br />
Xa ngân tiếng hát đàn trầm bổng<br />
Tha thướt bóng ai mắt mỉm cười."<br />
<br />
2. Đọc ngược:<br />
<br />
"Cười mỉm mắt ai bóng thướt tha<br />
Bổng trầm đàn hát tiếng ngân xa<br />
Người đông bến đợi thuyền xuôi ngược<br />
Sóng lặng sông chờ khách lại qua<br />
Tươi thắm sắc xuân hương quyện lá<br />
Biếc xanh cành trúc giậu cài hoa<br />
Vơi đầy chén rượu thơ vui thú<br />
Ngời sáng ánh xuân cảnh mến ta."<br />
<br />
3. Bỏ hai chữ đầu mỗi câu trong bài gốc:<br />
<br />
"Cảnh xuân ánh sáng ngời<br />
Thơ rượu chén đầy vơi<br />
Giậu trúc cành xanh biếc<br />
Hương xuân sắc thắm tươi<br />
Khách chờ sông lặng sóng<br />
Thuyền đợi bến đông người<br />
Tiếng hát đàn trầm bổng<br />
Bóng ai mắt mỉm cười."<br />
<br />
4. Bỏ hai chữ cuối mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên<br />
<br />
"Mắt ai bóng thướt tha<br />
Đàn hát tiếng ngân xa<br />
Bến đợi thuyền xuôi ngược<br />
Sông chờ khách lại qua<br />
Sắc xuân hương quyện lá<br />
Cành trúc giậu cài hoa<br />
Chén rượu thơ vui thú<br />
Ánh xuân cảnh mến ta."<br />
<br />
5. Bỏ ba chữ cuối mỗi câu trong bài gốc:<br />
<br />
"Ta mến cảnh xuân<br />
Thú vui thơ rượu<br />
Hoa cài giậu trúc<br />
Lá quyện hương xuân<br />
Qua lại khách chờ<br />
Ngược xuôi thuyền đợi<br />
Xa ngân tiếng hát<br />
Tha thướt bóng ai."<br />
<br />
6. Bỏ ba chữ đầu mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên:<br />
<br />
"Cười mỉm mắt ai<br />
Bổng trầm đàn hát<br />
Người đông bến đợi<br />
Sóng lặng sông chờ<br />
Tươi thắm sắc xuân<br />
Biếc xanh cành trúc<br />
Vơi đầy chén rượu<br />
Ngời sáng ánh xuân."<br />
<br />
7. Bỏ bốn chữ đầu mỗi câu trong bài gốc:<br />
<br />
"Ánh sáng ngời<br />
Chén đầy vơi<br />
Cành xanh biếc<br />
Sắc thắm tươi<br />
Sông lặng sóng<br />
Bến đông người<br />
Đàn trầm bổng<br />
Mắt mỉm cười."<br />
<br />
8. Bỏ bốn chữ cuối mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên:<br />
<br />
"Bóng thướt tha<br />
Tiếng ngân xa<br />
Thuyền xuôi ngược<br />
Khách lại qua<br />
Hương quyện lá<br />
Giậu cài hoa<br />
Thơ vui thú<br />
Cảnh mến ta."]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Lời cuối bình yên - Krishnamurty]]></title>
			<link>https://thiamlau.com/forum/thread-1299.html</link>
			<pubDate>Sat, 24 Nov 2012 16:02:52 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://thiamlau.com/forum/member.php?action=profile&uid=69">hvn</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://thiamlau.com/forum/thread-1299.html</guid>
			<description><![CDATA[<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Lời cuối bình yên</span></span><br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">J.Krishnamurty</span></span></div>
<br />
<br />
Thung lũng Ojai, California<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Ngày thứ sáu, 25 tháng 2 năm 1983 </span><br />
<br />
Ngày lại ngày suốt mấy tuần liền, chúng tôi tìm đến ven sông ngắm một cội cây vào lúc vầng dương sắp mọc. Đang khi vầng hồng dần ló dạng cuối chân trời, nhô lên từ những tàng cây, thì đột nhiên cội cây hy hữu kia rực ánh hoàng kim. <br />
<br />
Muôn lá sáng ngời tràn sức sống. Tên tuổi của cây biết để làm gì, điều đáng quan tâm chính là cội cây tráng lệ ấy, đang khi ngắm nó, thời khắc trôi qua, từng giờ trôi dạt. Một hương vị nhiệm mầu như đang lan tỏa khắp không gian, khắp cõi đất, bảng lảng khắp sông nước. <br />
<br />
Rồi đương khi mặt trời vươn lên cao tí nữa, lá cây bắt đầu cựa mình, nhảy múa. Mỗi giờ, mỗi khắc như cống hiến cho cây một ý vị riêng biệt. Trước buổi rạng đông, ở cây là niềm cô tịch, lặng lẽ, xa xăm, trầm tĩnh. Rồi khi vào ngày, muôn lá cưỡi ánh sáng trên lưng nhảy múa, tạo cho cây một dáng dấp tân kỳ của muôn muôn vẻ đẹp. Đến xế trưa, tàng cây rũ bóng in đậm nét, ta có thể ngồi tránh nắng, làm bạn cùng cây, chẳng khi nào cảm thấy lẻ loi, cô độc. <br />
<br />
Đương khi ngồi, thời ở đó có ra mối tương liên an toàn sâu chắc, một niềm tự tại thanh thoát chỉ có riêng loài cây thấu hiểu. <br />
<br />
