Chủ đề ngẫu nhiên: Yoga and Drinking-Hoả Tà Nương
Đánh giá chủ đề:
  • 0 Votes - 0 Average
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
Những điều chưa biết về nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp
#1
Người đời nhớ đến tên tuổi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp với bài thơ Chùa Hương nổi tiếng. Nhưng ít ai biết rằng người thi sĩ tài hoa ấy là con trai của nhà báo, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh và là một cây bút tài năng. Tiếc rằng cuộc đời đoản mệnh, ông vĩnh biệt cõi trần khi mới ở tuổi 24, để lại cho hậu thế một tập thơ mỏng mảnh duy nhất với nhan đề Ngày xưa...

Hôm qua đi chùa Hương/ Hoa cỏ mờ hơi sương/ Cùng thầy me em dậy/ Em vấn đầu soi gương...” - Mỗi khi đọc lại những câu thơ này tôi lại nhớ tới một kỷ niệm ở Paris, vào giữa những năm 90 của thế kỷ trước. Hôm đó, trong quầy bar ở tầng hầm ngôi nhà rất sang trọng tại ngoại ô thủ đô Pháp của TS Việt kiều Nguyễn Văn Tuyên (nay đã thành quá cố), diễn ra một buổi ca nhạc thính phòng của các nghệ sĩ Việt với những người bạn.

Có mặt hôm đó là cố NSND Lê Dung, NSND Quang Thọ, pianist Hà Ngọc Thoa từ Hà Nội tới; nhạc sĩ Phạm Duy từ Mỹ sang; nhạc sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc Trần Văn Khê cùng con trai và con dâu của ông là nhạc sĩ Trần Quang Hải và ca sĩ Bạch Yến, những người Việt cư trú tại Paris...

Đấy là khi nhạc sĩ Trần Văn Khê vừa mới từ bệnh viện về sau một ca phẫu thuật khá nặng nên trông sắc mặt ông còn xanh xao lắm. Ấy vậy mà trong tình bằng hữu, nhạc sĩ Trần Văn Khê đã đứng dậy, gạt đi mọi nỗi mỏi mệt, hát lại ca khúc do chính ông sáng tác từ hơn nửa thế kỷ trước, bài hát Chùa Hương phổ thơ của Nguyễn Nhược Pháp. Vốn quen nghe ca khúc rất được phổ biến rộng rãi do ca sĩ Trung Đức phổ nhạc và luôn cảm thấy cấn cá khi cô gái quê của Nguyễn Nhược Pháp được cho “đi đôi guốc cao cao” để leo lên chùa Hương, tôi vừa thích thú vừa kinh ngạc khi thấy thơ Nguyễn Nhược Pháp được nhạc sĩ Trần Văn Khê chuyển thành ca khúc chuẩn mực và dân gian đến thế: thơ không bị tầm thường đi bởi những câu chữ thêm vào, mà giai điệu bên trong của thơ được phát huy tới mức tối đa. Nhạc sĩ Trần Văn Khê đã biểu diễn ca khúc này rất tuyệt vời: khi hát tới những đoạn đò đi, ông đã làm động tác chèo đò thực ngoạn mục, khó mà có thể hình dung được trước đó không lâu ông đã gần như kiệt sức vì ca phẫu thuật. Dường như những câu thơ trẻ trung, nhí nhảnh mà thấm thía của Nguyễn Nhược Pháp đã thổi vào ông thêm sinh khí...

Thực tiếc là ở Việt Nam hôm nay, ít người được nghe bài hát đó của nhạc sĩ Trần Văn Khê! Và cũng thực tiếc là hôm nay ở Việt Nam, chúng ta cũng không biết được gì nhiều về thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp, một tài hoa yểu mệnh.

Giỏ nhà ai, quai nhà nấy


Nguyễn Nhược Pháp sinh ngày 12/12/1914 ở Hà Nội. Chàng là con trai của một trong những cây bút có lẽ là vạm vỡ vào loại hàng đầu nước ta trong thế kỷ XX, nhà văn, nhà báo, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936), người có quê là làng Phượng Dực, Thường Tín (nay là làng Phượng Vũ, xã Phượng Dục, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây). Ông Vĩnh là một nhân vật kỳ thú của làng viết nước ta, còn chưa được hậu thế nhận thức đầy đủ. Con một người nông dân nghèo, sinh ra vào thời nước mất nhà tan, chỉ bằng trí tự thiên phú và lao động đến kiệt sức của mình, ông Vĩnh đã tạo dựng nên được một gia tài chữ nghĩa vô cùng đồ sộ mà ngay cả những người đồng thời, dù không đã đồng quan điểm với ông, cũng phải nể vì.