Đợi khi về chiều, khi ánh tà dương sắp tắt, ửng sáng cõi trời phương tây, cây cũng bắt đầu trở nên u mặc, nhá nhem màu xám, quy hồi khép cửa tự thân. Bầu trời pha sắc đỏ, vàng, xanh, nhưng cây vẫn điềm nhiên lặng lẽ, ẩn dật, bắt đầu cuộc ngơi nghỉ cho đêm. Nếu thiết lập được liên hệ với nó, tức thời ta có liên hệ với nhân loại. Ta bấy giờ có trách nhiệm với cội cây kia, cùng tất cả muôn loài thảo mộc trên thế giới.<br />
<br />
Nhưng nếu không có quan hệ với các loài sinh vật trên trái đất, ta có thể cũng đã đánh mất mối quan hệ sẵn có của mình với nhân loại, với con người. Hẳn ta chưa từng nhìn sâu vào bản chất của cây; chưa hề thực sự rờ nó, cảm nhận sự rắn chắc của nó, cái vỏ xù xì, và nghe ra thanh âm thần thể của cây. Không phải thanh âm của gió chen kẽ lá, không phải thanh âm của làn gió ban mai thoảng đưa đọt lá, mà chính là thanh âm tự thể, thanh âm của thân cây và thanh âm tịch diệt của rễ cây cội gốc. <br />
<br />
Ta phải cực kỳ nhạy cảm mới có thể nghe ra thanh âm như thế. Đó là thanh âm vốn dĩ không phải là tiếng ồn ào nhân thế, không phải tiếng ồn của tâm trí không ngừng nói nhảm, không phải tiếng nguyền rủa tục tằn của loài người tranh cãi, của loài người ấu đả sinh sát. Mà đó chính là âm thanh thể thân của vũ trụ. <br />
<br />
Kể cũng lạ rằng ta có quan hệ quá èo uột với thiên nhiên, với lũ côn trùng, với con cóc nhái, với con cú hú gọi đàn vang vọng khắp lũng đồi. Ta dường như không hề có chút cảm thương đến mọi loài sống trên trái đất. Nếu ta có thể bắc lại được nhịp cầu cảm thông sâu chắc với thiên nhiên, ta sẽ không bao giờ giết một con thú vì miếng ăn ngon miệng, sẽ không bao giờ làm thương tổn, mổ xẻ thí nghiệm, một con khỉ, một con chó, một con heo vì lợi lộc của mình. Ta sẽ tìm phương chữa bệnh cách khác, để trị lành thân thể ốm đau. <br />
<br />
Nhưng sự bình phục tâm trí lại hoàn toàn nằm ở lãnh vực khác. Cuộc hồi sinh ấy xảy ra nếu ta có quan hệ với thiên nhiên, với quả cam trên cành, với bụi cỏ mọc hoang từ kẽ nứt sân gạch, và với những lũng đồi ẩn khuất trong những tầng mây phủ. Đây không phải là những cảm xúc nhất thời, hoặc tưởng tư lãng mạng; đây là thực chất của mối tương quan với muôn loài hiện đang sống, đi lẫn đứng trên trái đất này.<br />
<br />
Loài người đã giết biết bao triệu con cá mập, và vẫn đang tiếp tục giết chúng. Những lợi lộc mang lại từ cuộc sát hại kia vẫn có thể kiếm được bằng những phương tiện sinh sống khác. Nhưng rõ ràng là con người ưa sát hại muôn loài, nào là con nai linh hoạt, con voi bệ vệ, và con hưu cao cổ chon von. Tính ta thích giết nhau. Cuộc chém giết tương tàn chưa hề có phút giây ngừng nghỉ dọc dài suốt lịch sử nhân loại.<br />
<br />
Nếu ta có thể, và ta phải khẩn thiết, thiết lập cho được nhịp cầu quan hệ sâu chắc với thiên nhiên, với cội cây trước mặt, với bụi, với hoa, với cỏ, và với đám mây bay cuồn cuộn, thể thời ta sẽ không bao giờ sát hại bất kỳ một ai vì bất cứ lý do gì. <br />
<br />
Sát sanh có tổ chức là chiến tranh, và dù ta có biểu tình chống cuộc chiến tranh nào đó, nguyên tử, hoặc bất kỳ cuộc chiến tranh nào khác. Ta chưa từng biểu tình chống chiến tranh toàn diện. Ta chưa từng bao giờ tuyên bố rằng giết người là tội lỗi lớn nhất thế gian. <br />
<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Thứ hai, ngày 28 tháng 2, năm 1983 </span><br />
<br />
Ở trên cao độ 41 ngàn bộ, dọc dài suốt chuyến bay xuyên lục địa, nhìn xuống ta chỉ thấy những tuyết cùng tuyết, dặm dặm tuyết tuyết; từ núi sang đồi, khắp nơi tuyết phủ, sông nước băng băng. <br />
<br />
Tuyết lững thững, tuyết lang thang khắp cùng cõi đất. Tận phía trời xa, dưới vùng xa xăm của chốn, tuyết và băng phủ ngập ruộng đồng. Chuyến bay mười một giờ liền dài và mệt mỏi. Hành khách đang tán gẫu giết thì giờ. Sau lưng có một cặp nói năng không ngớt, không buồn đếm xỉa đến cảnh huy hoàng tráng lệ của những đồi cùng núi hy hữu kia, không màng ngó lui trông qua người khác. <br />
<br />
Hiển nhiên họ đang chìm đắm trong những suy tính, trong những lo âu và trong những lời lăng xăng lít xít. Cuối cùng, sau chuyến bay tẻ nhạt, an ổn, ta đáp xuống một thị trấn cạnh bờ Thái Bình Dương, giữa tiết đông hàn quạnh quẽ. Trải qua những giây phút nơi phố xá ồn ào náo nhiệt, ta bỏ lại sau lưng cái thành phố thô phù, đông đúc, tục tằn, gầm thét, cùng những dãy hàng phố quán bán những thứ đồ kiểu cọ như nhau. <br />
<br />
Ta bỏ tất cả những thứ đó lại sau lưng đương khi ta đảo dọc theo con đường xa lộ uốn quanh lưng bờ Thái Bình Dương xanh ngát, rẽ vào một con lộ nên thơ, lượn vòng qua những lũng đồi, lại được bao phen tái ngộ chạm chân ven bể; <br />
<br />
Và khi Thái Bình Dương chìm khuất phía sau, thì xa xa phía trước ẩn hiện đó đây quanh đồi nhấp nhô cao thấp là những làng mạc ruộng vườn, thanh bình, yên tịnh, tràn đầy đức hạnh diệu kỳ của hương quê; vượt qua chốn đó thời cuối đường là tiến vào thung lũng. <br />
<br />
Từng trú ngụ ở đó có đến sáu mươi năm, vậy mà mỗi lần trở lại thung lũng, là mỗi lần sững sờ kinh ngạc. Nó lặng lẽ như chưa từng tiếp giáp thế nhân. <br />
<br />
Ta bước vào thung lũng như vào trong một cái chén vành khổng lồ, một tổ chim. Rời khu làng nhỏ, ta tiến dần lên độ cao khoảng 1 ngàn 4 trăm bộ, dọc theo đường là hàng hàng lớp lớp dẫy cam vườn tược. Không gian tẩm ngát hương cam. <br />
<br />
Toàn vùng thung lũng thấm đượm mùi hương. Hương len vào tim, ngập cả hồn, phủ khắp châu thân. Sống giữa vùng hương hoa như thế, kéo dài có hơn ba tuần lễ, gây nên một cảm nhận vô cùng hy hữu. Và cảnh tịch nhiên nơi các dãy núi có ra một điều trọng vọng. <br />
<br />
Mỗi lần đứng ngắm những dãy đồi, ngọn núi cao, có hơn 6 ngàn bộ, là mỗi lần ta cứ mãi sững sờ không ngờ trên dương gian lại có ra chốn quê hương như thế. <br />
<br />
Mỗi lần ta đến với thung lũng lặng lẽ, thanh bình này, dường như ở đấy có một niềm cô liêu rất lạ, một niềm tịch lặng thẳm sâu cùng sự lan tràn cùng khắp của sóng thời gian ngưng nghỉ. <br />
<br />
Người ta đã từng bao phen tìm cách khai thác, hủy hoại thung lũng, nhưng nó đã được bảo tồn. Và những ngọn núi vào buổi sáng hôm ấy sao mà đẹp lạ. Ta gần như có thể chạm vào thân nó được. <br />
<br />
Cái nét hùng vĩ, cái hồn vĩnh cữu như đang trú ngụ trong chúng. Rồi ta lặng lẽ bước vào căn nhà ta đã từng ở đó hơn sáu mươi năm qua, cái khung cảnh, cái bầu khí, chứa đựng, nếu ta có thể dùng đến chữ, thánh thiện; Ta có thể cảm nhận được nó. Ta có thể gần như chạm vào thân nó. <br />
<br />
Trời đang ở mùa mưa, trong vùng mưa nhiều, nên tất cả các ngọn đồi và trên những lõm núi cỏ mọc phủ xanh tươi, tràn đầy, sung mãn -- trái đất nở nụ cười ý vị, với một vài thâm cảm như nhiên về cuộc tồn sinh hiện hữu của chính nó. <br />
<br />
"Ngài đã bao lần nói rằng tâm trí, hoặc nếu ưng ý thì dùng chữ, trí óc, cần phải yên tịnh, cần phải trút bỏ tự thân toàn bộ tri kiến hay kiến thức tích tập bấy lâu, <br />
<br />
Chẳng những là nhằm giải thoát mà còn để nhìn nhận ra một sự kiện không thuộc thời gian, hay tư tưởng, hay bất kỳ phạm trù hành động nào. <br />
<br />
Ngài đã diễn nói điều này dưới nhiều cung cách khác nhau trong hầu hết các buổi thuyết giảng, và tôi đã cảm thấy vô cùng khó khăn, chẳng những trên phương diện lãnh hội chiều sâu của vấn đề, mà còn khốn đốn luôn trong việc cảm nhận cái rỗng rang tịch lặng, nếu tôi có thể dùng chữ ấy. <br />
<br />
Tôi chưa từng bản thân thể nhập điều đó. Tôi đã dùng mọi cách để tâm trí ngừng vọng động, không để bị xâm chiếm hết chuyện này đến chuyện khác, chính sự choáng ngập này đã tạo ra muôn vấn đề nan giải. Sống ở đời, khó ai thoát khỏi nó. Đời sống hàng ngày của chúng ta là như thế: buồn tẻ, chuyện trò đổi trao trong gia đình, và nếu không nói chuyện với nhau thì đã có ti-vi, sách báo choáng chỗ. Tâm trí dường như lúc nào cũng đòi hỏi phải được lấp đầy, bận bịu hết chuyện này sang chuyện khác, hết tri kiến này đến kiến giải nọ, hết tác tạo này sang tạo tác khác với dòng tư tưởng chuyển xoay không ngừng nghỉ." <br />
<br />
"Như đã nói rõ, tư tưởng không thể bị chận đứng bởi nỗ lực ức chế, bởi sự cương quyết của ý chí, hoặc bởi dục vọng sục sôi muốn thể nhập cái trạng thái rỗng rang tịch lặng." <br />
<br />
"Tôi chợt thấy mình cay đắng não nề cho cái mà tôi nghĩ, tôi cảm được, là thực, cái mà tôi muốn có, nhưng bấy nay cứ mãi vuột khỏi tầm tay. <br />