Ông Vĩnh từng dịch nhiều tác giả Pháp cổ điển sang Việt văn, trong đó có thơ La Fontaine mà bài phổ cập nhất có lẽ là bài Con Ve và con Kiến... Ông dịch Truyện Kiều của Nguyễn Du sang tiếng Pháp, rồi dịch cả những tác phẩm tiếng Hán như Tiền Xích Bích, Hậu Xích Bích sang Pháp ngữ... Ông còn là một nhà báo vào hàng gạo cội của những thập niên đầu thế kỷ XX, người góp công gây dựng nên nền báo chí Việt Nam khi đó. Theo hồi ức của nhà thơ Nguyễn Vỹ, ông Vĩnh “rất trung thực, không nịnh ai mà cũng không ưa ai nịnh mình, không tùy thời, mà chỉ tùy mình...”.

Trong con mắt của nhiều người đương thời, ông Nguyễn Văn Vĩnh là tấm gương lao động nghề nghiệp đến quên mình. Nhà văn Vũ Bằng nhớ lại: “Ông Vĩnh làm việc như con trâu cày, không mấy khi muốn phiền người khác. Có một lần, tôi đã được mục kích một cảnh như sau: không biết giận gia đình gì đó, ông lên một căn gác nằm khèo, nhờ ông Tụng (bác sĩ, nhân viên đắc lực của Saigon Công thương, chuyên lo chạy tiền vay cho ông Vĩnh – TG) mua cho một mẹt bún chả ăn trừ cơm, rồi viết luôn một bài xã thuyết cho Annam Nouveau, thảo một thư cho toàn quyền Pháp đưa xuống dưới nhà đánh máy luôn, dịch miệng “Têlêmác phiêu lưu ký” cho Đông Lĩnh Dương Phượng Dực ngồi ám tả, trong khi chính ông lại quay sang nói chuyện với ông Tụng về chuyện thống sứ Pháp “có ý muốn giúp ông tiền bất cứ lúc nào, bao nhiêu cũng được”, miễn là ông tạm gác ý kiến đả kích Pháp và ngưng chống nhà vua... Cho mãi đến tận bây giờ, tôi vẫn chưa thấy có ai viết báo nhiều loại khác nhau một cách tài tình và nghĩa lý như ông Vĩnh. Ông viết tin, viết xã thuyết, làm thơ, khảo cứu, phóng sự (Volonté Indochinoise) và dịch tiểu thuyết thì quả không chê được....”.

Là một người lao động sáng tạo như thế, lại ở thời nước ta còn theo tập tục phong kiến, dĩ nhiên ông Vĩnh là người đào hoa. Ông có tới ba vợ. Người vợ thứ hai chỉ sinh được một người con là Nguyễn Nhược Pháp. Năm thi sĩ của chúng ta mới lên hai tuổi, mẹ chàng vì đau đớn bởi chồng muốn cưới vợ ba nên đã tự vẫn. Thế là Nguyễn Nhược Pháp phải mồ côi mẹ từ đó...

Sống với một người cha tính tình có lẽ là phóng túng, cậu bé mồ côi mẹ Nguyễn Nhược Pháp mặc dù được chăm lo về vật chất nhưng chắc là trong thẳm sâu tâm hồn chàng luôn có một nỗi trống vắng nào đó. Chàng được cha cho ăn học đàng hoàng, đậu tú tài rồi vào Trường cao đẳng Luật khoa. Tuy nhiên, giống như cha, chàng không thích đi làm quan mà chỉ mê mải văn thơ báo chí. Ngoài thơ, Nguyễn Nhược Pháp còn viết truyện ngắn và kịch... Khác nhiều bạn cùng làng văn thuở đó, Nguyễn Nhược Pháp sống rất hồn nhiên và trong sáng: chàng không hề nghiện ả đào và thuốc phiện!