<br />
Tôi đã đến, như bao lần đã đến, để được hầu truyện cùng ngài: tại sao trong đời sống hàng ngày của tôi, trong cuộc mưu sinh thường nhật của tôi, đã không có sự ổn định, sự tồn tại lâu dài của tịch lặng? Tại sao nó không có trong đời sống của tôi? Tôi đã bao lần tự hỏi tôi phải làm gì đây? Rồi tôi cũng nhận ra rằng tôi khó có thể cục cựa gì được, hoặc nói cho chính xác hơn hết là tôi hoàn toàn chẳng làm gì được cả. Nhưng nó cứ đeo theo trù yếm. Tôi muốn yên mà nó chẳng buông tha. Phải chi cho tôi được một lần chứng nhập, thời kinh nghiệm đó cũng đủ dưỡng nuôi tôi, thời ức niệm đó sẽ mang lại nhiều ý vị cho cuộc đời vốn dĩ xiết bao là bạc bẽo.<br />
<br />
Thế nên tôi tìm đến để xin hiểu: tại sao cái tâm trí này -- có lẽ tốt hơn là nên dùng chữ khối óc -- cứ mãi luôn đòi hỏi là nó lúc nào cũng phải luôn bận bịu?" <br />
<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Thứ ba, ngày 10 tháng 3, năm 1983 </span><br />
<br />
Bữa hôm đó, đang khi đi dạo trên con đường rừng hẻo lánh, xa tiếng ồn, xa nền văn minh tàn nhẫn, gian trá, tục tằn, xa tất cả những gì do thế nhân tạo tác, liền khi đó chợt có ra niềm tịch lặng vô biên, ấp ủ muôn loài, thành khẩn, diệu vợi và tràn đầy âm thanh của trái đất. <br />
<br />
Trong lúc lặng lẽ đi, tránh quấy rầy cảnh vật chung quanh, những bụi cỏ, lùm cây, những chú dế và những cánh chim, đột nhiên ở một khúc quẹo, có hai con thú rừng nho nhỏ đang gùn ghè cãi vả, đánh nhau trong cái thế giới tí hon của chúng. Một bên ra công đánh đuổi, một bên tìm phương đánh chiếm cái hang bé tí. Cuối cùng thì chủ hang keo này thắng cuộc, kẻ xâm lăng thất bại chạy mất. <br />
<br />
Lại có ra niềm tịch lặng, một niềm cô liêu thăm thẳm. Ngó lên, con đường vươn tới tận núi cao, bên lề thác nước róc rách thong dong đổ; một vẻ đẹp muôn ngàn, sang trọng vô biên, không phải thứ sang trọng bầy biện bởi loài người đầy ngạo mạn và rỗng tuếch. <br />
<br />
Con thú rừng nhỏ bé tự đồng hóa bản thân vào chỗ ở của nó nào khác chi loài người. <br />
<br />
Ta luôn tìm cách đồng hóa bản thân vào giống nòi, vào văn hóa, vào những gì ta tin cậy, vào những đấng thần bí, hoặc đấng cứu rỗi, hay đấng siêu phàm nào đó. Đồng hóa dường như đã biến thành tính tự nhiên của con người. Rất có thể ta đã bẩm thụ cái tính này từ con thú nhỏ bé kia. Ta tự hỏi tại sao lại có ra cái tâm khao khát, mong cầu được đồng hóa. Ta có thể hiểu và chấp nhận sự đồng hóa vào những nhu cầu vật dụng cá nhân cần thiết như: nơi cư ngụ, quần áo, thức ăn ...v...v... Nhưng ở nội tâm, cái thế giới ẩn sau da thịt, ta đã tìm cách đồng hóa thân phận vào quá khứ xa xưa, vào truyền thống, vào một hình ảnh kiêu kỳ lãng mạng nào đó, hoặc một thần tượng nổi tiếng đó đây. <br />
<br />
Đương nhiên, ở đồng hóa, trong đó có một cảm giác đảm bảo, an toàn, một cảm giác tùy thuộc và chiếm hữu. Nó tạo ra một cảm giác an ổn lớn lao. Và người ta sẵn sàng đón nhận an ổn dưới bất kỳ sắc áo ảo tưởng nào. Rõ ràng là, con người hiện đang cần rất nhiều ảo tưởng. <br />
<br />
Xa xa có tiếng cú gọi. Phía bên kia thung lũng vọng lại tiếng đáp khàn khàn. Trời còn tờ mờ sáng, tiếng náo nhiệt của ngày chưa trổi dậy, vạn vật còn lim dim. Có một thứ gì kỳ lạ, thánh thiện cuối chân trời nơi vầng dương trú ngụ. Có một lời nguyện, một tiếng kinh cầu đón buổi bình minh, đón tia nắng đầu lạ lùng vắng lặng. <br />
<br />
Buổi ban mai hôm ấy, cánh nắng như khép lại, không một làn gió thoảng, và cây trái, cây rừng, bụi cây, luống cỏ thì bất động, lặng yên, như mong đợi. <br />
<br />
Hẳn đang đợi chờ ánh dương lên. Rất có thể chừng nửa giờ nữa mặt trời mới mọc, và bình minh đang dần lan khắp cõi đất với sự bất động nhiệm mầu. <br />
<br />
Dần hồi, từ tốn, đỉnh núi càng lúc càng rực sáng, mặt trời đang chạm vào thân nó, vàng ửng, thanh tao, còn lớp tuyết thì trắng trong, vô nhiễm ánh buổi ngày. <br />
<br />
Đang khi lên núi, bỏ lại sau lưng những con đường làng li ti phía dưới, tiếng địa giới chuyển mình, tiếng dế, tiếng chim cút, hoà cùng tiếng của các loài chim khác bắt đầu cất tiếng hát chào mừng buổi bình minh, ngân nga vang hót, cử hành buổi lễ hội của ngày. Đương khi mặt trời mọc, ta là phần thể thân của ánh sáng ấy, và đã bỏ lại sau lưng tất cả những gì tư tưởng từng tạo dựng. Ta quên bẵng mất bản thân. Tâm thức trút giũ sạch trơn những phấn đấu và sầu hận. <br />
<br />
Đang lúc đi, lúc trèo, không lúc nào lại có cái cảm giác cách ngăn, không có ngay cả cái cảm giác là người. Lớp sương đục buổi mai đang tụ về thung lũng, và lớp sương đục đó chính là ta, càng lúc càng dầy đặc, càng lúc càng cuồng quay thành những phù phiếm, xa hoa, lãng mạng, thành những mơ hồ điên đảo của đời ta. <br />
<br />
Đường xuống núi mất một lúc khá lâu. Có tiếng thỏ thẻ của gió, tiếng rỉ rả của côn trùng, tiếng gọi đàn của chim muông. Xuống đến nơi thì lớp sương mù cũng đã tan. Nào là phố xá, quán hàng, cảnh lộng lẫy của buổi rạng đông đang biến đi mau chóng. Và ta bắt đầu trở lại với lối mòn thường nhật, kẹt cứng trong thói lề nghiệp nghề, trong tương tranh giữa người với người, trong chia rẽ của đồng hóa, tập đoàn, trong phân ranh của ý hệ, chủ nghĩa, trong mưu tính dự trù cho chiến chinh, trong niềm đau nội tại và trong bể khổ của loài người... <br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Trích từ "Krishnamurti to Himself, His Last Journal", bản dịch của Van Do</span>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Lời cuối bình yên</span></span><br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i">J.Krishnamurty</span></span></div>
<br />
<br />
Thung lũng Ojai, California<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Ngày thứ sáu, 25 tháng 2 năm 1983 </span><br />
<br />
Ngày lại ngày suốt mấy tuần liền, chúng tôi tìm đến ven sông ngắm một cội cây vào lúc vầng dương sắp mọc. Đang khi vầng hồng dần ló dạng cuối chân trời, nhô lên từ những tàng cây, thì đột nhiên cội cây hy hữu kia rực ánh hoàng kim. <br />
<br />
Muôn lá sáng ngời tràn sức sống. Tên tuổi của cây biết để làm gì, điều đáng quan tâm chính là cội cây tráng lệ ấy, đang khi ngắm nó, thời khắc trôi qua, từng giờ trôi dạt. Một hương vị nhiệm mầu như đang lan tỏa khắp không gian, khắp cõi đất, bảng lảng khắp sông nước. <br />
<br />
Rồi đương khi mặt trời vươn lên cao tí nữa, lá cây bắt đầu cựa mình, nhảy múa. Mỗi giờ, mỗi khắc như cống hiến cho cây một ý vị riêng biệt. Trước buổi rạng đông, ở cây là niềm cô tịch, lặng lẽ, xa xăm, trầm tĩnh. Rồi khi vào ngày, muôn lá cưỡi ánh sáng trên lưng nhảy múa, tạo cho cây một dáng dấp tân kỳ của muôn muôn vẻ đẹp. Đến xế trưa, tàng cây rũ bóng in đậm nét, ta có thể ngồi tránh nắng, làm bạn cùng cây, chẳng khi nào cảm thấy lẻ loi, cô độc. <br />
<br />
Đương khi ngồi, thời ở đó có ra mối tương liên an toàn sâu chắc, một niềm tự tại thanh thoát chỉ có riêng loài cây thấu hiểu. <br />
<br />
Đợi khi về chiều, khi ánh tà dương sắp tắt, ửng sáng cõi trời phương tây, cây cũng bắt đầu trở nên u mặc, nhá nhem màu xám, quy hồi khép cửa tự thân. Bầu trời pha sắc đỏ, vàng, xanh, nhưng cây vẫn điềm nhiên lặng lẽ, ẩn dật, bắt đầu cuộc ngơi nghỉ cho đêm. Nếu thiết lập được liên hệ với nó, tức thời ta có liên hệ với nhân loại. Ta bấy giờ có trách nhiệm với cội cây kia, cùng tất cả muôn loài thảo mộc trên thế giới.<br />
<br />
Nhưng nếu không có quan hệ với các loài sinh vật trên trái đất, ta có thể cũng đã đánh mất mối quan hệ sẵn có của mình với nhân loại, với con người. Hẳn ta chưa từng nhìn sâu vào bản chất của cây; chưa hề thực sự rờ nó, cảm nhận sự rắn chắc của nó, cái vỏ xù xì, và nghe ra thanh âm thần thể của cây. Không phải thanh âm của gió chen kẽ lá, không phải thanh âm của làn gió ban mai thoảng đưa đọt lá, mà chính là thanh âm tự thể, thanh âm của thân cây và thanh âm tịch diệt của rễ cây cội gốc. <br />
<br />
Ta phải cực kỳ nhạy cảm mới có thể nghe ra thanh âm như thế. Đó là thanh âm vốn dĩ không phải là tiếng ồn ào nhân thế, không phải tiếng ồn của tâm trí không ngừng nói nhảm, không phải tiếng nguyền rủa tục tằn của loài người tranh cãi, của loài người ấu đả sinh sát. Mà đó chính là âm thanh thể thân của vũ trụ. <br />
<br />