Hóm hỉnh nhìn đời

Ông Nguyễn Văn Vĩnh là một người cao lớn, bệ vệ, nhưng Nguyễn Nhược Pháp chỉ cao có 1,52 m thôi, giống như những người bạn mà chàng hay giao lưu như Nguyễn Vỹ, Phạm Huy Thông... Thế nhân biết chàng như một người lúc nào cũng hay mủm mỉm cười, cái miệng như móm. Chàng cũng là người hay nói, niềm nở, lịch thiệp với mọi người. Đặc biệt, ai cũng quý chàng vì khiếu khôi hài và giọng điệu “rủ rỉ như cô gái bẽn lẽn trên đường đi chùa Hương”.

Người làm sao, thơ làm vậy, tập Ngày xưa xuất bản năm 1935 của chàng thể hiện rất rõ một phong cách Nguyễn Nhược Pháp vô tiền và khoáng hậu trong thơ Việt Nam. Đây là tập thơ chỉ có trên dưới chục bài, toàn viết về những gì “vang bóng” từ lâu lắm rồi nhưng đã làm nên một kỳ tích mà Hoài Thanh và Hoài Chân đã nhận xét trong cuốn Thi nhân Việt Nam: “Thơ in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược Pháp”.

Bằng con mắt già trước tuổi của một người luôn giữ được cái nhìn non xanh vào cuộc sống, Nguyễn Nhược Pháp đã vẽ nên được diện mạo thời xưa đầy mơ mộng, hóm hỉnh và trìu mến... Bài Sơn Tinh, Thủy Tinh mà chàng viết tặng người anh cùng cha khác mẹ Nguyễn Giang là một thí dụ. Chàng đã kể lại tích cổ bằng những chi tiết thực lôi cuốn. Thí dụ như cách hành xử của Mỵ Châu khi chứng kiến cảnh Sơn Tinh và Thủy Tinh tỉ thí với nhau:

Mỵ Nương kinh hãi ngồi trong kiệu,
Bỗng chợt nàng kêu mắt lệ nhòa
(Giọng kiêu hay buồn không ai hiểu,
Nhưng thật dễ thương): “Ô! Vì ta!”.

Khổ kết bài thơ cũng đầy tinh tế và vui tính:
Thủy Tinh năm năm dưng nước bể
Giục núi hò reo đòi Mỵ Nương.
Trần gian đâu có người dai thế,
Cũng bởi thần yêu nên khác thường.

Điểm sáng nhất trong tập Ngày xưa có lẽ là bài Chùa Hương, thiên ký sự của một cô bé ngày xưa. Nhà thơ Nguyễn Vỹ kể lại: “Bài thơ Chùa Hương là bài khá nhất trong tập thơ Ngày xưa, có một lai lịch kỳ thú không ngờ. Chuyến đi Chùa Hương ấy, Nhược Pháp đi với tôi và hai cô gái nữa, đều là nữ sinh cả. Hai cô mang theo hai máy chụp hình, còn Nhược Pháp và tôi đều đi tay không. Trèo lên đến rừng mơ bỗng chúng tôi gặp một bà cụ vừa bước lên đèo, đường gồ ghề lởm chởm, vừa niệm: “Nam mô cứu khổ cứu nạn Quán Thế âm Bồ tát...”. Cô gái quê có lẽ là con của cụ, cũng đang niệm câu ấy nhưng nửa chừng trông thấy chúng tôi là hai chàng trai nhìn cô trân trân thì cô bẽn lẽn làm thinh không niệm Phật nữa. Cô đang đọc: “Nam mô cứu khổ cứu nạn...” rồi cô im. Đôi má cô đỏ bừng, cô cúi mặt xuống. Hai đứa tôi hỏi cô: “Tại sao trông thấy chúng tôi, cô không niệm Phật nữa? Cô gái quê có vẻ đẹp ngây thơ bỗng tỏ vẻ bối rối muốn khóc”.