Kể cũng lạ rằng ta có quan hệ quá èo uột với thiên nhiên, với lũ côn trùng, với con cóc nhái, với con cú hú gọi đàn vang vọng khắp lũng đồi. Ta dường như không hề có chút cảm thương đến mọi loài sống trên trái đất. Nếu ta có thể bắc lại được nhịp cầu cảm thông sâu chắc với thiên nhiên, ta sẽ không bao giờ giết một con thú vì miếng ăn ngon miệng, sẽ không bao giờ làm thương tổn, mổ xẻ thí nghiệm, một con khỉ, một con chó, một con heo vì lợi lộc của mình. Ta sẽ tìm phương chữa bệnh cách khác, để trị lành thân thể ốm đau. <br />
<br />
Nhưng sự bình phục tâm trí lại hoàn toàn nằm ở lãnh vực khác. Cuộc hồi sinh ấy xảy ra nếu ta có quan hệ với thiên nhiên, với quả cam trên cành, với bụi cỏ mọc hoang từ kẽ nứt sân gạch, và với những lũng đồi ẩn khuất trong những tầng mây phủ. Đây không phải là những cảm xúc nhất thời, hoặc tưởng tư lãng mạng; đây là thực chất của mối tương quan với muôn loài hiện đang sống, đi lẫn đứng trên trái đất này.<br />
<br />
Loài người đã giết biết bao triệu con cá mập, và vẫn đang tiếp tục giết chúng. Những lợi lộc mang lại từ cuộc sát hại kia vẫn có thể kiếm được bằng những phương tiện sinh sống khác. Nhưng rõ ràng là con người ưa sát hại muôn loài, nào là con nai linh hoạt, con voi bệ vệ, và con hưu cao cổ chon von. Tính ta thích giết nhau. Cuộc chém giết tương tàn chưa hề có phút giây ngừng nghỉ dọc dài suốt lịch sử nhân loại.<br />
<br />
Nếu ta có thể, và ta phải khẩn thiết, thiết lập cho được nhịp cầu quan hệ sâu chắc với thiên nhiên, với cội cây trước mặt, với bụi, với hoa, với cỏ, và với đám mây bay cuồn cuộn, thể thời ta sẽ không bao giờ sát hại bất kỳ một ai vì bất cứ lý do gì. <br />
<br />
Sát sanh có tổ chức là chiến tranh, và dù ta có biểu tình chống cuộc chiến tranh nào đó, nguyên tử, hoặc bất kỳ cuộc chiến tranh nào khác. Ta chưa từng biểu tình chống chiến tranh toàn diện. Ta chưa từng bao giờ tuyên bố rằng giết người là tội lỗi lớn nhất thế gian. <br />
<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Thứ hai, ngày 28 tháng 2, năm 1983 </span><br />
<br />
Ở trên cao độ 41 ngàn bộ, dọc dài suốt chuyến bay xuyên lục địa, nhìn xuống ta chỉ thấy những tuyết cùng tuyết, dặm dặm tuyết tuyết; từ núi sang đồi, khắp nơi tuyết phủ, sông nước băng băng. <br />
<br />
Tuyết lững thững, tuyết lang thang khắp cùng cõi đất. Tận phía trời xa, dưới vùng xa xăm của chốn, tuyết và băng phủ ngập ruộng đồng. Chuyến bay mười một giờ liền dài và mệt mỏi. Hành khách đang tán gẫu giết thì giờ. Sau lưng có một cặp nói năng không ngớt, không buồn đếm xỉa đến cảnh huy hoàng tráng lệ của những đồi cùng núi hy hữu kia, không màng ngó lui trông qua người khác. <br />
<br />
Hiển nhiên họ đang chìm đắm trong những suy tính, trong những lo âu và trong những lời lăng xăng lít xít. Cuối cùng, sau chuyến bay tẻ nhạt, an ổn, ta đáp xuống một thị trấn cạnh bờ Thái Bình Dương, giữa tiết đông hàn quạnh quẽ. Trải qua những giây phút nơi phố xá ồn ào náo nhiệt, ta bỏ lại sau lưng cái thành phố thô phù, đông đúc, tục tằn, gầm thét, cùng những dãy hàng phố quán bán những thứ đồ kiểu cọ như nhau. <br />
<br />
Ta bỏ tất cả những thứ đó lại sau lưng đương khi ta đảo dọc theo con đường xa lộ uốn quanh lưng bờ Thái Bình Dương xanh ngát, rẽ vào một con lộ nên thơ, lượn vòng qua những lũng đồi, lại được bao phen tái ngộ chạm chân ven bể; <br />
<br />
Và khi Thái Bình Dương chìm khuất phía sau, thì xa xa phía trước ẩn hiện đó đây quanh đồi nhấp nhô cao thấp là những làng mạc ruộng vườn, thanh bình, yên tịnh, tràn đầy đức hạnh diệu kỳ của hương quê; vượt qua chốn đó thời cuối đường là tiến vào thung lũng. <br />
<br />
Từng trú ngụ ở đó có đến sáu mươi năm, vậy mà mỗi lần trở lại thung lũng, là mỗi lần sững sờ kinh ngạc. Nó lặng lẽ như chưa từng tiếp giáp thế nhân. <br />
<br />
Ta bước vào thung lũng như vào trong một cái chén vành khổng lồ, một tổ chim. Rời khu làng nhỏ, ta tiến dần lên độ cao khoảng 1 ngàn 4 trăm bộ, dọc theo đường là hàng hàng lớp lớp dẫy cam vườn tược. Không gian tẩm ngát hương cam. <br />
<br />
Toàn vùng thung lũng thấm đượm mùi hương. Hương len vào tim, ngập cả hồn, phủ khắp châu thân. Sống giữa vùng hương hoa như thế, kéo dài có hơn ba tuần lễ, gây nên một cảm nhận vô cùng hy hữu. Và cảnh tịch nhiên nơi các dãy núi có ra một điều trọng vọng. <br />
<br />
Mỗi lần đứng ngắm những dãy đồi, ngọn núi cao, có hơn 6 ngàn bộ, là mỗi lần ta cứ mãi sững sờ không ngờ trên dương gian lại có ra chốn quê hương như thế. <br />
<br />
Mỗi lần ta đến với thung lũng lặng lẽ, thanh bình này, dường như ở đấy có một niềm cô liêu rất lạ, một niềm tịch lặng thẳm sâu cùng sự lan tràn cùng khắp của sóng thời gian ngưng nghỉ. <br />
<br />
Người ta đã từng bao phen tìm cách khai thác, hủy hoại thung lũng, nhưng nó đã được bảo tồn. Và những ngọn núi vào buổi sáng hôm ấy sao mà đẹp lạ. Ta gần như có thể chạm vào thân nó được. <br />
<br />
Cái nét hùng vĩ, cái hồn vĩnh cữu như đang trú ngụ trong chúng. Rồi ta lặng lẽ bước vào căn nhà ta đã từng ở đó hơn sáu mươi năm qua, cái khung cảnh, cái bầu khí, chứa đựng, nếu ta có thể dùng đến chữ, thánh thiện; Ta có thể cảm nhận được nó. Ta có thể gần như chạm vào thân nó. <br />
<br />
Trời đang ở mùa mưa, trong vùng mưa nhiều, nên tất cả các ngọn đồi và trên những lõm núi cỏ mọc phủ xanh tươi, tràn đầy, sung mãn -- trái đất nở nụ cười ý vị, với một vài thâm cảm như nhiên về cuộc tồn sinh hiện hữu của chính nó. <br />
<br />
"Ngài đã bao lần nói rằng tâm trí, hoặc nếu ưng ý thì dùng chữ, trí óc, cần phải yên tịnh, cần phải trút bỏ tự thân toàn bộ tri kiến hay kiến thức tích tập bấy lâu, <br />
<br />
Chẳng những là nhằm giải thoát mà còn để nhìn nhận ra một sự kiện không thuộc thời gian, hay tư tưởng, hay bất kỳ phạm trù hành động nào. <br />
<br />
Ngài đã diễn nói điều này dưới nhiều cung cách khác nhau trong hầu hết các buổi thuyết giảng, và tôi đã cảm thấy vô cùng khó khăn, chẳng những trên phương diện lãnh hội chiều sâu của vấn đề, mà còn khốn đốn luôn trong việc cảm nhận cái rỗng rang tịch lặng, nếu tôi có thể dùng chữ ấy. <br />
<br />
Tôi chưa từng bản thân thể nhập điều đó. Tôi đã dùng mọi cách để tâm trí ngừng vọng động, không để bị xâm chiếm hết chuyện này đến chuyện khác, chính sự choáng ngập này đã tạo ra muôn vấn đề nan giải. Sống ở đời, khó ai thoát khỏi nó. Đời sống hàng ngày của chúng ta là như thế: buồn tẻ, chuyện trò đổi trao trong gia đình, và nếu không nói chuyện với nhau thì đã có ti-vi, sách báo choáng chỗ. Tâm trí dường như lúc nào cũng đòi hỏi phải được lấp đầy, bận bịu hết chuyện này sang chuyện khác, hết tri kiến này đến kiến giải nọ, hết tác tạo này sang tạo tác khác với dòng tư tưởng chuyển xoay không ngừng nghỉ." <br />
<br />
"Như đã nói rõ, tư tưởng không thể bị chận đứng bởi nỗ lực ức chế, bởi sự cương quyết của ý chí, hoặc bởi dục vọng sục sôi muốn thể nhập cái trạng thái rỗng rang tịch lặng." <br />
<br />
"Tôi chợt thấy mình cay đắng não nề cho cái mà tôi nghĩ, tôi cảm được, là thực, cái mà tôi muốn có, nhưng bấy nay cứ mãi vuột khỏi tầm tay. <br />
<br />
Tôi đã đến, như bao lần đã đến, để được hầu truyện cùng ngài: tại sao trong đời sống hàng ngày của tôi, trong cuộc mưu sinh thường nhật của tôi, đã không có sự ổn định, sự tồn tại lâu dài của tịch lặng? Tại sao nó không có trong đời sống của tôi? Tôi đã bao lần tự hỏi tôi phải làm gì đây? Rồi tôi cũng nhận ra rằng tôi khó có thể cục cựa gì được, hoặc nói cho chính xác hơn hết là tôi hoàn toàn chẳng làm gì được cả. Nhưng nó cứ đeo theo trù yếm. Tôi muốn yên mà nó chẳng buông tha. Phải chi cho tôi được một lần chứng nhập, thời kinh nghiệm đó cũng đủ dưỡng nuôi tôi, thời ức niệm đó sẽ mang lại nhiều ý vị cho cuộc đời vốn dĩ xiết bao là bạc bẽo.<br />
<br />
Thế nên tôi tìm đến để xin hiểu: tại sao cái tâm trí này -- có lẽ tốt hơn là nên dùng chữ khối óc -- cứ mãi luôn đòi hỏi là nó lúc nào cũng phải luôn bận bịu?" <br />
<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Thứ ba, ngày 10 tháng 3, năm 1983 </span><br />
<br />
Bữa hôm đó, đang khi đi dạo trên con đường rừng hẻo lánh, xa tiếng ồn, xa nền văn minh tàn nhẫn, gian trá, tục tằn, xa tất cả những gì do thế nhân tạo tác, liền khi đó chợt có ra niềm tịch lặng vô biên, ấp ủ muôn loài, thành khẩn, diệu vợi và tràn đầy âm thanh của trái đất. <br />
<br />