Không ngờ hai cô bạn nữ sinh lên chụp được tấm hình hai đứa tôi đang hỏi chuyện cô gái quê, rồi có lẽ không bằng lòng chúng tôi nên hai cô lén đi trước, và đi lúc nào chúng tôi không hay biết, cũng chẳng nói năng gì với chúng tôi cả, bỏ chúng tôi ở lại với cô gái quê. Chúng tôi mê nói chuyện với cô này, một lúc sực nhớ lại hai cô bạn, chúng tôi vội vàng đi theo nhưng không kịp. Hai cô đã lên đến chùa Ngoài, rồi lên đến chùa Tiên Sơn, lẫn trong đám đông người, biến mất dạng. Đêm ngủ trong chùa Hương, sáng hôm sau ra về, chúng tôi mới gặp lại hai cô bạn đồng hành. Tôi phải xin lỗi mãi, nhưng Nhược Pháp cứ tủm tỉm cười không nói.

Về Hà Nội, hai hôm sau, Nhược Pháp đem đến tôi bài thơ Chùa Hương, mà trong bản chép ra đầu tiên Nhược Pháp đề là Cô gái Chùa Hương. Nhược Pháp lấy cuộc gặp gỡ lý thú của chúng tôi với có gái quê làm đề tài và tưởng tượng thêm ra, thành bài thơ đẹp, giọng ngây thơ, y như cô gái chùa Hương hôm ấy...

Trong tuần ấy, anh góp các bài thơ của mình, thành một quyển. Anh đưa tôi và hỏi:
- Có nên xuất bản không?
- Nên!
- Nhưng tiền đầu? - Nhược Pháp cười móm mém.
- Xin ông cụ.
- Thôi, tôi mà đưa ông cụ xem cái của nợ này, thì chắc chắn là ông cụ sẽ vứt nó vào sọt rác.
- Đưa bà cụ vậy.
- Ừ, phải đấy!

Một tháng sau, quyển thơ Ngày xưa ra đời. Sách in xong mà Nguyễn Nhược Pháp vẫn rụt rè, chưa dám đưa cụ Nguyễn Văn Vĩnh xem, chỉ sợ cụ vứt vào sọt rác”.

Nghe nói, sinh thời Nguyễn Nhược Pháp có yêu một thiếu nữ tên là Thanh nhưng cuộc gặp gỡ tình cờ ấy cũng đã không mang lại được một cái gì hiện hữu cho cuộc đời thật của chàng. Người thơ, yêu cũng như sương khói, chỉ có những suy tư, cảm xúc được biến thành vần điệu là ở lại lâu dài với hậu thế mà thôi. Nguyễn Nhược Pháp qua đời vào ngày 19/11/1938. Thi nhân đôi khi cũng như danh tướng và mỹ nữ, “bất hứa nhân gian kiến bạc đầu”

Theo Hoàng Nguyên (CAND)
Bên kia thung lũng tôi là núi
Ngó xuống nhân gian vực thẳm buồn.

ღღღღღTài sản của lanhdien (View All Items) ღღღღღ
Reply
#2
Tài năng -vắn số cũng giống như nhà thơ Hàn mặc Tử
" Mỹ nhân tự cổ như danh tướng
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu."


ღღღღღTài sản của kanguru (View All Items) ღღღღღ
Reply
Đã cảm hothiethoa
#3
Giai nhân trong mộng của thi sỹ Nguyễn Nhược Pháp


Nhà thơ Nguyễn Vỹ trong tập Văn – thi sỹ tiền chiến đã không ngần ngại bày tỏ: “Nếu không có người đẹp Đỗ Thị Bính sẽ không có một Ngày xưa làm rạng danh chàng thi sỹ đa tình”…


Cho nên, để biết được nhan sắc kiều mỵ của một trong những “Hà thành tứ mỹ” xưa chỉ cần đọc tập thơ Ngày xưa cũng đã đủ hình dung ra chân dung của giai nhân Đỗ Thị Bính.

Người đẹp may mắn

So với số phận bi thảm của giai nhân Vương Thị Phượng, cô Síu Cột Cờ… cuộc đời của giai nhân Đỗ Thị Bính được xem là khá may mắn và tròn trịa. Cô là một trong 19 người con của nhà tư sản Đỗ Lợi – nhà thầu khoán vào loại có “máu mặt” của Hà Nội những năm 1930 và là một trong những thành viên của dòng họ Đỗ “Bá Già” (thôn Tiên Lữ, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc).

Sinh ra trong một gia đình nề nếp, lại được thụ hưởng nền giáo dục phong kiến cũ, những chuẩn mực của vẻ đẹp thanh lịch của đất Tràng An được giai nhân Đỗ Thị Bính hấp thu đầy đủ. Ở nàng, người ta thấy toát lên một vẻ đẹp vừa đoan chính, u buồn, vừa khôn khéo, dịu hiền lại vừa trầm tĩnh, trí tuệ. Phụ mẫu của nàng hết sức cưng chiều cô con gái, tất cả những môn học của nàng đều được cha mẹ mời riêng thầy giáo về nhà để dạy dỗ.

[Hình: 1335409722-nguyenhuocphap-tam-eva2.jpg]

Chân dung “người đàn bà áo đen” Đỗ Thị Bính. (ảnh internet)

Cuộc sống của tiểu thư Bính trôi qua êm đềm trong ngôi biệt thự theo lối kiến trúc Pháp cổ kính. Sinh thời, nàng có thói quen mặc đồ đen, áo dài tay hay áo ngắn tay đều là những gam màu đen sang trọng. Màu đen làm cho vẻ đẹp của nàng thêm vẻ huyền bí, tôn thêm làn da trắng, sự sang trọng và nghiêm trang của người đẹp. Có lẽ cũng vì lý do này mà thi sỹ Nguyễn Nhược Pháp đã gọi nàng là “người đàn bà áo đen”.

Sau khi lập gia đình với chàng kỹ sư Bùi Tường Viên – em trai luật sư Bùi Tường Chiểu, giai nhân Hà thành sống một cuộc đời bình lặng, không tai tiếng. Khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ, cũng như những người khác, nàng hoạt động trong phong trào bình dân học vụ rồi theo kháng chiến, tản cư lên huyện Sơn Dương – Tuyên Quang. Mặc dù cuộc sống khó khăn mọi bề, nhưng bằng sự khéo léo của một người phụ nữ, giai nhân đã chèo chống gia đình qua cơn bĩ cực.

[Hình: 1335409722-nguyenhuocphap-tam-eva1.jpg]

Người dân Hà Nội xưa thường nhắc đến “tứ mỹ Hà thành”, gồm: cô Phượng Hàng Ngang, cô Síu Cột Cờ, cô Nga Hàng Gai và cô Bính Hàng Đẫy. (ảnh internet)

Cũng trong thời gian sống ở Tuyên Quang, giai nhân Hà thành đã giúp đỡ những người dân ở đây bằng nghề làm thuốc của mình. Bà con vùng Sơn Dương yêu mến gọi nàng là “bà tiên kháng chiến” hay “bà ké kháng chiến” với tình cảm tri ân xuất phát từ tận đáy lòng. Sau khi kháng chiến thành công, nàng trở về Hà Nội và tiếp tục nuôi sống gia đình bằng tài nghệ khéo léo về ẩm thực của mình.

Nguồn cảm hứng của thi sỹ Nguyễn Nhược Pháp

Dù chưa một lần gặp mặt nhưng tấm chân tình của chàng thi sỹ tài hoa Nguyễn Nhược Pháp đã làm cho giai nhân Hà thành động lòng. Những bài thơ như “Sơn Tinh, Thủy Tinh”, “Chùa Hương”, “Tay ngà” đều phảng phất dáng hình của Đỗ Thị Bính. Tuy nhiên, mối tình này không đi đến kết cục có hậu nào bởi Nguyễn Nhược Pháp mất vào năm 24 tuổi vì bệnh lao.

Người đẹp Hà thành đã đi vào hững vần thơ trong sáng, đẹp đến thuần khiết của con trai nhà tư sản Nguyễn Văn Vĩnh. Chàng thư sinh nhỏ bé cao 1.52m đã thầm thương trộm nhớ giai nhân Đỗ Thị Bính. Khi ấy, Nguyễn Nhược Pháp đang làm việc tại tòa báo L’Annam nouveau. Ngày nào, chàng thi sỹ cũng kiếm cớ đi ngang nhà người đẹp để được nhìn thấy nàng Giai nhân cũng biết chàng trai nhỏ nhắn, thư sinh ấy “cảm”mình.