Trong lúc lặng lẽ đi, tránh quấy rầy cảnh vật chung quanh, những bụi cỏ, lùm cây, những chú dế và những cánh chim, đột nhiên ở một khúc quẹo, có hai con thú rừng nho nhỏ đang gùn ghè cãi vả, đánh nhau trong cái thế giới tí hon của chúng. Một bên ra công đánh đuổi, một bên tìm phương đánh chiếm cái hang bé tí. Cuối cùng thì chủ hang keo này thắng cuộc, kẻ xâm lăng thất bại chạy mất. <br />
<br />
Lại có ra niềm tịch lặng, một niềm cô liêu thăm thẳm. Ngó lên, con đường vươn tới tận núi cao, bên lề thác nước róc rách thong dong đổ; một vẻ đẹp muôn ngàn, sang trọng vô biên, không phải thứ sang trọng bầy biện bởi loài người đầy ngạo mạn và rỗng tuếch. <br />
<br />
Con thú rừng nhỏ bé tự đồng hóa bản thân vào chỗ ở của nó nào khác chi loài người. <br />
<br />
Ta luôn tìm cách đồng hóa bản thân vào giống nòi, vào văn hóa, vào những gì ta tin cậy, vào những đấng thần bí, hoặc đấng cứu rỗi, hay đấng siêu phàm nào đó. Đồng hóa dường như đã biến thành tính tự nhiên của con người. Rất có thể ta đã bẩm thụ cái tính này từ con thú nhỏ bé kia. Ta tự hỏi tại sao lại có ra cái tâm khao khát, mong cầu được đồng hóa. Ta có thể hiểu và chấp nhận sự đồng hóa vào những nhu cầu vật dụng cá nhân cần thiết như: nơi cư ngụ, quần áo, thức ăn ...v...v... Nhưng ở nội tâm, cái thế giới ẩn sau da thịt, ta đã tìm cách đồng hóa thân phận vào quá khứ xa xưa, vào truyền thống, vào một hình ảnh kiêu kỳ lãng mạng nào đó, hoặc một thần tượng nổi tiếng đó đây. <br />
<br />
Đương nhiên, ở đồng hóa, trong đó có một cảm giác đảm bảo, an toàn, một cảm giác tùy thuộc và chiếm hữu. Nó tạo ra một cảm giác an ổn lớn lao. Và người ta sẵn sàng đón nhận an ổn dưới bất kỳ sắc áo ảo tưởng nào. Rõ ràng là, con người hiện đang cần rất nhiều ảo tưởng. <br />
<br />
Xa xa có tiếng cú gọi. Phía bên kia thung lũng vọng lại tiếng đáp khàn khàn. Trời còn tờ mờ sáng, tiếng náo nhiệt của ngày chưa trổi dậy, vạn vật còn lim dim. Có một thứ gì kỳ lạ, thánh thiện cuối chân trời nơi vầng dương trú ngụ. Có một lời nguyện, một tiếng kinh cầu đón buổi bình minh, đón tia nắng đầu lạ lùng vắng lặng. <br />
<br />
Buổi ban mai hôm ấy, cánh nắng như khép lại, không một làn gió thoảng, và cây trái, cây rừng, bụi cây, luống cỏ thì bất động, lặng yên, như mong đợi. <br />
<br />
Hẳn đang đợi chờ ánh dương lên. Rất có thể chừng nửa giờ nữa mặt trời mới mọc, và bình minh đang dần lan khắp cõi đất với sự bất động nhiệm mầu. <br />
<br />
Dần hồi, từ tốn, đỉnh núi càng lúc càng rực sáng, mặt trời đang chạm vào thân nó, vàng ửng, thanh tao, còn lớp tuyết thì trắng trong, vô nhiễm ánh buổi ngày. <br />
<br />
Đang khi lên núi, bỏ lại sau lưng những con đường làng li ti phía dưới, tiếng địa giới chuyển mình, tiếng dế, tiếng chim cút, hoà cùng tiếng của các loài chim khác bắt đầu cất tiếng hát chào mừng buổi bình minh, ngân nga vang hót, cử hành buổi lễ hội của ngày. Đương khi mặt trời mọc, ta là phần thể thân của ánh sáng ấy, và đã bỏ lại sau lưng tất cả những gì tư tưởng từng tạo dựng. Ta quên bẵng mất bản thân. Tâm thức trút giũ sạch trơn những phấn đấu và sầu hận. <br />
<br />
Đang lúc đi, lúc trèo, không lúc nào lại có cái cảm giác cách ngăn, không có ngay cả cái cảm giác là người. Lớp sương đục buổi mai đang tụ về thung lũng, và lớp sương đục đó chính là ta, càng lúc càng dầy đặc, càng lúc càng cuồng quay thành những phù phiếm, xa hoa, lãng mạng, thành những mơ hồ điên đảo của đời ta. <br />
<br />
Đường xuống núi mất một lúc khá lâu. Có tiếng thỏ thẻ của gió, tiếng rỉ rả của côn trùng, tiếng gọi đàn của chim muông. Xuống đến nơi thì lớp sương mù cũng đã tan. Nào là phố xá, quán hàng, cảnh lộng lẫy của buổi rạng đông đang biến đi mau chóng. Và ta bắt đầu trở lại với lối mòn thường nhật, kẹt cứng trong thói lề nghiệp nghề, trong tương tranh giữa người với người, trong chia rẽ của đồng hóa, tập đoàn, trong phân ranh của ý hệ, chủ nghĩa, trong mưu tính dự trù cho chiến chinh, trong niềm đau nội tại và trong bể khổ của loài người... <br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Trích từ "Krishnamurti to Himself, His Last Journal", bản dịch của Van Do</span>]]></content:encoded>
		</item>
	</channel>
</rss>