[Hình: 1335409722-nguyenhuocphap-tam-eva.jpg]

Sắc đẹp của Đỗ Thị Bính đã trở thành nguồn cảm hứng cho thi sỹ bạc mệnh Nguyễn Nhược Pháp. (ảnh internet)

Một đôi lần, hai người đã đứng nói chuyện cùng nhau qua rào cây tầm xuân hữu tình và lãng mạn. Nhưng rồi, những nhớ nhung, yêu thương ấy, mỗi người chỉ lưu giữ thành một bí mật của riêng mình. Giai nhân để nhớ thương vào trang sách, vào những buổi sáng đi tưới cây hay đi dạo trong vườn nhà, để đợi chờ một ánh mắt quen thuộc thấp thoáng xuất hiện. Còn nhà thơ gửi yêu thương của mình vào những vần thơ trong sáng. Mười hai thi phẩm của Ngày xưa, vẻ đẹp mà Nguyễn Nhược Pháp vận vào cho các nhân vật trữ tình của mình, đó chính là vẻ đẹp của giai nhân Đỗ Thị Bính.

Sắc đẹp ấy đã làm ngẩn ngơ cả tâm trí chàng thi sĩ điển trai nhưng gầy guộc Nguyễn Nhược Pháp, đến mức, cả trong thơ, chàng cũng không kìm được tiếng thốt nhớ nhung:”Mê nàng, bao nhiêu người làm thơ”…Vẻ đẹp của mỹ nhân được Nguyễn Nhược Pháp đưa vào thơ của mình, mỗi bài là một nét đẹp của người con gái khuê các áo đen.

“Tình yêu không lời” của đôi nam nữ này cuối cùng cũng bị hai gia đình phát hiện ra. Lúc ấy, cụ thân sinh ra Nguyễn Nhược Pháp gặp nạn, đến mức phải khuynh gia bại sản. So với gia đình người đẹp Đỗ Thị Bính, chàng thi sĩ chỉ có bàn tay trắng. Về môn đăng hộ đối, điều đó đã là một cản trở. Mặt khác, lòng tự trọng của Nguyễn Nhược Pháp lớn quá. Ông không dám mơ cao sang với một tiều thư khuê các, có danh phận Sự tự ti về thân phận của một đứa trẻ mồ côi mẹ năm hai tuổi càng làm chàng sống khép kín. Mối tình đầu sâu sắc và đơn phương đã trở thành niềm cảm hứng để Nguyễn Nhược Pháp có được Ngày xưa trọn vẹn, giúp chàng tỏa sáng trên văn đàn Việt Nam.

Nguyễn Nhược Pháp mất vào năm 1938 vì bệnh lao với mối tình câm lặng nhưng đầy thơ mộng. Chưa bao giờ nhận được lời yêu từ giai nhân Hà thành, nhưng với cả hai, đây lại là mối tình lớn. Giai nhân gửi nhớ thương vào những trang sách, còn nhà thơ gửi nhớ thương của mình vào những vần thơ trong sáng, tài hoa.

Năm 1992, giai nhân Đỗ Thị Bính qua đời ở bệnh viện Bạch Mai trong màu áo đen quen thuộc, kết thúc một cuộc đời bình lặng, một cuộc đời mà có lẽ được gọi là may mắn nhất đối với những giai nhân Hà thành lúc bấy giờ.



Yên Nguyễn
" Mỹ nhân tự cổ như danh tướng
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu."


ღღღღღTài sản của kanguru (View All Items) ღღღღღ
Reply
Đã cảm lanhdien , hothiethoa


Có thể liên quan đến chủ đề
Chủ đề: Tác giả Trả lời: Xem: Bài mới nhất
  Những mảnh vỡ của đêm Cận Nguyệt 21 4,914 29-08-2016, 11:15 PM
Bài mới nhất: Cận Nguyệt
  Những tháng ngày du côn hothiethoa 3 1,074 03-04-2015, 09:55 PM
Bài mới nhất: thangdiennhat
  Nguyễn Đức Sơn (Sơn Núi) - Một cõi phiêu bồng lanhdien 13 4,858 05-11-2014, 10:32 PM
Bài mới nhất: lanhdien
  Lớn lên để biết yêu thương kanguru 26 5,394 04-10-2014, 08:41 PM
Bài mới nhất: kanguru
  Những bài viết về Bùi Giáng (sưu tầm) lanhdien 49 19,757 01-10-2014, 06:07 PM
Bài mới nhất: lanhdien

Chuyển nhanh:


User(s) browsing this thread: 1 Guest(s)